Tài liệu Đề án “Quản lí nhà nước đối với FDI” - Pdf 84



ĐỀ ÁN MÔN HỌC

“Quản lí nhà nước
đối với FDI” Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
1

A. LỜI NÓI ĐẦU

Sinh viên : Nguyễn Thuỳ Thươ
ng
L
ớp: Đầu tư 43A
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
2
Chương I :
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.I. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI)
1. Khái niệm và tính tất khách quan của FDI
1.1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư
và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân
người nước ngoài ( các chủ đầu tư ) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lí, sử
dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằ
m thu hồi đủ vốn bỏ ra.
1.2 Tính tất yếu khách quan của đầu tư trực tiếp nước ngoài

ẻ. Mặt khác, các công ty tư bản lớn đang cần nguồn nguyên
liệu và các tài nguyên thiên nhiên khác, đảm bảo cung cấp ổn định và đáng tin cậy
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
3
cho viẹc sản xuất của họ. Điều này vừa tạo điều kiện cho các công ty lớn thu được
lợi nhuận cao, vừa giúp họ giữ vững vị trí độc quyền.
Theo Lênin thì “xuất khẩu tư bản” là một trong năm đặc điểm kinh tế của chủ
nghĩa tư bản, thông qua xuất khẩu tư bản, các nước tư bản thực hiện viêc bóc lột
đố
i với các nước lạc hậu và thường là thuộc địa của nó. Nhưng cũng chính Lênin
khi đưa ra “chính sách kinh tế mới” đã nói rằng: những người Cộng sản phải biêt
lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của Chủ nhĩa Tư bản thông
qua hình thức “ tư bản nhà nước”. Theo quan điểm này nhiều nước đã “chấp nhận”
phần nào sự bóc lột của ch
ủ nghĩa tư bản để phát triển kinh tế, như thế có thể còn
nhanh hơn là tự thân vận động hay đi vay vốn đẻ mua lại những kỹ thuật của các
nước công nghiệp phát triển. Mặt khác, mức độ “bóc lột” của các nước tư bản còn
phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị của nước tiếp nhận đầu tư tư bản. Nếu
như trước đây, hoạt động xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc chỉ phải tuân
theo pháp luật của chính họ thì ngày nay các nước tiếp nhận đầu tư đã là các quốc
gia độc lập có chủ quyền, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân theo
pháp luật, sự quản lý của chính phủ sở tại và thông lệ quốc tế. Nếu các chính phủ

của nước sở tại không phạm những sai lầm trong quản lý vĩ môt thì có thể hạn chế
được những thiệt hại của hoạt dộng thu hút đàu tư trực tiếp nước ngoài.
Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước nào đó, nước nhận
đầu tư phải có các điều kiện tối thiểu như: cơ sở hạ t
ầng đủ đảm bảo các điều kiện
cần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một số ngành dịch vụ phụ trợ phục

phép nó so sánh với các công ty con của nó ơ những vị trí khác nhau do việc tận
dụng tư bản chuyển dịch cũng như chuyển giao công nghệ sản xuất của nước
ngoài tới những nơi mà giá thành thấp.
Xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội, kết quả của quá trình phân công
lao động xã hộ
i mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nước và
các vùng lãnh thổ từng bước hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong xu thế đó,
chính sách biệt lập đóng cửa là không thể tồn tại vì chính sách này kìm hãm quá
trình phát triển của xã hội. Một quốc gia hay vùng lãnh thổ khó tách biệt khỏi thế
giới vì những thành tựu khoa học kỹ thuật đã lôi kéo con người ở khắp nơi trên thế
giớ
i xích lại gần nhau hơn và dưới tác động của quốc tế hoá khác buộc các nước
phải mở của với bên ngoài. Vì vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong
những hình thức kinh doanh quốc tế hữu hiệu nhất hiện nay, đã và đang trở thành
phổ cập như một phương thức tiến tạo.
Ngày nay, việc huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào m
ột quốc gia
hoặc một vùng lãnh thổ đã và đang trở thành phương thức hữu hiệu nhất, một yếu
tố quan trọng bậc nhất trong cơ cấu ngân sách phát triển của một quốc gia, một
hình thức quan trọng và phổ biến trong mối quan hệ kinh tế quốc tế. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài sẽ bù đắp sự thiếu hụt về vốn, công nghệ và lao độ
ng giữa các
nước đang phát triển và các nước phát triển. Một nước đang phát triển sẽ khai thác
tiềm năng vốn có của mình một cách có hiệu qủa hơn khi nhận dược nguồn vốn và
công nghệ từ các nước phát triển thông qua việc liên doanh, hợp doanh và các
dạng đầu tư BOT,BT,BTO… Mặt khác, các nước phát triển sẽ thu được lợi nhuận
cao hơn khi bỏ vốn đầu tư ra nước ngoài- nơi có chi phí đầu vào thấ
p hơn trong
nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần cải thiện mối quan hệ chính trị
giữa các quốc gia, các quan hệ về hợp tác thương mại, vấn đề môi trường, các

