BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC .....
KHOA ....
ĐỀ ÁN Quản lí nhà nước đối
với FDI Giảng viên hướng dẫn : ....................................
Sinh viên thực hiện : ....................................
Lớp : ....................................
MSSV : .................................... 1
A. LỜI NÓI ĐẦU
n Thuỳ Thương
L
ớp: Đầu tư 43A 2
Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀII. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI)
1. Khái niệm và tính tất khách quan của FDI
1.1. Khái niệm
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu
tư và người sử dụng vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá
nhân người nước ngoài ( các chủ đầu tư ) trực tiếp tham gia vào quá trình quản
lí, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằ
m thu hồi đủ vốn bỏ ra.
1.2 Tính tất yếu khách quan của đầu tư trực tiếp nước ngoài
ước tính khoảng 5% trong một năm, cao hơn đầu tư ở trong các nước tiên tiến.
Sở dĩ như vậy là vì trong các nước còn lạc hậu, tư bản vẫn còn ít, giá đất đai
tương đối thấp, tiên công hạ và nguyên liệu rẻ. Mặt khác, các công ty tư bản lớn
đang cần nguồn nguyên liệu và các tài nguyên thiên nhiên khác, đảm bảo cung
cấp ổn định và đáng tin cậy cho việc sản xuất của họ. Đi
ều này vừa tạo điều kiện
cho các công ty lớn thu được lợi nhuận cao, vừa giúp họ giữ vững vị trí độc
quyền.
Theo Lênin thì “xuất khẩu tư bản” là một trong năm đặc điểm kinh tế của
chủ nghĩa tư bản, thông qua xuất khẩu tư bản, các nước tư bản thực hiện viêc
bóc lột đối với các nước lạc hậu và thường là thu
ộc địa của nó. Nhưng cũng
chính Lênin khi đưa ra “chính sách kinh tế mới” đã nói rằng: những người Cộng
sản phải biêt lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của Chủ
nhĩa Tư bản thông qua hình thức “ tư bản nhà nước”. Theo quan điểm này nhiều
nước đã “chấp nhận” phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát triể
n kinh
tế, như thế có thể còn nhanh hơn là tự thân vận động hay đi vay vốn đẻ mua lại
những kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển. Mặt khác, mức độ “bóc lột”
của các nước tư bản còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị của nước tiếp
nhận đầu tư tư bản. Nếu như trước đây, hoạt động xu
ất khẩu tư bản của các nước
đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính họ thì ngày nay các nước tiếp
nhận đầu tư đã là các quốc gia độc lập có chủ quyền, hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài phải tuân theo pháp luật, sự quản lý của chính phủ sở tại và thông lệ
quốc tế. Nếu các chính phủ của nước sở tại không phạm nh
ững sai lầm trong
quản lý vĩ môt thì có thể hạn chế được những thiệt hại của hoạt dộng thu hút đàu
tư trực tiếp nước ngoài.
Muốn thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước nào đó, nước
được những ưu thế tương đối của mỗi nước, đem lại lợi ích cho cả hai bên: bên
đầ
u tư và bên tiếp nhận đầu tư. Những thuận lợi về kỹ thuật của các công ty cho
phép nó so sánh với các công ty con của nó ơ những vị trí khác nhau do việc tận
dụng tư bản chuyển dịch cũng như chuyển giao công nghệ sản xuất của nước
ngoài tới những nơi mà giá thành thấp.
Xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế xã hội, kết quả của quá trình phân công
lao động xã hộ
i mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nước và
các vùng lãnh thổ từng bước hoà nhập vào nền kinh tế thế giới. Trong xu thế đó,
chính sách biệt lập đóng cửa là không thể tồn tại vì chính sách này kìm hãm quá
trình phát triển của xã hội. Một quốc gia hay vùng lãnh thổ khó tách biệt khỏi
thế giới vì những thành tựu khoa học kỹ thuật đã lôi kéo con người ở khắp nơi
trên thế giớ
i xích lại gần nhau hơn và dưới tác động của quốc tế hoá khác buộc
các nước phải mở của với bên ngoài. Vì vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một
trong những hình thức kinh doanh quốc tế hữu hiệu nhất hiện nay, đã và đang
trở thành phổ cập như một phương thức tiến tạo.
