z
Đề án
NHỮNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
VÀ CÁC GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN
CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Giáo viên h
Giáo viên h
ướng dẫn
ướng dẫn
:
:
Sinh viên thực hiện
Sinh viên thực hiện
:
:
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
1
Phần I: Những vấn đề lý luận cơ sở về hoạt động huy động vốn cho
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
3
Phần II: Thực trạng vốn của doanh nghiệp Nhà nước - Yêu cầu
bức thiết của việc huy động vốn cho doanh nghiệp Nhà nước hiện
nay
8
* Thực trạng huy động vốn trong các doanh nghiệp Nhà nước 10
1. Huy động vốn trong doanh nghiệp Nhà nước thời kỳ trước khi đổi
thuộc mọi thành phần kinh tế đã tăng nhanh cả số lượng lẫn chất lượng.
Song do nền kinh tế nước ta còn khó khăn, khả năng tích luỹ từ nội bộ còn
thấp, trừ một số doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài là có qui mô lớn, còn lại các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ
chiếm tỉ lệ trên 95% trong hệ thống các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt
nam. Do qui mô nhỏ và các khó khăn của nền kinh tế cho nên các doanh
nghiệp ở nước ta thường xuyên bị thiếu vốn để hoạt động sản xuất kinh
doanh, đặc biệt là năm 1996, hầu hết các doanh nghiệp nước ta đều bị thiếu
vốn trầm trọng trong khi đó đã xảy ra một nghịch lí là vốn ứ đọng ở các
Ngân hàng thương mại tới hàng ngàn tỉ đồng. Rõ ràng doanh nghiệp thiếu
vốn không phải do Ngân hàng thiếu vốn mà là do doanh nghiệp chưa có các
giải pháp khai thác các nguồn và huy động vốn một cách hợp lí. Thiếu vốn
sản xuất kinh doanh đã kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế, sự thiệt hại
và kìm hãm càng trở nên sâu sắc hơn khi toàn bộ các doanh nghiệp Nhà
nước bị thiếu vốn vì rằng doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế, nó nắm giữ các ngành then chốt và phần lớn các nguồn
lực của xã hội. Do đó, việc tìm ra các giải pháp huy động vốn cho các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung và doanh nghiệp Nhà
nước nói riêng đã trở nên cấp thiết !
Với mục đích vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết vấn đề vốn
cho doanh nghiệp Nhà nước, em chọn đề tài
"Những hoạt động huy động vốn và các giải pháp huy động vốn cho
các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta hiện nay".
Đề án được chia thành ba phần:
Phần I: Những vấn đề lí luận cơ sở về hoạt động huy động vốn cho
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng việc huy động vốn ở các doanh nghiệp Nhà
nước ở nước ta hiện nay.
Phần III: Những giải pháp huy động vốn cho doanh nghiệp nhà
nước ở nước ta hiện nay.
nghiệp nước ta thiếu vốn để trang bị và đổi mới những công nghệ hiện đại.
Mặt khác, hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng chưa cao, đặc biệt là các doanh
nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp. Trong nhiều năm trước đây do cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp chi phối, nên quá trình tích tụ và tập trung vốn
trong công nghiệp không được quan tâm đẩy mạnh.
Điều đó do một số nguyên nhân:
- Tỷ lệ giữa tiêu dùng và đầu tư ở các xí nghiệp quốc doanh trong lĩnh vực
công nghiệp đã không dưạ vào yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất,
cũng không dựa vào hiệu quả kinh tế mà chỉ dựa vào các chỉ thị kế hoạch
khô cứng, vì thế quá trình tích tụ, tập trung vốn đã không được đẩy mạnh.
- Việc tái đầu tư đôi khi chưa được tính toán kỹ về hiệu quả kinh tế, quá
trình tập trung vốn nhiều khi mang nặng tính chất hình thức. Tuy nhiên
phải thừa nhận rằng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cho phép chúng ta
tập trung vốn một cách nhanh chóng và có hiệu quả để xây dựng các công
trình trọng điểm quy mô lớn. Thực ra, ngay từ xa xưa các nhà kinh tế đã
đánh giá cao vai trò của vốn đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
Chẳng hạn, luận điểm: "Lao động là cha, đất đai là mẹ" của mọi của cải vật
chất đã được nhà kinh tế học người Anh Uyliam Petty đưa ra từ thế kỷ
XVI. Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi đó người ta đã nhận thức rõ
những yếu tố cơ bản để tạo ra mọi của cải cho xã hội, đó là nguồn lực con
người và đất đai, tài nguyên thiên nhiên. Kế thừa những tư tưởng của các
nhà kinh tế cổ điển, Mác đã trình bày quan điểm của mình về vai trò của
vốn qua các học thuyết: Tích lũy, tuần hoàn và chu chuyển, tái sản xuất tư
bản xã hội, học thuyết địa tô... Đặc biệt là Mác đã chỉ ra nguồn gốc chủ yếu
của vốn tích lũy là lao động thặng dư do những người lao động đặt ra, và
nguồn vốn đó khi đem vào việc mở rộng và phát triển sản xuất thì nó vận
động như thế nào. Khi nghiên cứu nền sản xuất TBCN, Mác đã tìm thấy
qui luật vận động của tư bản (vốn) mà qui luật này nếu ta trừu tượng những
biểu hiện cụ thể về mặt xã hội thì sẽ thấy một điều bổ ích bằng công thức
SLĐ
Từ đó, Mác khẳng định: "Sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản, nếu muốn duy
trì tư bản của mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng thêm và hắn
không thể naò tiếp tục làm cho tư bản đó ngày một tăng lên được, nếu
không có một sự tích lũy ngày càng nhiều thêm".