thực hiện điều đó đối với các nước đang phát triển đó là vốn đầu tư kỹ
thuật. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công
nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động… Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng
tích lũy cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để
tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ
trông chờ vào tích lũy nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi sẽ là tụt hậu trong sự phát
triển chung của thế giới. Do đó vốn nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp phần
đột pá cái vòng luẩn quẩn đó. Đặc biệt FDI là một nguồn quan trọng để khắc phục
tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho nước nhận đầu tư. Hơ
n nữa luông vốn
này có lợi thé hơn đối với vốn vay ở chỗ: Thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định
và dôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn của FDI thì thường
linh hoạt hơn.
Theo mô hình lý thuyết “ hai lỗ hổng” của Cherery và Strout, có hai cản trở
chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đủ đáp ứ
ng
cho nhu cầu đầu tư được gọi là: “ lỗ hổng tiết kiệm”. (2) Thu nhập của hoạt động
xuất khẩu không đủ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu được gọi
là: “ lỗ hổng thương mại”. Hầu hết ở các nước đang phát triển hai lỗ hổng trên rất
lớn, vì vậy FDI còn là một nguồn quan trọng không chỉ để bổ sung ngu
ồn vốn nói
chung mà cả sự thiếu hụt về ngoại tệ nói riêng bởi vì FDI góp phần nhằm tăng khả
năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu tư, thu một
phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ các hoạt dộng dịch vụ
phục vụ cho FDI.
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
6
- Chuyển giao và phát triển công nghệ:
FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước

n công nghệ địa phương. Mặt khác, trong qúa trình sử
dụng công nghệ nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ nước ngoài,
các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước học được cách thiết kế, chế
tạo…công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa
phương và biến chúng thành công nghệ của minh. Nhờ có những tác động tích cực
trên, khả nă
ng công nghệ của nước chủ nhà được tăng cường, vì thế nâng cao năng
suất các thành tố, nhờ đó thúc đẩy được tăng trưởng.
- Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm

Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuát, các vấn đè
xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư. Việc cải thiện chất lượng cuộc sông thông
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
7
qua đầu tư vào các lĩnh vực: sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, đào tạo nghề nghiệp
và kỹ năng quản lý sẽ tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nâng cao được năng
suất lao động và các yếu tố sản xuất khác, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng.
Ngoài ra, tạo việc làm không chỉ tăng thu nhập cho người lao động mà còn
góp phần tích cực giải quyết các vấn
đề xã hội. Đây là các yếu tố có ảnh hưởng rât
lớn dến tốc độ tăng trưởng.
FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công việc làm thông qua việc cung
cấp việc làm trong các hãng có vốn đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ
hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hang
háo dịch vụe từ các nhà sản xuất trong nước, hoạc thuê họ thông qua các h
ợp đông
gia công chế biến. Thực tiễn ở một số nước cho thấy FDI đã đóng góp tích cực tạo
ra viẹc làm trong các ngành sử dụng nhiều lao đọng như ngành may mặc, điện tử,
chế biến.