Ngày nay, việc huy động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào m
ột quốc gia
hoặc một vùng lãnh thổ đã và đang trở thành phương thức hữu hiệu nhất, một
yếu tố quan trọng bậc nhất trong cơ cấu ngân sách phát triển của một quốc gia,
một hình thức quan trọng và phổ biến trong mối quan hệ kinh tế quốc tế. Đầu tư
trực tiếp nước ngoài sẽ bù đắp sự thiếu hụt về vốn, công nghệ và lao độ
ng giữa
các nước đang phát triển và các nước phát triển. Một nước đang phát triển sẽ
khai thác tiềm năng vốn có của mình một cách có hiệu qủa hơn khi nhận dược
nguồn vốn và công nghệ từ các nước phát triển thông qua việc liên doanh, hợp
doanh và các dạng đầu tư BOT,BT,BTO… Mặt khác, các nước phát triển sẽ thu
được lợi nhuận cao hơn khi bỏ vốn đầu tư ra nước ngoài- nơi có chi phí đầu vào
tạo ra được điểm đột phá chính xác một mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này. Trở
ngại lớn nhất
để thực hiện điều đó đối với các nước đang phát triển đó là vốn
đầu tư kỹ thuật. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi
mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động… Từ đó tạo tiền đề tăng thu
nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để
tạo vốn cho nền
kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích lũy nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi sẽ là tụt
hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Do đó vốn nước ngoài sẽ là một “cú
hích” để góp phần đột pá cái vòng luẩn quẩn đó. Đặc biệt FDI là một nguồn
quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà không gây nợ cho nước nhận
đầu tư. H
ơn nữa luông vốn này có lợi thé hơn đối với vốn vay ở chỗ: Thời hạn
trả nợ vốn vay thường cố định và dôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư,
còn thời hạn của FDI thì thường linh hoạt hơn.
Theo mô hình lý thuyết “ hai lỗ hổng” của Cherery và Strout, có hai cản trở
chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đủ đáp
ứ
ng cho nhu cầu đầu tư được gọi là: “ lỗ hổng tiết kiệm”. (2) Thu nhập của hoạt
động xuất khẩu không đủ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu
được gọi là: “ lỗ hổng thương mại”. Hầu hết ở các nước đang phát triển hai lỗ
hổng trên rất lớn, vì vậy FDI còn là một nguồn quan trọng không chỉ để bổ sung
nguồn v
ốn nói chung mà cả sự thiếu hụt về ngoại tệ nói riêng bởi vì FDI góp
phần nhằm tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng xuất khẩu của nước
6
nhận đầu tư, thu một phần lợi nhuận từ các công ty nước ngoài, thu ngoại tệ từ
các hoạt dộng dịch vụ phục vụ cho FDI.
- Chuyển giao và phát triển công nghệ:
nghệ từ các cơ sỏ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong nước. Nhờ đó đã gián
tiếp tăng cường năng lực phát triển công nghệ
địa phương. Mặt khác, trong qúa
trình sử dụng công nghệ nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ
nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước học được cách
thiết kế, chế tạo…công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện
sử dụng của địa phương và biến chúng thành công nghệ của minh. Nhờ có
những tác động tích cực trên, khả năng công nghệ
của nước chủ nhà được tăng
cường, vì thế nâng cao năng suất các thành tố, nhờ đó thúc đẩy được tăng
trưởng.
- Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm7
Nguồn nhân lực có ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuát, các vấn
đè xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư. Việc cải thiện chất lượng cuộc sông
thông qua đầu tư vào các lĩnh vực: sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục, đào tạo nghề
nghiệp và kỹ năng quản lý sẽ tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, nâng cao
được năng suất lao
động và các yếu tố sản xuất khác, nhờ đó thúc đẩy tăng
trưởng.
Ngoài ra, tạo việc làm không chỉ tăng thu nhập cho người lao động mà còn
góp phần tích cực giải quyết các vấn đề xã hội. Đây là các yếu tố có ảnh hưởng
rât lớn dến tốc độ tăng trưởng.
