Định giá doanh nghiệp kiểu “Real options” – thực mà không thực
Phương pháp định giá doanh nghiệp “real options evaluation” (tạm dich là:
“định giá theo khả năng lựa chọn trên thực tế”), ra đời trong những năm 80
của thế kỷ 20, nối dài thêm danh sách các phương pháp định giá doanh
nghiệp bấy giờ (định giá theo thu nhập, định giá qua so sánh đối chiếu và
định giá theo chi phí).
Chỉ trong một thời gian ngắn, phương pháp mới này đã giúp các doanh nghiệp và các chuyên
viên đầu tư giải được nhiều bài toán hóc búa tưởng chừng như không có lời giải trước đây, và
trở thành một phương pháp được nhiều chuyên gia đánh giá tài chính ưa thích.
Sức mạnh của option
Option (khả năng lựa chọn) là một dạng cổ phiếu gián tiếp. Điều này có nghĩa là thu nhập từ loại
cổ phiếu này lại phụ thuộc vào một loại cổ phiếu khác. Các loại cổ phiếu gián tiếp có khá nhiều.
Đặc tính chủ yếu của loại cổ phiếu này là người sở hữu chúng có quyền (nhưng không phải trách
nhiệm) mua hoặc bán chúng theo một mức giá định trước, được gọi là giá thực hiện “sự lựa
chọn”.
Cách suy luận theo “chủ nghĩa option” bắt nguồn từ ngành công nghiệp hóa dầu và đến nay, nó
đã lan sang và bén rễ vào lĩnh vực đánh giá đầu tư và định giá doanh nghiệp. Giá trị của một mỏ
dầu thường phụ thuộc vào trữ lượng dầu, hay còn gọi là “vốn” của nó. Song trữ lượng dầu lại là
một khái niệm hết sức mơ hồ. Và khi công ty bắt đầu khai thác mỏ dầu thì viễn cảnh tương lai
hầu như khá mịt mù: có thể, mỏ dầu đó sẽ mang lại một nguồn thu lớn trong nhiều năm liền,
nhưng cũng có thể đó sẽ là con số không to tướng!
Tuy nhiên, trong trường hợp này, không thể áp dụng được phương pháp đánh giá theo dòng tiền
(Discount Cash Flow - DCF) vốn là cách đánh giá truyền thống được ưa dùng. Bởi nếu tính theo
cách thông thường thì trong phần lớn trường hợp, kết quả sẽ là phủ định: khai thác các mỏ dầu
hầu như không có triển vọng gì! Song kết quả đánh giá này lại thường mâu thuẫn với thực tế, khi
nhiều chủ nhân của các mỏ dầu đã phát tài nhanh chóng chỉ trong “một ngày đẹp trời”.
Vậy nguyên nhân nằm ở đâu? Các chuyên gia giải thích rằng: vấn đề nằm ở chỗ phương pháp
DCF ban đầu được thiết kế để định giá cổ phiếu và trái phiếu. Nếu bạn là người sở hữu cổ phiếu
hoặc trái phiếu, bạn chỉ có thể ngồi đợi báo cáo kết quả kinh doanh hàng kỳ mà không có quyền
xen vào công việc quản lý. Cổ phiếu có thể tăng hoặc giảm giá sau một vài quyết định của ban
điều hành công ty được đưa ra mà các cổ đông không có quyền can thiệp.
phép giải mã những giả thiết này thành các con số.
Có thể miêu tả vắn tắt như sau: Công ty cần xác định ra một vài sự kiện quan trọng sẽ có thể
thay đổi căn bản giá trị của công ty trong trường hợp nếu chúng xảy ra. Chẳng hạn, thời điểm khi
giá vàng vượt ngưỡng $400 (năm 2004), và ngược lại, xuống dưới $250 (năm 1999). Từ những
giả thiết này, có thể dùng phương pháp DCF để tính ra giá trị của công ty. Sau đó, các chuyên
viên sẽ cần phải đánh giá khả năng xảy ra sự kiện này trong khoảng thời gian mong đợi. Chỉ số
đó sẽ được nhân lên với giá trị công ty đã được tính ra. Và như vậy, bạn đã có giá trị của công ty
tính bằng phương pháp real options. Con số này có thể cho các nhà đầu tư xem khi chào họ mua
công ty của bạn, và như vậy, mức giá bán sẽ cao hơn rất nhiều so với giá trị được tính bằng
phương pháp dựa trên tình hình thị trường hiện tại nhiều khi thường không mấy thuận lợi.
Có chút oan uổng khi bị lãng quên?
Chỉ vài năm trước đây, phương pháp đánh giá theo real options còn rất được quan tâm. Trong
thời kỳ bùng nổ Internet, chính phương pháp này đã được dùng để đánh giá các công ty dot-com.
Nhiều người lúc đó còn tưởng rằng kỷ nguyên mới đã bắt đầu và những phương pháp đánh giá
truyền thống đã có thể “về vườn”. Song khi những chiếc bong bóng Internet bắt đầu “xì hơi”, niềm
tin vào phương pháp đánh giá này cũng theo đó mà bay mất. Nhiều người đã buộc tội phương
pháp này là “thổi phồng hàng loạt các bong bóng – các công ty Internet” bấy giờ.
Hiện nay, sau khi cuộc khủng hoảng dot-com đã qua, nhìn lại phương pháp đánh giá real options,
phần lớn các chuyên gia đều chung ý kiến cho rằng, phương pháp này cho người đánh giá quá
nhiều tự do. Song khi người đánh giá là một chuyên viên độc lập và không có lợi ích gì liên quan
đến dự án này như các nhà sáng lập ra các công ty Internet hồi nào, thì hoàn toàn có thể sử
dụng phương pháp này và nó cho phép nhận được một kết quả đánh giá khá lạc quan. Còn nói
một cách khó nghe hơn thì nó đưa ra một kết quả “được thổi phồng một cách có hệ thống” (!)
Admin (Theo
www.bwportal.com
)