8
Thông qua FDI, các nước đang phát triển có thể tiếp cận với thị trường thế giới
bởi vi, hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty xuyên quốc gia thực hiện, mà
các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp
đồng dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ về chất lượng, kiểu dáng
sản phẩm và giao hàng đúng hẹn.
- Liên kết các ngành công nghiệp

Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu qua tỷ trọng giá
trị hàng hoá (tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào), dịch vụ trao đổi trực tiếp
từ các công ty nước ngoài ở nước chủ nhà. Việc hình thành các liên kết này là cơ
sở quan trọng để chuỷen giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy
xuất nhập khẩu của nước chủ nhà.
Cụ th
ể: Qua các hoạt động cung ứng nguyên vật liệu, dịch vụ cho các công ty
nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp nội địa phát triển năng lực
sản xuất của mình (mở rộng sản xuất, bắt chước quy trình sản xuất và mẫu mã
hàng hoá…). Sau một thời gian nhât định các doanh nghiệp trong nước có thể tự
xuất nhập khẩu được.
- Các tác động quan trọng khác

Ngoài những tác động kể trên, FDI còn tác động đáng kể đến các yếu tố ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế như: chất lượng môi trường, cạnh tranh và độc
quyển, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, hội nhập khu vực và quốc tế.
Mặc dù chất thải của các công ty nước ngoài, nhất là trong các ngành khai thác
và chế tạo, là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng ô nhiễm
môi trường tr
ầm trọng ở các nước đang phát triển tuy nhiên có nhiều nghiên cứu
cho thấy các TNCs rất chú trọng và tích cực bảo vệ môi trường hơn các công ty
nội địa. Bởi vì, quy trình sản xuất của họ thường được tiêu chuẩn hoá cao nên dễ

bản sắc của dân tộc và itếp nhận nền văn hoá bên ngoài ở các mặt quan trọng như:
đổi m
ới tư duy; thái độ và đạo đức nghề nghiệp; lối sống, tập quán; giao tiếp ứng
xử; bình đẳng giới và các vấn đề xã hội.
Chất lượng của tư duy là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Đổi mới tư
duy tức là đổi mới cách nghĩ, cách làm. FDI tác động rât tích cực vào quá trình
này thông qua trực tiếp đào tạo các nhà quản lý bản địa có kiến thức kinh doanh
hi
ện đại, những lao động làm việc trong các công ty nước ngoài, tiếp xúc với công
nghệ hiện đại và gián tiếp tạo ra trong xã hội, nhất là thế hệ trẻ, một lối nghĩ mới
có hiệu quả của nền kinh tế thị trường.
Thái độ và đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lứon đén hành vi và chất
lượng lao động của mỗi cá nhân. Do hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay
g
ắt, những người làm việc trong cac dự án ĐTNN phải có thái độ nghjiêm túc với
công việc và đảm bảo uy tín cao đối với khách hàng. Nhờ đó, góp phần quan
trọng hình thành nên phong cách kinh doanh có văn hoá.
Đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi đáng kể lối sống, tập quán của các tầng lớp
dân cư theo kiểu hiện đại, tiêu dùng công nghiệp. Tác phong công nghiệp đã buộc
người lao động phải tiết kiệm thời gian cho gia đình và sinh hoạt cá nhân
Đầ
u tư nước ngoài tác động tích cực đến văn hoá giao tiếp, ứng xử ở nước chủ
nhà. Những người làm việc trong khu vực ĐTNN hoặc có quan hệ với các công ty
nước ngàoi thường có phong cách giao tiếp lịch sự và thái độ ứng xử hoà nhã, tôn
trọng đồng nghiệp và khách hàng. Phong cách này dần đần lan toả ra các cá nhân
trong toàn xã hội.
- Chủ quyền an ninh quốc gia

ĐTNN chủ yếu được thực hiện bởi TNCs có tiềm lực mạnh về tài chính, khoa
học công nghệ và mạng lưới phân phối trên phạm vi toàn cầu. Do đó, khi tiếp nhận

ngoài.
1. Quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nói chung
1.1. Khái niệm.
Quản lí đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá
trình đầu tư và các yếu tố đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế
- xã hội , tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả, hiệu qu