FDI ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hội tạo ra công việc làm thông qua việc cung
cấp việc làm trong các hãng có vố
n đầu tư nước ngoài. FDI còn tạo ra những cơ
hội việc làm trong những tổ chức khác khi các nhà đầu tư nước ngoài mua hang
háo dịch vụe từ các nhà sản xuất trong nước, hoạc thuê họ thông qua các hợp
tốc độ tăng trưởng.
8
Thông qua FDI, các nước đang phát triển có thể tiếp cận với thị trường thế
giới bởi vi, hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty xuyên quốc gia thực
hiện, mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng
những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ về chất lượng,
kiểu dáng sản phẩm và giao hàng đúng hẹn.
- Liên kết các ngành công nghiệ
p
Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu qua tỷ trọng
giá trị hàng hoá (tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào), dịch vụ trao đổi trực
tiếp từ các công ty nước ngoài ở nước chủ nhà. Việc hình thành các liên kết này
là cơ sở quan trọng để chuỷen giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và
thúc đẩy xuất nhập khẩu của nước chủ nhà.
Cụ th
ể: Qua các hoạt động cung ứng nguyên vật liệu, dịch vụ cho các công
ty nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp nội địa phát triển năng
lực sản xuất của mình (mở rộng sản xuất, bắt chước quy trình sản xuất và mẫu
mã hàng hoá…). Sau một thời gian nhât định các doanh nghiệp trong nước có
thể tự xuất nhập khẩu được.
- Các tác động quan trọng khác
Ngoài những tác động kể trên, FDI còn tác động đáng kể đến các yếu tố ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế như: chất lượng môi trường, cạnh tranh và độc
quyển, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, hội nhập khu vực và quốc tế.
Mặc dù chất thải của các công ty nước ngoài, nhất là trong các ngành khai
thác và chế tạo, là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình trạng ô
nhiễm môi trường tr
ầm trọng ở các nước đang phát triển tuy nhiên có nhiều
văn hoá các dân tộc trên thế giới. ĐTNN tác động mạnh vào mối quan hệ giữa
giữ gìn bản sắc của dân tộc và itếp nhận nền văn hoá bên ngoài ở các mặt quan
trọng như: đổ
i mới tư duy; thái độ và đạo đức nghề nghiệp; lối sống, tập quán;
giao tiếp ứng xử; bình đẳng giới và các vấn đề xã hội.
Chất lượng của tư duy là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Đổi mới
tư duy tức là đổi mới cách nghĩ, cách làm. FDI tác động rât tích cực vào quá
trình này thông qua trực tiếp đào tạo các nhà quản lý bản địa có kiến thức kinh
doanh hiện đại, những lao động làm việc trong các công ty nước ngoài, tiếp xúc
với công nghệ hiện đại và gián tiếp tạo ra trong xã hội, nhất là thế hệ trẻ, một lối
nghĩ mới có hiệu quả của nền kinh tế thị trường.
Thái độ và đạo đức nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lứon đén hành vi và chất
lượng lao động của mỗi cá nhân. Do hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay
gắt, những người làm việc trong cac dự án ĐTNN phải có thái độ nghjiêm túc
với công việc và đảm bảo uy tín cao đối với khách hàng. Nhờ đó, góp phần
quan trọng hình thành nên phong cách kinh doanh có văn hoá.
Đầu tư nước ngoài đã làm thay đổi đáng kể lối sống, tập quán của các tầng
lớp dân cư theo kiểu hiện đại, tiêu dùng công nghiệp. Tác phong công nghiệp đã
buộc người lao động phải tiết kiệm thời gian cho gia đình và sinh hoạt cá nhân
Đầu tư nước ngoài tác động tích cực đến văn hoá giao tiếp, ứng xử ở nước
chủ nhà. Những người làm việc trong khu vực ĐTNN hoặc có quan hệ với các
công ty nước ngàoi thường có phong cách giao tiếp lịch sự và thái độ ứng xử
hoà nhã, tôn trọng đồng nghiệp và khách hàng. Phong cách này dần đần lan toả
ra các cá nhân trong toàn xã hội.
