Báo cáo Công tác hoạch định chiến lược và xây dựng kế hoạch kinh doanh tại Công ty Mây tre XK Phú Minh - Hưng Yên - Pdf 84

Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP
(CT. MÂY TRE XUẤT KHẨU PHÚ MINH- HƯNG YÊN)
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Mây tre xuất khẩu
Phú Minh Hưng Yên.
1.1. Giới thiệu về Công ty
 Địa chỉ liên hệ:
- Tên Công ty: Mây tre xuất khẩu Phú Minh- Hưng Yên.
- Tên giao dịch quốc tế: Phú Minh Tattan, Bamboo export Co., LTD.
- Loại hình: Trách nhiệm hữu hạn.
- Địa chỉ: Khu CN Phố Nối B, Xã Nghĩa Hiệp, Huyện Yên Mỹ, Tỉnh
Hưng Yên.
- Tên Giám đốc: Nguyễn Văn Khiêm.
- Điện thoại: 0321.972.551
- Fax: 0321.975.550
- E- mail: [email protected]
- Văn phòng đại diện: 115B- Thụy Khê- Tây Hồ- Hà Nội.
- Được thành lập ngày 25/03/2002, giấy phép thành lập số 050200069 do
Sở Kế hoạch đầu tư Hưng Yên cấp ngày 28/2/2002.
 Các sản phẩm kinh doanh chủ yếu của Công ty:
- Khay tre đan, tre ghép, mây, guột, sứ ghép.
- Bát đĩa, lọ hoa bằng tre ghép.
- Bàn, ghế, kệ, giá, đồ dùng văn phòng, đồ gỗ nội thất bằng mây, gỗ.
- Đồ trang trí, lãng hoa, giỏ hoa mây, các sản phẩm sơn mài…
 Chức năng nhiệm vụ của Công ty:
- Chức năng: Chế biến hàng nông, lâm sản. Xuất khẩu máy móc, thiết bị,
hóa chất phục vụ sản xuất, nguyên vật liệu, chế biến gỗ và hàng thủ công mỹ
nghệ xuất khẩu. Kinh doanh nguyên vật liệu phi nông nghiệp, đồ dùng cá
nhân và gia đình.
- Nhiệm vụ của Công ty:
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh của Công ty theo

khi đường vành đai 3 và tiến tới là đường vành đai 4, 5 hoàn thành sẽ rút ngắn
đáng kể khoảng cách từ Hà Tây (thị trường cung cấp đầu vào chính) tới Công
ty.
Ngoài ra, việc đặt Công ty tại một địa điểm được coi là thị xã CN của
Tỉnh Hưng Yên, nơi tập trung dân cư đông đúc. Đây là một điều kiện rất
thuận lợi về nguồn lao động cung cấp cho Công ty, bởi công việc hoàn thiện
các sản phẩm thủ công mỹ nghệ không quá khó và cần một lượng lớn lao
động phổ thông .
Như vậy, có thể nói rằng công tác định vị của Công ty đã được thực hiện
rất tốt khi lựa chọn địa điểm đặt Công ty.
Ngay sau khi nhận được giấy phép đầu tư, tập thể những người sáng lập
Công ty mà đặc biệt là bác Giám đốc Nguyễn Xuân Khiêm đã cho tiến hành
san lấp mặt bằng, đầu tư xây dựng các hạng mục công trình hoàn chỉnh bao
gồm: các Xưởng sản xuất, Xưởng hấp sấy, Xưởng phun sơn, Kho chứa, Nhà
điều hành… (như sơ đồ bố trí sản xuất của Công ty ngoại trừ Xưởng bèo 3 và
Xưởng sản xuất mây tre 4). Chính việc đầu tư xây dựng đồng bộ về cơ sở vật
chất đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc tiến hành sản xuất tại Công ty sau
khi thành lập.
Những ngày đầu thành lập, do sự thiếu hụt về cán bộ quản lý, những
thành viên sáng lập đã xác định bổ xung những vị trí chủ chốt của Công ty
bằng hai nguồn: Thứ nhất, bổ nhiệm những người trong gia đình và người
quen có trình độ hoặc gửi đi học để nâng cao trình độ; thứ hai, tuyển mộ
những người có trình độ, bằng cấp và kinh nghiệm từ bên ngoài đáp ứng được
nhu cầu của Công ty.
Bằng việc xác định được hướng đi này mà Công ty đã nhanh chóng tạo
ra được một bộ khung các cán bộ quản lý, đáp ứng được nhu cầu nhân sự cấp
cao của Công ty. Đội ngũ này đã đảm bảo được độ tin cậy, trình độ và sự
năng động cần thiết trong giai đoạn đầu sau khi mới thành lập. Tất nhiên, việc
Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A
Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD

Chính điều này đã khiến cho việc triển khai các kế hoạch, cũng như các công
việc của Công ty trong giai đoạn đầu hết sức khó khăn.
Tuy nhiên, do có thâm niên công tác, tiếp xúc và làm việc lâu năm trong
ngành thủ công mỹ nghệ, lại là những người có trình độ và năng động, tập thể
ban lãnh đạo, mà đặc biệt là Giám đốc Nguyễn Văn Khiêm đã xác định được
các hướng đi phù hợp và cần thiết nhằm đưa hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty nhanh chóng đi vào ổn định.
Cụ thể, chỉ sau hơn 1 tháng đi vào hoạt động, các bộ khung tại các phòng
đã được lấp đầy, hai xưởng sản xuất mây tre 1 và 2 đã bắt đầu đi vào hoạt
động; các bộ phận tại xưởng hấp sấy, xưởng sơn và bộ phận kho đã có thể thể
sẵn sàng hoạt động. Không bao lâu sau đó số lao động cần thiết cho hoạt động
sản xuất của toàn Công ty nhanh chóng được tuyển chọn đầy đủ, đưa số lao
động toàn Công ty lên 112 người vào năm 2003, đảm bảo cho Công ty có thể
đáp ứng được những đơn hàng lớn của các khách hàng nước ngoài.
Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A
Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD
3
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
Với các doanh nghiệp khi mới thành lập, ngoài các khó khăn về tài
chính, con người, rồi cơ sở vật chất thì việc quảng bá, khuếch trương về sự ra
đời cũng như sản phẩm của Công ty là một điều không hề đơn giản. Vậy thì
Phú Minh đã làm gì để có thể thực hiện điều này, cũng như tìm kiếm đầu ra
cho sản phẩm sản xuất của Công ty. Xem xét vấn đề này, chúng ta quay lại
nhìn nhận đặc điểm của thị trường đầu ra của các loại sản phẩm thủ công mỹ
nghệ nói chung và các sản phẩm mây tre nói riêng_thị trường chủ yếu của các
sản phẩm này là cung cấp cho thị trường nước ngoài. Như thế thì, Phú Minh
làm thế nào có thể tìm kiếm được các đơn hàng, cũng như quảng bá thành
công được tên tuổi của mình với các bạn hàng.
Đầu tiên, chúng ta phải kể tới sự năng động và các mối quan hệ của bác
Giám đốc khi còn hoạt động tại Hiệp hội thủ công mỹ nghệ Việt Nam

Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A
Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD
4
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
Chỉ trong năm này doanh thu từ thị trường Châu Âu mà chủ yếu là 2 thị
trường Đức và Anh đã đạt con số trên 1.6 tỷ đồng. Đây quả thực là một thành
công rất lớn trong việc triển khai chiến lược mở rộng thị trường tiêu thụ của
Công ty. Để đánh giá tốt hơn việc triển khai kế hoạch thâm nhập thị trường
của Công ty trong giai đoạn này chúng ta có thể theo dõi thông qua bảng sau:
BẢNG 1: THỊ PHẦN CỦA CÁC THỊ TRƯỜNG TRONG TỔNG DOANH
THU (GIAI ĐOẠN 2003- 2005)
Thị trường XK
Năm
2003 2004 2005
Doanh thu
(1000đ)
TP
(%)
Doanh thu
(1000đ)
TP
(%)
Doanh thu
(1000đ)
TP
(%)
Đài Loan
7,184,65
5.0
7