đầu tư, hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong điều kiện cụ thể xác định và trên
cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan vf quy luật đặc thù của đầu tư.
1.2. Sự cần thiết phải có sự quản lí của nhà nước đối với hoạt động đầu tư
nói chung và các dự án nói riêng.
 Đối với các dự án dân lập
:
- Đầu ra của các dự án là sản phẩm, dịch vụ và chất thải các loại .Với đầu ra
là chất thải , rất có hại cho sức khoẻ của cộng đồng, nhà nước không thể bỏ qua.
Ngay cả những sản phẩm hoặc dịch vụ được tạo ra từ dự án cũng không đương
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
11
nhiên là có lợi cho cộng đồng mà vẫn có thể có hại. Vì vậy, nhà nước phải quản lí
dự án dân lập để ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của đầu ra do dự án gây nên.
- Đầu vào của dự án là các yếu tố mà sự hoạt động dự án sẽ sử dụng : tài
nguyên, lao động, máy móc, thiết bị. Việc sử dụng các đầu vào đó của dự án sẽ
ảnh hưởng đến cộng
đồng về nhiều mặt. Vì vậy, nhà nước cần phải quản lí các dự
án dân lập để cân đối các nguồn lực trong nền kinh tế, tránh rối loạn, thừa thiếu
trong nền kinh tế.
- Các đặc tính của mỗi công trình do dự án tạo ra, chỉ tiêu kiến trúc, kết cấu,
địa điểm phân bố… có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh… rất
sâu sắc. Vì vậy, nhà nước củng phải quả

năng huy động vốn nước ngoài để phát triển kinh tế là nhu nhau. Nhưng thực tế
việc huy động vốn phụ thuộc có tính quyết định vào vai trò quản lý của nhà nước
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
12
đối với nền kinh tế nói chung, đặc biệt với hoạt động FDI. Vai trò đó trước hết thể
hiện ở khả năng tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn. Sự hấp dẫn của môi trường
đối với các nhà đầu tư nước ngoài chính là sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ
mô, môi trường pháp lý an toàn, các thủ tục hành chính đơn giản, cơ sở hạ
tầng
kinh tế – xã hội phát triển và có những định hướng đúng đắn khuyến khích các nhà
đầu tư kinh doanh có hiệu quả và an toàn.
Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn FDI. Chỉ có nhà nước với quyền lực và chức năng của mình mới có
khả năng tạo lập được môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao so với các
nước trong khu vực và thế
giới để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài. Vai
trò quản lý nhà nước đối với FDI được thể hiện thông qua vai trò của nhà nước
trong việc hình thành phát triển và hoàn thiện môi trường đầu tư cho sự vận động
có hiệu quả FDI.
 Ổn định chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô cho sự vận động vốn FDI:

Các nhà đầu tư chỉ có thể sẵn sàng bỏ vốn vào kinh doanh tại một quốc gia mà
ở đó có sự ổn định chính trị và ổn định kinh tế vĩ mô. Ổn định chính trị là điều
kiện trước tiên đảm bảo an toàn cho sự vận động của các hành vi kinh tế. Vì vậy
ổn định chính trị là yêu cầu đặt ra đầu tiên đối vớicác nhà đầu tư nước ngoài khi
lựa chọn mộ
t nước là địa bàn đầu tư. FDI là hoạt động đầu tư tư nhân. Nhưng hoạt
động đầu tư dù trong nước hay nước ngoài đều được nhà nước hỗ trợ dưới nhiều
hình thức khác nhau. Hoạt động này hơn nữa còn tạo đựoc sự đảm bảo, hỗ trợ, tạo

huy các mặt tích cực ngăn ngừa các mặt tiêu cực của hoạt động FDI. Các nhà đầu
tư nước ngoài, các công ty n
ước ngoài hoạt động ở Việt Nam mang tư cách pháp
nhân Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Do vậy, các định hướng kinh tế
quan trọng đối với hoạt động FDI để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, phát triển kinh tế của đất nước cần được thể hiện thông qua các quyết
định của luật pháp, chính sách của nhà nước. Khi luật pháp, chính sách được xây
dựng đúng đắn, phù hợp, công tác ch
ỉ đạo điều hành thực thi nghiêm túc thì sẽ đạt
được các định hướng và mục tiêu quản lý của nhà nước đối với hoạt động FDI.
Ngược lại, nếu những định hướng và mục tiêu quản lý không được thực hiện đầy
đủ thì trước hết là do sự chưa hoàn chỉnh trong chế định pháp luật, chính sách và
trong công tác điều hành thực hiện các chế định được ban hành.
Hệ thống pháp luật càng hoàn ch
ỉnh, phù hợp với các thông lệ của khu vực và
quốc tế, không có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp trong hay ngoài nước, công
tác quản lý của nhà nước ngày càng đơn giản tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
đầu tư thì môi trường đầu tư càng có tính cạnh tranh cao và càng có khả năng hấp
dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
 Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và đảm bảo an toàn
cho sự vận động của FDI:
Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến
hiệu quả kinh doanh của nhà đầu tư, là cơ sở hình thành các chỉ tiêu kinh tế- kỹ
thuật của các dự án đầu tư. Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển tạo điều kiện
cung cấp các dịch vụ thông tin để mở rộng quan hệ th
ương mại, giao lưu hàng hoá,
giảm chi phí sản xuất đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho nhà đầu
tư. Vì vậy, đây là yếu tố tác động mạnh mẽ vào sự quyết định của nhà đầu tư khi
lựa chọn địa điểm đầu tư.
Đối với quốc gia đang phát triển, trình độ cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội yêu