- Chủ quyền an ninh quốc gia
ĐTNN chủ yếu được thực hiện bởi TNCs có tiềm lực mạnh về tài chính,
khoa học công nghệ và mạng lưới phân phối trên phạm vi toàn cầu. Do đó, khi
tiếp nhận ĐTNN các nước đang phát triển rất lo ngại trước sức mạnh của các
quá trình đầu tư và các yếu tố đầu tư bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp
kinh tế - xã hội , tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả,
hiệ
u quả đầu tư, hiệu quả kinh tế – xã hội cao nhất trong điều kiện cụ thể xác
định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan vf quy luật đặc
thù của đầu tư.
1.2. Sự cần thiết phải có sự quản lí của nhà nước đối với hoạt động đầu
tư nói chung và các dự án nói riêng.
Đối với các dự án dân lập
:
- Đầu ra của các dự án là sản phẩm, dịch vụ và chất thải các loại .Với đầu
ra là chất thải , rất có hại cho sức khoẻ của cộng đồng, nhà nước không thể bỏ
qua. Ngay cả những sản phẩm hoặc dịch vụ được tạo ra từ dự án cũng không
đương nhiên là có lợi cho cộng đồng mà vẫn có thể có hại. Vì vậy, nhà nước
11
phải quản lí dự án dân lập để ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của đầu ra do
dự án gây nên.
- Đầu vào của dự án là các yếu tố mà sự hoạt động dự án sẽ sử dụng : tài
nguyên, lao động, máy móc, thiết bị. Việc sử dụng các đầu vào đó của dự án sẽ
ảnh hưởng đến cộng đồng về nhiều mặt. Vì vậy, nhà nước cần phải qu
ản lí các
dự án dân lập để cân đối các nguồn lực trong nền kinh tế, tránh rối loạn, thừa
thiếu trong nền kinh tế.
- Các đặc tính của mỗi công trình do dự án tạo ra, chỉ tiêu kiến trúc, kết
cấu, địa điểm phân bố… có ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an
ninh… rất sâu sắc. Vì vậy, nhà nước củng phải quản lí các dự án dân lập trên các
mặt quy hoạch , xây dựng …
- Nhà n
ước quản lí dự án dân lập để ngăn ngừa các hiện tượng áp bức, bóc
hết thể hiện ở khả năng tạo dựng môi trường đầu tư hấp dẫn. Sự hấp dẫn c
ủa
12
môi trường đối với các nhà đầu tư nước ngoài chính là sự ổn định chính trị, ổn
định kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý an toàn, các thủ tục hành chính đơn giản,
cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển và có những định hướng đúng đắn
khuyến khích các nhà đầu tư kinh doanh có hiệu quả và an toàn.
Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động và sử dụng có
hiệu quả nguồn vốn FDI. Ch
ỉ có nhà nước với quyền lực và chức năng của mình
mới có khả năng tạo lập được môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh cao so
với các nước trong khu vực và thế giới để khuyến khích các nhà đầu tư nước
ngoài. Vai trò quản lý nhà nước đối với FDI được thể hiện thông qua vai trò của
nhà nước trong việc hình thành phát triển và hoàn thiện môi trường đầu tư cho
sự vận động có hiệu quả FDI.
Ổn định chính trị và môi trường kinh tế vĩ mô cho sự vận động vốn FDI:
Các nhà đầu tư chỉ có thể sẵn sàng bỏ vốn vào kinh doanh tại một quốc gia
mà ở đó có sự ổn định chính trị và ổn định kinh tế vĩ mô. Ổn định chính trị là
điều kiện trước tiên đảm bảo an toàn cho sự vận động của các hành vi kinh tế.
Vì vậy ổn định chính trị là yêu cầu đặt ra đầu tiên đối vớicác nhà đầu tư nước
ngoài khi lựa chọn m
ột nước là địa bàn đầu tư. FDI là hoạt động đầu tư tư nhân.