.7
Mỹ x x
668,493.
7
6
.0
736,409.
7
5
.8
Các Thị trường
khác
346,25
7.0

3.7
334,246.
9

3.0
126,967.
2
1
.0
Tổng doanh
thu XK
9,326,17
8.0
10
0.0

trường rất lớn và đầy tiềm năng đó là thị trường Châu Âu (chủ yếu là Đức,
Anh) và thị trường Mỹ. Đáng ngạc nhiên hơn là chỉ trong năm đầu thâm nhập
vào thị trường Châu Âu, doanh thu do thị trường này mang lại là rất lớn, đạt
trên 1660 triệu đồng, vượt qua cả thị trường Nhật Bản để vươn lên vị trí thứ
hai về doanh thu từ các thị trường XK. Bên cạnh đó, cũng trong năm này thị
trường Mỹ cũng ghi nhận những thành công khi đạt con số 6% thị phần trong
tổng doanh thu XK. Cùng với việc mở rộng thị trường XK Công ty đã giảm
sự phụ thuộc vào thị trường chính là Đài Loan, nhưng đây vẫn là một thị
trường quan trọng, Công ty cần tiếp tục củng cố và duy trì nhằm đảm bảo
mức ổn định về doanh thu. Qua bảng chúng ta thấy mức doanh thu từ thị
trường Đài Loan liên tục giảm trong 3 năm này, đây cũng khiến chúng ta cần
lưu tâm.
Đánh giá chung về tình hình doanh thu XK của Công ty trong giai đoạn
này chúng ta cũng cần phải xét tới tốc độ tăng trưởng riêng của từng thị
trường cũng như mức tăng chung của tổng doanh thu XK. Các con số này
chúng ta có thể nhận thấy thông qua bảng so sánh liên hoàn tốc độ phát triển
doanh thu XK sau:
BẢNG 2: SO SÁNH LIÊN HOÀN DOANH THU CỦA CÁC THỊ
TRƯỜNG XK
Thị trường XK
Số tuyệt đối (1000đ) So sánh liên hoàn (%)
2003 2004 2005
2004/200
3 2005/2004
Đài Loan
7,184,655.
0
6,863,202.
2
6,284,875.

Tổng doanh thu
9,326,178.
0
11,141,562.
0
12,696,179.
0
119.0 114
(Nguồn: Phòng Kinh doanh)
Từ bảng này chúng ta dễ dàng đánh giá được mức tăng giảm thực tế về
doanh thu của từng thị trường XK. Cụ thể trong năm 2004 doanh thu từ thị
trường Đài Loan đã giảm 4% và năm 2005 giảm tới 8,4 %. Đây là một vấn đề
đáng quan tâm, vì đây là thị trường XK chủ lực của Công ty, nó mang lại
phần lớn doanh thu XK cho Công ty. Yêu cầu đòi hỏi tập thể ban lãnh đạo cần
phải có những điều chỉnh khắc phục tình trạng giảm sút này. Ngoài sự giảm
sút từ thị trường XK chính là Đài Loan thì các thị trường XK nhỏ cũng có sự
giảm sút đáng kể đặc biệt là trong năm 2005 khi đã sụt giảm tới 58.2%. Mặc
Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A
Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD
6
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
dù đây là những thị trường nhỏ không ảnh hưởng lớn tới tổng doanh thu XK
của Công ty, nhưng cũng cần được quan tâm vì đó là các cơ hội để Công ty có
thể tăng doanh thu động thời mở rộng thị phần tiêu thụ tại các thị trường này.
Bên cạnh những bước chậm về doanh thu trên thì chúng ta phải ghi nhận
những bước tiến tốt ở cả ba thị trường còn lại. Mặc dù tốc độ phát triển tại thị
trường Nhật Bản có giảm sút trong năm 2004, nhưng trong năm 2005 chúng
ta đã chứng kiến bước phát triển ngoạn mục của thị trường này khi tốc độ
phát triển về doanh thu trong năm 2005 lên tới 103.6%. Và đây cũng là thị
trường có mức tăng lớn và đều nhất trong tất cả các năm, điều này chúng ta sẽ

ty. Những thành công và hạn chế tiếp theo của Công ty sẽ được chúng ta
nghiên cứu và phân tích tiếp theo ở giai đoạn sau: giai đoạn đa dạng hóa
phương thức tiêu thụ và tăng tốc phát triển.
Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A
Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD
7
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
1.3.3. Giai đoạn đa dạng hóa phương thức tiêu thụ và tăng tốc phát
triển (2006- 2007)
Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A
Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD
8
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
BẢNG 3: THỊ PHẦN DOANH THU CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC TIÊU THỤ TRONG TỔNG DOANH THU
Phương thức
TT
Năm
2004 2005 2006 2007
Doanh thu
(1000đ)
TP
(%)
Doanh thu
(1000đ)
TP
(%)
Doanh thu
(1000đ)
TP
(%)