tiến hành tốt chức năng dự báo cần sử dụng các công cụ dự báo khác nhau và nên
tiến hành dự báo từ những nguồn thông tin khác nhau.
 Định hướng

Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với việc loại trừ vai trò của kế hoạch hoá
mà trái lại rất cần sự định hướng và điều tiết của nhà nước thông qua các công cụ,
chiến lược, mục tiêu, chương trình, kế hoạch, qui hoạch. Chức năng định hướng
của nhà nước trước hết thể hiện ở việc xác định đúng đắn chiến lược phát tri
ển
kinh tế của đất nước, từ đó xác định phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Trên cơ sở chiến lược phát triển dài hạn và kế
hoạch trong từng thời kỳ xây dựng các phương án, mục tiêu, chương trình hành
động quốc gia, qui hoạch và kế hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế. Từ đó tiến
hành qui hoạ
ch thu hút các nguồn vốn cho việc thực hiện các phương án, mục tiêu,
chương trình quốc gia. Công tác định hướng của nhà nước với FDI phải được cụ
thể hoá bằng việc xây dựng danh mục các dự án kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài,
xác định các lĩnh vực ưu tiên, địa điểm ưu tiên FDI. Để đạt được mục tiêu định
hướng thu hút FDI vào các lĩnh vực ưu tiên, địa bàn ưu tiên thực hi
ện mục tiêu
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
15
phát triển kinh tế, nhà nước cần vận dụng các công cụ kinh tế để khuyến khích các
nhà đầu tư nước ngoài.
 Bảo hộ và hỗ trợ

Nhà nước là chủ thể quản lý cao nhất là người đại diện cho quyền lợi của cả
cộng đồng quốc gia. Vì vậy chỉ có nhà nước mới có đủ tư cách, sức mạnh, tiềm
lực để bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

cụ phản hồi thông tin quan trọng để chính phủ đánh giá hiệu quả và mức độ h
ợp lý
của những chính sách, qui định đã được ban hành. Ngoài ra hoạt động kiểm tra,
thanh tra giám sát còn nhằm tạo điều kiện giúp đỡ các nhà đầu tư nước ngoài tháo
gỡ những khó khăn trong khi triển khai và đưa dự án vào hoạt động.
Các chức năng cơ bản của quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài không tồn
tại độc lập mà tác động qua lại lẫn nhau. Chỉ có thể quản lý tốt các ho
ạt động đầu
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
16
tư nước ngoài khi các chức năng quản lý được thực hiện một cách đồng bộ và
thuần nhất.
2.3. Nội dung của quản lý nhà nước với FDI
Để đạt được mục tiêu, thực hiện vai trò, chức năng quản lý nhà nước trong
việc định hướng, tạo dựng môi trường, điều tiết hỗ trợ và kiểm tra kiểm soát các
hoạt động FDI, nội dung quản lý nhà nước đối v
ới FDI bao gồm những điểm chủ
yếu sau:
 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật và các văn bản pháp luật liên quan
đến FDI bao gồm sửa đổi, bổ sung luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam các văn
bản hướng dẫn thực hiện cũng như các văn bản pháp qui các để điều chỉnh bằng
pháp luật các quan hệ đầu tư nước ngoài tại Việ
t Nam nhằm định hướng FDI theo
mục tiêuu đề ra.
 Xây dựng quy hoạch theo từng ngành, từng sản phẩm, từng địa phương
trong đó có quy hoạch thu hút FDI đương nhiên phải dự trên qui hoạch tổng thể
phát triển kinh tế đất nước. Từ đó xác đinh danh mục các dự án ưu tiên kêu gọi
vốn đầu tư nước ngoài, ban hành các định mức kinh tế kĩ thuật, chuẩn mực đầu tư.