Nhưng hoạt động đầu tư dù trong nước hay nước ngoài đều được nhà nước hỗ
trợ dưới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động này hơn nữa còn tạo đựoc sự
đảm bảo, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cua các tổ chức kinh tế và tổ chức quốc
tế. Nhà n
ước có vai trò quyết định trong việc lựa chọn , thực thi chính sách kinh
tế và chương trình đối ngoại theo hướng mở rộng các quan hệ song phương và
đa phương với các nước và các tổ chức quốc tế cũng như đảm bảo uy tín của các
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế của đất nước cần được thể hiện thông
qua các quyết định của luật pháp, chính sách của nhà nước. Khi luật pháp, chính
sách được xây dựng đúng đắn, phù hợ
p, công tác chỉ đạo điều hành thực thi
nghiêm túc thì sẽ đạt được các định hướng và mục tiêu quản lý của nhà nước đối
với hoạt động FDI. Ngược lại, nếu những định hướng và mục tiêu quản lý không
được thực hiện đầy đủ thì trước hết là do sự chưa hoàn chỉnh trong chế định
pháp luật, chính sách và trong công tác điều hành thực hiện các chế định được
ban hành.
Hệ thố
ng pháp luật càng hoàn chỉnh, phù hợp với các thông lệ của khu vực
và quốc tế, không có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp trong hay ngoài nước,
công tác quản lý của nhà nước ngày càng đơn giản tạo điều kiện thuận lợi cho
các nhà đầu tư thì môi trường đầu tư càng có tính cạnh tranh cao và càng có khả
năng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.
Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và đả
m bảo an toàn
cho sự vận động của FDI:
Cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh của nhà đầu tư, là cơ sở hình thành các chỉ tiêu kinh tế-
kỹ thuật của các dự án đầu tư. Cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển tạo điều
kiện cung cấp các dịch vụ thông tin để mở rộng quan hệ thươ
ng mại, giao lưu
hàng hoá, giảm chi phí sản xuất đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận
cho nhà đầu tư. Vì vậy, đây là yếu tố tác động mạnh mẽ vào sự quyết định của
nhà đầu tư khi lựa chọn địa điểm đầu tư.
Đối với quốc gia đang phát triển, trình độ cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội yêu
kém. Vì vậy vai trò của nhà n
ước là hết sức quan trọng trong việc huy động và
phân bổ các nguồn vốn tập trung đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã
Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với việc loại trừ vai trò của kế hoạch
hoá mà trái lại rất cần sự định hướng và điều tiết của nhà nước thông qua các
công cụ, chiến lược, mục tiêu, chương trình, kế hoạch, qui hoạch. Chức năng
định hướng của nhà nước trước hết thể hiện ở việc xác định đúng đắn chiến lược
phát tri
ển kinh tế của đất nước, từ đó xác định phương hướng, nhiệm vụ kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Trên cơ sở chiến lược phát
triển dài hạn và kế hoạch trong từng thời kỳ xây dựng các phương án, mục tiêu,
chương trình hành động quốc gia, qui hoạch và kế hoạch phát triển tổng thể nền
kinh tế. Từ đó tiến hành qui hoạ
ch thu hút các nguồn vốn cho việc thực hiện các
phương án, mục tiêu, chương trình quốc gia. Công tác định hướng của nhà nước
với FDI phải được cụ thể hoá bằng việc xây dựng danh mục các dự án kêu gọi
vốn đầu tư nước ngoài, xác định các lĩnh vực ưu tiên, địa điểm ưu tiên FDI. Để
đạt được mục tiêu định hướng thu hút FDI vào các lĩnh vực ưu tiên, địa bàn ưu
tiên thực hi
ện mục tiêu phát triển kinh tế, nhà nước cần vận dụng các công cụ
kinh tế để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài.
Bảo hộ và hỗ trợ
Nhà nước là chủ thể quản lý cao nhất là người đại diện cho quyền lợi của cả
cộng đồng quốc gia. Vì vậy chỉ có nhà nước mới có đủ tư cách, sức mạnh, tiềm
lực để bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài và của các nhân người nước ngoài. Chức năng bảo hộ của nhà nước
được thực hi
ện trước hết ở việc bảo hộ quyền sở hữu tài sản và lợi nhuận hợp
15
pháp của nhà đầu tư nước ngoài. Bởi vì sở hữu là nguồn gốc là động lực mạnh
mẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động đầu tư.
tại độc lập mà tác động qua lại lẫn nhau. Chỉ có thể quản lý tốt các hoạ
t động
đầu tư nước ngoài khi các chức năng quản lý được thực hiện một cách đồng bộ
và thuần nhất.