7
.3
Tiêu thụ
trong nước
2,012,576.
0
1
5.3
4,501,298.
0
2
6.2
11,025,3
46.0
4
0.4
22,000,013.
0
51
.4
Tổng doanh
thu
13,154,138.
0
10
0.0
17,198,017.
0
10
0.0

Bên cạnh đó, việc tăng cường khai thác thị trường trong nước đã dần
mang lại mức doanh thu lớn cho Công ty. Nếu như năm 2004 doanh thu từ thị
trường trong nước chỉ đạt hơn 2 tỷ đồng (chiếm 15,3% trong tổng doanh thu
thì năm 2007 con số này đã lên tới trên 22 tỷ đồng (chiếm 51.4% tổng doanh
thu). Điều này cho thấy tiềm năng tiêu thụ mặt hàng mây tre xuất khẩu từ thị
trường trong nước là rất lớn.
Đánh giá về việc đa dạng hóa phương thức xuất khẩu chúng ta cũng phải
kể tới việc triển khai, áp dụng phương thức XK ủy thác (giao cho bên thứ ba
tiến hành những giao dịch mà không trực tiếp giao dịch với đối tác nước
ngoài). Việc áp dụng phương thức tiêu thụ này được tiến hành bắt đầu vào
năm 2006 nhưng chỉ sau 1 năm doanh thu từ phương thức XK này đã tăng vọt
(đạt trên 3.1 tỷ đồng chiếm 7.3%) con số này trong năm 2006 là gần 1 tỷ và
đạt 3.7%. Một lợi ích lớn khi Công ty tiến hành áp dụng thêm phương thức
XK này là Công ty sẽ không phải tốn công tìm kiếm các khách hàng nước
ngoài, từ đó làm giảm chi phí tìm kiếm thị trường, không phải làm các thủ tục
hải quan phức tạp, đồng thời có thể tập trung sản xuất tốt hơn. Tuy nhiên,
phương thức này lại mang lại mức lợi nhuân thấp khi phải chia sẻ với đối tác
thực hiện các giao dịch quốc tế.
Giai đoạn này cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu khi tốc
độ tăng trưởng của tổng doanh thu trong 2 năm 2006 và 2007 luôn đạt ở mức
gân 60% (cụ thể năm 2006 đạt mức tăng 58.8% tương đương với trên 10 tỷ
đồng và năm 2007 là 56.5% tương đương với trên 15.4 tỷ đồng. Đây có thể
coi là một giai đoạn tăng tốc phát triển của Công ty khi có rất nhiều đối tác
trên thế giới biết và ký kết quan hệ làm ăn lâu dài với Công ty. Điều này cho
thấy định hướng phát triển của Công ty là lấy “chữ tín” làm đầu, gây dựng
Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD
10
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
một hình ảnh thân thiện và giữ được niềm tin ở khách hàng là hoàn toàn đúng
đắn. Chính định hướng này đang mang lại những thành quả đáng mừng cho

14
2 3
10
11
1
9
5
8
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
SĐ 2: SƠ ĐỒ QUAN HỆ ĐIỀU HÀNH SẢN XUẤT
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính)
Cơ cấu bộ máy sản xuất của Công ty bao gồm các tổ: Tổ sản xuất, tổ cắt
tỉa, tổ hấp sấy, tổ phun sơn, tổ đóng gói, tổ kho.
Tất cả các kế hoạch hoạt động sản xuất của Công ty được điều hành trực
tiếp từ phó Giám đốc sản xuất và được giám sát kỹ thuật bởi phòng kỹ thuật.
 Quy trình sản xuất tại Công ty:
SĐ 3: SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY
Không cần phun sơn
(Nguồn: Phòng Kỹ thuật)
Quy trình sản xuất SP tại Công ty: SP sản xuất của Công ty chủ yếu là
nằm ở giai đoạn hoàn thiện (ngoại trừ một số mặt hàng như SP Trúc, Bèo,…).
Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD
12
SP dở dang
sản xuất tại
Công ty
SP dở dang
từ các làng
nghề
Cắt