dám hi sinh lợi ích cá nhân vì sự phát triển của đất nước.
2.4. Hệ thống tổ chức quản lý hoạt động FDI
 Quốc hội
: là cơ quan quyền lực cao nhất, có trách nhiệm phê chuẩn và
ban hành hệ thống luật pháp có liên quan đến đầu tư, quyết định đường lối, chiến
lược và các chủ trương đầu tư.
 Chính phủ
: có trách nhiệm quản lý toàn diện và thống nhất lĩnh vực đầu
tư.
 Các bộ
:
- Bộ kế hoạch đầu tư:
+ Trình Chính phủ các dự luật, pháp lệnh, văn bản qui phạm có liên quan đến
đầu tư.
+ Xác định phương hướng và cơ cấu vốn đầu tư để đảm bảo sự cân đối giữa
đầu tư trong nước và nước ngoài.
+ Cấp giấy phép đầu tư và hướng dẫn với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài.
+ Quản lý nhà nướ
c về việc lập, kiểm tra,xét duyệt các dự án quy hoạch, phát
triển kinh tế-xã hội.
- Bộ xây dựng:
+ Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, nghiên cứu các cơ chế,
chính sách về quản lý xây dựng, qui hoạch đô thị và nông thôn.
+ Ban hành các tiêu chuẩn qui phạm, qui chuẩn xây dựng.
+ Theo dõi, kiểm tra chất lượng các công trình
- Bộ tài chính:
+ Nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về tiền t
ệ, tín dụng ngân
hàng trong đầu tư và xây dựng.
+ Giám sát các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính thực hiện các nhiệm

ủa từng thời kì. Để có thể
triển khai các dự án đầu tư nhanh, thuận lợi và có hiệu quả, Chính phủ Thái Lan đã
có chính sách khuyến khích mạnh các nguồn vốn tron nước cùng tham gia đâu tư
với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ vốn trong nước trong các dự án này
lên tới 71,7% (thời kì 1960-1985) và 71,6% (thời kì 1986-1995)[47,134]. Về chính
sách tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan được đánh giá là một
trong những chính sách khá thông thoáng và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.
3.2. Trung Quốc
Sau 20 năm (1979-1999) thực hiện chính sách cải cách mở cửa, kinh tế Trung
Quốc đã dạt đựoc nhiều thành tựu to lớn, thu hút sự chú ý của nhiều ngwofi trên
thế giới. Thời kỳ 1979-1994 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 9,3%/năm; tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân 16,2%/năm; Sản lượng các sản phẩm
chủ y
ếu cũng đều tăng với tốc độ nhanh. Cho dến nay, tưong ứng với các thời kỳ,
nền kinh tế Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng. Vị thế và ảnh
hưởng của Trung Quốc đang ngày càng nâng lên rõ rệt. Nhiều nhà kinh tế nhận
định rằng, từ nay đến hết thập niên đầu thế kỷ XXI vẫn là thời kỳ phát triể
n mạnh
mẽ của kinh tế Trung Quốc. Một trong những yếu tố chi phối mạnh mẽ sự phát
triển kinh tế Trung Quốc 20 năm qua là sự thành công trong việc thu hút đầu tư
nước ngoài. Đối với Trung Quốc, đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự trở thành
động lực của sự phát triển và chính nó đã làm đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hoá.
Nếu đến năm 1991, Trung Quốc chỉ đứng thứ
13 trên thế giới và thứ 3 trong
các nước đang phát triển về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì chỉ 2 năm sau
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
19
(1993) Trung Quốc đã đứng thứ 2 trên thế giới ( sau Mỹ ) và đứng đầu các nước

- Có chính sách thoả đáng để mở rộng việc thu hút các nhà đầu tư người Hoa
ở nước ngoài chuyển vốn về đầu tư tại Trung Quốc. Mở rộng địa bàn hoạt động,
tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, sử dụng các chính sách ưu đãi phù hợp với
yêu c
ầu phát triển của từng thời kỳ.

Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A
20
Chương II: THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

I. Thực trạng về hoạt động FDI tại Việt Nam trong thời gian
qua.
1. Thực trạng thu hút FDI
Đến hết năm 2003 đã co 4986 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giây
phép đầu tư vào Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký là 44.533 triệu USD. Tính
bình quân mỗi năm Việt Nam cấp phép cho 311 dự án với mức binh quân 1 dự án
2.783,3 triệu USD vốn đăng ký.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong 16 năm qua biểu hiện khá rõ
nét của một động thái thiếu
ổn định: Từ khi bắt đầu triển khai (1988) vận đông
theo xu hướng tăng nhanh đến 1995, 1996 ( cả về số dự án cũng như vốn đăng ký).
Nhưng bắt đầu từ năm 1997, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam lại vận

(chiếm 56,8% tổng lượng vốn đăng ký, 66,8% tổng số dự án), trong đó chủ yếu là
công nghiệp nặng (chiếm 22,2% vốn đăng ký và 27,6% số dự án). Tiếp đến là dịch
vụ (chiếm 36,2% tổng số vốn đăng ký và 19,4% s
ố dự án) và thấp nhất là nông-
lâm nghiệp, thuỷ sản (xem bảng 1)
Bảng 1: FDI tại Việt Nam 1988-2003 theo ngành kinh tế (Các dự án
còn hiệu lực)
Ngành
Số dự
án
Vốn đầu tư
(USD)
% tổng
vốn
% tổng
dự án
Vốn thực hiện
(USD)
% vốn
thực hiện
1.Công nghiệp 2.849 22.983.233.183 56,8 66,8 16.212.762.451 68
Dầu khí 29 1.931.109.730 4,8 0,7 4.552.178.963 19
CN nhẹ 1.155 6.050.109.730 14,9 27,1 2.712.071.794 11
CN nặng 1.177 8.981.951.724 22,2 27,6 5.462.140.476 23
CN thực phẩm 209 2.540.121.426 6,3 4,9 1.547.295.061 6
Xây dựng 279 3.479.417.082 8,6 6,5 1.939.076.157 8
2. Nông lâm nghiệp 586 2.860.016.748 7,1 13,7 1.528.314.192 6
Nông lâm nghiệp 492 2.600.812.095 6,4 11,5 1.403.801.769 6
Thuỷ sản 94 259.204.653 0,6 2,2 124.512.423 1
3. Dịch vụ 829 14.655.682.435 36,2 19,4 6.274.054.931 26

Về địa bàn đầu tư
: Đặc điểm tương đối nổi bật và có lẽ cũng giống một số
nước đang phát triển khác là các dự án đầu tư nước ngoài vẫn gthường tập trung
chủ yếu vào một số địa bàn có điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng vàmôi trưòng
kinh tế – xã hội. Mức độ chênh lệch giữa các vùng về thu hút vốn đầu tư trự
c tiếp
nước ngoài là tương đối lớn và đồng thuận với mức thuận lợi của các yếu tố kinh
tế- xã hội và cơ sở hạ tầng.
Nếu tính theo số vốn đầu tư còn hiệu lực của cả thời kì 1988-2003, thì chỉ sáu
địa phương có điều kiện thuận lợi hơn đã chiếm tới 70,95% tổng số vốn đầu tư
nước ngoài vào Vi
ệt Nam [TP. Hồ Chí Minh với số vốn đăng ký 10.734 triệu USD
(chiếm 24,1% tổng số vốn đăng ký của cả nước) sốliệu tương ứng của các địa
phương tiếp theo như sau: Hà Nội: 7.578,9 (17,02%); Đồng Nai: 6.422,7
(14,42%); Bình Dương 3.357,4 (7,54%); Bà Rịa – Vũng Tàu: 2.051,4 (4,61%); và
Hải Phòng: 1.453,8(3,26%)
Về các hình thức đầu tư
: Vào thời kì đầu Việt Nam thực thi chính sách kêu gọi
đầu tư trực tiếp nước ngoài, liên doanh là hình thức được các nhà đầu tư sử dụng
phỏ biến nhất. Hình thức này thường chiếm tới khoảng 40% số dự án và 59% vốn
đăng ký. Sở dĩ như vậy là do thời kỳ đầu, các thủ tục để triển khai thực hiện dự án
còn đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhi
ều khâu, nhiều nấc, và rất phức
tạp, trong khi đó người nước ngoài còn ít hiểu biết về các điều kiện kinh tế- xã họi
và phát luật của Việt Nam, họ thường gặp khó khăn trong giao dịch, quan hệ cùng
một lúc với khá nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để có được đầy đủ các
điều kiện triển khai xây dựng cơ bản cũng như tổ chức th
ực hiện dự án đầu tư.
Tronghoàn cảnh như vậy, đa số các nhà đầu tư thích lụa chọn hình thức liên doanh
để đối tác bên Việt Nam đứng ra lo các thủ tục pháp lý cho sự hoạt động của