2.3. Nội dung của quản lý nhà nước với FDI
Để đạt được mục tiêu, thực hiện vai trò, chức năng quản lý nhà nước trong
việc định hướng, tạo dựng môi trường, điều tiết hỗ trợ và kiểm tra kiểm soát các
hoạt động FDI, nội dung quản lý nhà n
ước đối với FDI bao gồm những điểm
chủ yếu sau:
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật và các văn bản pháp luật liên quan
đến FDI bao gồm sửa đổi, bổ sung luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam các văn
bản hướng dẫn thực hiện cũng như các văn bản pháp qui các để điều chỉnh bằng
16
pháp luật các quan hệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm định hướng FDI
theo mục tiêuu đề ra.
Xây dựng quy hoạch theo từng ngành, từng sản phẩm, từng địa phương
trong đó có quy hoạch thu hút FDI đương nhiên phải dự trên qui hoạch tổng thể
phát triển kinh tế đất nước. Từ đó xác đinh danh mục các dự án ưu tiên kêu gọi
vốn đầu tư nước ngoài, ban hành các định mức kinh tế
kĩ thuật, chuẩn mực đầu
tư.
Vận động hướng dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong việc xây
dựng dự án đầu tư, lập hồ sơ dự án, đàm phán, kí kết hợp đồng, thẩm định và
cấp giấy phép.
Quản lí các dự án đầu tư sau khi cấp giấy phép
- Điều chỉnh, xử lý các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình hoạ
t động,
giải quyết những ách tắc của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các bộ
:
17
- Bộ kế hoạch đầu tư:
+ Trình Chính phủ các dự luật, pháp lệnh, văn bản qui phạm có liên quan
đến đầu tư.
+ Xác định phương hướng và cơ cấu vốn đầu tư để đảm bảo sự cân đối giữa
đầu tư trong nước và nước ngoài.
+ Cấp giấy phép đầu tư và hướng dẫn với các dự án có vốn đầu tư nước
ngoài.
+ Quản lý nhà nướ
c về việc lập, kiểm tra,xét duyệt các dự án quy hoạch,
phát triển kinh tế-xã hội.
- Bộ xây dựng:
+ Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng, nghiên cứu các cơ
chế, chính sách về quản lý xây dựng, qui hoạch đô thị và nông thôn.
+ Ban hành các tiêu chuẩn qui phạm, qui chuẩn xây dựng.
+ Theo dõi, kiểm tra chất lượng các công trình
- Bộ tài chính:
+ Nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về tiền t
ệ, tín dụng ngân
hàng trong đầu tư và xây dựng.
+ Giám sát các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính thực hiện các nhiệm
vụ, huy động vốn, cho vay vốn, bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực
hiện hợp động, bảo lãnh dự thầu.
- Các bộ có liên quan:
+ Các bộ quản lý ngành về đất đai, tài nguyên, công nghệ, môi trường,
thương mại, bảo tồn bảo tàng di tích di sản văn hoá, quốc phòng, an ninh, phòng
cháy chữa cháy… Có trách nhiệm xem xét và có ý kiế
thoáng và có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.
3.2. Trung Quốc
Sau 20 nă
m (1979-1999) thực hiện chính sách cải cách mở cửa, kinh tế
Trung Quốc đã dạt đựoc nhiều thành tựu to lớn, thu hút sự chú ý của nhiều
ngwofi trên thế giới. Thời kỳ 1979-1994 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân
9,3%/năm; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân 16,2%/năm; Sản
lượng các sản phẩm chủ yếu cũng đều tăng với tốc độ nhanh. Cho dến nay,
tưong ứ
ng với các thời kỳ, nền kinh tế Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc
độ tăng trưởng. Vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày càng nâng lên
rõ rệt. Nhiều nhà kinh tế nhận định rằng, từ nay đến hết thập niên đầu thế kỷ
XXI vẫn là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc. Một trong
những yếu tố
chi phối mạnh mẽ sự phát triển kinh tế Trung Quốc 20 năm qua là
sự thành công trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Đối với Trung Quốc, đầu tư
trực tiếp nước ngoài thực sự trở thành động lực của sự phát triển và chính nó đã
làm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá.