cắt
tỉa
Tổ
sấy
Tổ
phun
sơn
Tổ
đóng
gói
Tổ
kho
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
Đây chính là một đặc điểm lớn ảnh hưởng và quyết định lớn đến quy trình
cũng như cách thức sản xuất tại Công ty.
SP dở dang tại các làng nghề truyền thống, sau khi được đưa vào Công
ty, được lưu tại các kho, sau đó nó được các công nhân tại Xưởng cắt tỉa tiến
hành hoàn thiện về mẫu mã, hình dáng. Những SP sau khi được hoàn thiện về
hình dáng, mẫu mã và kích thước sẽ được chuyển sang khu hấp sấy, nhằm
bảo quản SP khỏi mối mọt và tăng tuổi thọ cho SP. Qua bước này, những SP
cần phun sơn được tiếp tục đưa sang Xưởng sơn. Cuối cùng, tất cả các SP sau
khi đã được hoàn thiện được tiến hành đóng gói, và đưa vào kho bảo quản.
BẢNG 4: QUY MÔ VÀ CƠ CẤU LAO ĐỘNG TẠI CÁC BỘ PHẬN
CỦA CÔNG TY NĂM 2007
Chỉ tiêu
Lao động và cơ cấu lao động tại các bộ phận
Văn
phòng
Tổ sản
xuất

SP.
Dương Minh Sang - Lớp QTKDTH 46A Khoa QTKD - Trường ĐHKTQD
13
Báo cáo thực tập tổng hợp Công ty Mây tre xuất khẩu Phú Minh - Hưng Yên
Tổ phun sơn: Cũng như Tổ hấp sấy, Tổ phun sơn cũng có quy mô lao
động không lớn (13 người, chiếm 4.23% lao động toàn Công ty) được đầu tư
đầy đủ các thiết bị phun sơn tiên tiến hiện đại, được trang bị đầy đủ các đồ
bảo hộ lao động cần thiết, đảm bảo cho công nhân làm việc an toàn. Tổ phun
sơn có nhiệm vụ tiến hành phun sơn đối với những loại SP yêu cầu kỹ thuật
đòi hỏi cần được phun sơn.
Tổ đóng gói: Là một trong ba tổ có số lao động lớn nhất Công ty với số
lượng 47 lao động (chiếm 15.31% lao động toàn Công ty). Bởi lẽ, bộ phận
này lại có số lao động lớn như vậy là vì SP của Công ty chủ yếu là cung cấp
cho thị trường nước ngoài, do quãng đường vận chuyển dài. Hơn nữa, do đòi
hỏi về yêu cầu kỹ thuật của khách hàng nên các SP của Công ty cần phải được
đóng gói bảo quản toàn bộ. Chính điều này đã khiến cho số lao động làm việc
trong bộ phận đóng gói tại Công ty lớn. Nhiệm vụ chính của Tổ là tiến hành
đóng gói tất cả những SP có yêu cầu kỹ thuật cần phải đóng gói.
2.2. Tổ chức bộ máy
Bộ máy quản trị của Công ty đứng đầu là Giám đốc, là người điều hành
về mọi hoạt động chính của Công ty có hiệu quả, đại diện tư cách pháp nhân
của Công ty trước pháp luật. Quyết định về tất cả các vấn đề có liên quan đến
hoạt động hàng ngày của Công ty. Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh
quản lý trong Công ty. Quyết định lương và phụ cấp (nếu có) cho người lao
động trong Công ty.
Dưới Giám đốc là 2 phó Giám đốc: Phó Giám đốc nhân sự và phó Giám
đốc sản xuất thực hiện các nhiệm vụ Giám đốc giao vì lợi ích chung của Công
ty theo dõi quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của Giám đốc.
Các phòng ban, bộ phận trong Công ty được phân theo nhiệm vụ chức
năng riêng biệt và có mối liên hệ hữu cơ với nhau nhằm thực hiện các mục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status