Từ năm 1993, Việt Nam bắt đầu áp dụng hình thức “hợp đồng xây dựng- kinh
doanh- chuyển giao (BOT), cho đến nay hình thức đầu tư này cũng chỉ chiếm
0,14% số dự án và 3,38 vốn đầu t
ư.
Về các đối tác nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thời kỳ 1988 – 2003:
Nếu tính
theo các dự án FDI còn hiệu lực thì đến nay hiện còn 64 nước và vùng lãnh thổ có
các dự án đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam. Trong số đó, có bảy nước có tổng
số vốn đầu tư đăng ký và đã được cấp phép đầu tư vào Việt Nam trên 2 tỷ USD là:
Xinhgapo, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Pháp, British Virgin
Islands. Tổng số vốn đầu tư của bảy đối tác này đã chiế
m tới 71,43% tổng lượng
vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam (trong đó Xinhgapo chiếm 18,18%, Đài
Loan chiếm 14,54%, Nhật Bản chiếm 11,04%, Hàn Quốc chiếm 9,97%, Hông
Kông chiếm 7,43%, Pháp chiếm 5,22%, British Virgin Islands chiếm 5,05%). Nếu
theo tổng mức đầu tư trên 1tỷ USD thì có thêm năm nước: Hà Lan, Thái Lan,
Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, Malaixia (trong đó Hà Lan chiếm 4,35%, Thái Lan
chiếm 3,47%, Vương quốc Anh chiếm 2,91%, Hoa Kỳ chiếm 2,81%, và Malaixia
chiếm 2,73%). Như vậy nếu chỉ tính riêng 12 nước có vốn đầ
u tư trên 1 tỷ USD
trên đây đã chiếm tới 87,7% tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Số liệu trên cho thấy đã có nhiều nhà đầu tư xuất phát từ các nước tương đối
phát triển có dự án đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay thì sự có mặt của các nhà đầu tư thuộc các
t
ập đoàn kinh tế lớn chưa nhiều. Đây chính là một trong những chỉ báo quan trọng
khi chúng ta thực thi các chính sách có liên quan đến việc cải thiện môi trường đầu
tư của Việt Nam.
Đề án môn học
Nguyễn Thuỳ Thương Đầu tư 43A

II. Thực trạng về việc thực hiện vai trò quản lý nhà nước với FDI
1. Nhà nước tạo lập môi trường đầu tư
1.1. Tạo lập môi trường chính trị ổn định.
Đứng trước khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế
giới và khu vực, Đảng và nhà nước ta đã luôn kiên định mục tiêu cách mạng và
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó
xây dựng các chủ trương, chính sách đổi m
ới. Đảng và Nhà nước đã không ngừng
củng cố quốc phòng giữ vững an ninh quốc gia trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng
hợp của khối Đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Chính vì vây, theo đánh giá của các chuyên gia trong và ngoài nước, Việt
Nam có đường lối chính trị, chính sách kinh tế nhất quán, nội bộ lãnh đạo , Đảng
và nhà nước đoàn kết nhấ
t trí ( khác với một số nước trong khu vực có những thời

Trích đoạn Nhà nước tạo lập môi trường đầu tư Một số kiến nghị với nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status