Nếu đến năm 1991, Trung Quốc chỉ đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong
các nước đang phát triển về thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài thì chỉ 2 năm sau
(1993) Trung Quốc đã đứng thứ 2 trên thế giới ( sau Mỹ ) và đứng đầu các nước
đang phát triển về lĩnh vực này. Năm 1993 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng
kí vào Trung Quốc là 111,436 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện là 33, 767 tỷ
USD. Đây là một kỷ lục chưa từng có trên thế giới. Nếu lượng vốn đầu tư trự
c
tiếp thực hiện ở Trung Quốc tính đến năm 1992 đạt mức 50,9 tỷ USD thì đến
năm 1998 đã lên tới 259,858 tỷ USD. Như vây, trong thời kỳ 20 năm (1979-
1998) tính bình quân ở Trung Quốc mỗi năm có tới gần 13 tỷ USD vốn đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài được thực hiện ( bằng 11,8 lần vốn đầu tư trực tiếp nước
20
Chương II
THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI I. Thực trạng về hoạt động FDI tại Việt Nam trong thời gian
qua.
1. Thực trạng thu hút FDI
Đến hết năm 2003 đã co 4986 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp
giây phép đầu tư vào Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký là 44.533 triệu USD.
Tính bình quân mỗi năm Việt Nam cấp phép cho 311 dự án với mức binh quân 1
dự án 2.783,3 triệu USD vốn đăng ký.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong 16 năm qua biểu hiện khá
rõ nét của một động thái thiếu
21
Quan sát bức tranh tổng thể về mức độ hấp dẫn của các ngành đối với FDI
của cả thời kì 1988-2003 ta thấy: Công nghiệp vẫn là lĩnh vực thu hút FDI nhiều
nhất (chiếm 56,8% tổng lượng vốn đăng ký, 66,8% tổng số dự án), trong đó chủ
yếu là công nghiệp nặng (chiếm 22,2% vốn đăng ký và 27,6% số dự án). Tiếp
đến là dịch vụ (chiếm 36,2% tổng số vốn đăng ký và 19,4% số
dự án) và thấp
nhất là nông-lâm nghiệp, thuỷ sản (Xem bảng 1)
Bảng 1: FDI tại Việt Nam 1988-2003 theo ngành kinh tế (Các dự án
còn hiệu lực)
Ngành Số dự án Vốn đầu tư (USD)
% tổng
vốn
% tổng
dự án
Vốn thực hiện
(USD)
% vốn
thực
hiện
1.Công nghiệp 2.849 22.983.233.183 56,8 66,8 16.212.762.451 68
Dầu khí 29 1.931.109.730 4,8 0,7 4.552.178.963 19
CN nhẹ 1.155 6.050.109.730 14,9 27,1 2.712.071.794 11
CN nặng 1.177 8.981.951.724 22,2 27,6 5.462.140.476 23
CN thực phẩm 209 2.540.121.426 6,3 4,9 1.547.295.061 6
Xây dựng 279 3.479.417.082 8,6 6,5 1.939.076.157 8
2. Nông lâm
nghiệp
586 2.860.016.748 7,1 13,7 1.528.314.192 6
Nông lâm
V qui mụ bỡnh quõn ca d ỏn thỡ cỏc d ỏn u t vo lnh vc dch v
thng cú qui mụ ln hn, tip n l cỏc d ỏn thuc lnh vc cụng nghip, cũn
cỏc d ỏn trong lnh vc nụng nghip thng cú quy mụ nh hn c.
66.82%
13.74%
19.44%
56.75%
7.06%
36.19%
67.51%
6.36%
26.13%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
Số dự án Vốn đầu t Vốn thực hiện
Cơ cấu FDI tại VN 1988-2003 theo ngnh
(Các dự án còn hiệu lực)
Dịch vụ
Nông lâm nghiệp, thuỷ
sản
hiện dự án còn đòi hỏi nhiều giấy tờ, lại phải thông qua nhiều khâu, nhiều nấc,
và rất phức tạp, trong khi đó người nước ngoài còn ít hiểu biết về các điều kiện
kinh tế- xã họi và phát luật của Việt Nam, họ thường gặp khó khăn trong giao
dịch, quan h
ệ cùng một lúc với khá nhiều cơ quan chức năng của Việt Nam để
có được đầy đủ các điều kiện triển khai xây dựng cơ bản cũng như tổ chức thực
hiện dự án đầu tư. Tronghoàn cảnh như vậy, đa số các nhà đầu tư thích lụa chọn
hình thức liên doanh để đối tác bên Việt Nam đứng ra lo các thủ tục pháp lý cho
sự hoạt động củ
a doanh nghiệp hiệu quả hơn.
Sau một thời gian hoạt động trong môi trường đâu tư ở Việt Nam, các nhà
đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu á có điều kiện để hiểu biết
hơn về pháp luật, chính sách, phong tục tập quán và cách thức hoạt động kinh
doanh ở Việt Nam. Sự am hiểu của các nhà đầu tư được nâng lên trong điều kiện
các thủ tục cấp phép c
ủa Việt Nam đang từng bước được cải tiến theo hướng
ngày càng đơn giản hơn trước, và cùng với sự xuất hiện những tổ chức tư vấn
giúp các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện cac thủ tục triển khai, tổ chức sản xuất
kinh doanh của các dự án tương đối có hiệu quả. Vì vậy, nhu cầu có đối tác có
đối tác Việt Nam để tiến hành thủ tục,
đối với nhà đầu tư nước ngoài đã giảm đi
một cách đáng kể. Không những thế, khi tham gia liên doanh do khả năng của
phía Việt Nam thường yếu cả về vốn đóng góp lẫn cán bộ quản lý, mặt khác
nhiều nhà đầu tư nước ngoài không muốn chia sẻ quyền điều hành doanh nghiệp
với bên VIệt Nam nên họ thấy không cần thiết phải có đối tác Việt Nam trong
hoạt động
đầu tư. Do đó, số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
theo hình thức liên daonh đã giảm xuống (chỉ còn 26,99% số dự án và 44,97%
vốn đầu tư), đồng thời hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đang ngày
càng có xu hướng tăng lên cả tuyệt đối lẫn tương đối. Nếu thời kỳ đầu chỉ có
tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Số liệu trên cho thấy đã có nhiều nhà đầu tư xuất phát từ các nước tương đối
phát triển có dự án đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay thì sự có mặt của các nhà đầu tư
thuộc các tập đoàn kinh tế lớn chưa nhiều. Đây chính là m
ột trong những chỉ
báo quan trọng khi chúng ta thực thi các chính sách có liên quan đến việc cải
thiện môi trường đầu tư của Việt Nam.
2. Tình hình thực hiện của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam
Đến hết năm 2003, có 1.200 dự án sau một thời gian triển khai sản xuất
kinh doanh có hiệu quả đã đề nghị Chính phủ Việt Nam cấp phép tăng vốn, mở
rộng sả
n xuất. Tổng số vốn đã được phê duyệt tăng thêm là 8,825 triệu USD
(bằng 19,82% tổng số vốn đăng ký và bằng 24,07% số dự án được cấp giấy
phép).
Tổng số vốn của các dự án hết thời hạn thực hiện hợp đồng 628 triệu USD
(bằng 1,46% tổng số vốn đăng ký); số vốn thuộc các dự án đã giải thể là 9.974
triệu USD (bằng 23,2% tổ
ng số vốn đăng ký).
Đến hết năm 2003 tổng số vốn đã thực hiện bằng 53,58% của tổng số vốn
đăng ký. Trong điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc
hậu, ccác nguồn lực cũng như chính sách đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều
biến động, thị trường phát triển chưa đầy
đủ……. thì tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài thực hiện được ở mức như vậy là không thấp. Về tình hình hoạt
động, các dự án trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí theo hình thức hợp
đồng phân chia sản phẩm và dịch vụ viễn thông theo hình thức hợp đồng hợp tác