Một số nhà kinh tế học khác cũng bàn về vốn và tích lũy vốn trong nền
kinh tế, mà tiêu biểu là cuốn "Kinh tế học" của Paul A. Samuelson. Ông
viết: "Hàng tư bản do bản thân hệ thống kinh tế sản xuất để được sử dụng
làm đầu vào của sản xuất để làm ra hàng hoá dịch vụ. Các hàng tư bản lâu
bền này, vừa là đầu ra, vừa là đầu vào, có thể tồn tại một thời gian dài hoặc
một thời gian ngắn. Chúng có thể được cho thuê trên thị trường có tính
cạnh tranh như cho thuê những mẩu đất hoặc những giờ lao động. Tiền trả
cho việc sử dụng tạm thời những hàng tư bản gọi là tiền cho thuê". Ông còn
cho rằng thực chất của tích lũy chính là chúng ta thường chịu bỏ tiêu dùng
hiện nay để tăng tiêu dùng cho tương lai. Như vậy xã hội đầu tư, hay nhịn
tiêu dùng hiện tại, mà chờ để thu được lợi tức do đầu tư đó tạo ra.
Một nhà nghiên cứu kinh tế người Hàn Quốc tên là Sang Sung Part từ thực
tế kinh tế của Hàn Quốc cùng một số tài liệu nghiên cứu của các nước đang
chậm phát triển, ông đã so sánh với nhiều nước phát triển và đi đến kết luận
được nhiều người chấp nhận là "Các nước đang phát triển có rất ít khả năng
sản xuất tư liệu sản xuất, đặc biệt là máy móc thiết bị, nhất là trong giai
đoạn đầu của thời kỳ phát triển một nền kinh tế tự cấp, tự túc. Tiết kiệm
bằng tiền của người tiêu dùng sẽ là quá ít ỏi để có thể đầu tư ở những nơi
còn chưa có khả năng sản xuất ra tư liệu sản xuất".
Từ nhận định trên Sang Sung Part đã định nghĩa về vốn và tổng số vốn như
sau: "Dưới dạng tiền tệ, vốn được định nghĩa là khoản tích lũy, là phần thu
nhập thường có chưa được tiêu dùng. Về mặt hiện vật, vốn được chia thành
hai phần: vốn cố định và vốn tồn kho, là các tư liệu sản xuất được sản xuất
bằng hiện vật được sản xuất trong khu vực sản xuất hay được nhập khẩu".
Và "Tổng số vốn tích lũy còn được gọi là tài sản quốc gia, được tích lũy từ
lượng sản phẩm vật chất hiện có và được trực tiếp sử dụng vào quá trình
- Vốn trong nước là toàn bộ những yếu tố cần thiết để cấu thành quá trình
sản xuất, được hình thành nên từ nguồn lực kinh tế và sản phẩm thặng dư
của nhân dân lao động trong một quốc gia.
Như vậy, cùng với quan niệm về vốn của kinh tế chính trị Mác xít, các nhà
kinh tế học hiện đại mà tiêu biểu là Paut A. Samuelson cũng đã nghiên cứu
về vốn dưới các góc độ khác nhau, nhưng tất cả những sự nghiên cứu đó
chỉ làm rõ thêm bức tranh toàn cảnh về vốn mà Mác đã phát triển từ lâu.
Để đạt được mục tiêu tích lũy vốn cao thì vấn đề tiếp theo là phải xác định
được mức tích lũy vốn trong GDP cần hướng tới trong từng giai đoạn phát
triển của nền công nghiệp. Ứng với mỗi mục tiêu khác nhau thì mức tích
lũy vốn trong nước thường khác nhau, vấn đề là phải xác định được mức
tích lũy vốn chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong GDP sẽ quyết định quá trình tích
tụ và tập trung của các doanh nghiệp. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho
thấy muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế thì tỷ lệ tích lũy vốn trong
nước thường phải chiếm 3% trong GDP.
PHẦN II: THỰC TRẠNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC-YÊU CẦU BỨC THIẾT CỦA VIỆC HUY ĐỘNG VỐN CHO
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
Theo kết quả đợt kiểm trra đánh giá lại tài sản và vốn của doanh nghiệp
Nhà nước tiến hành ngày 1/1/1996 thì tổng số vốn kinh doanh của 5775
doanh nghiệp Nhà nước đơn vị bàn giao là 68539 tỷ đồng (không kể giá trị
diện tích đất trong sử dụng.). Trong đó, doanh nghiệp TƯ 50761,8 tỷ,
doanh nghiệp địa phương 17778 tỷ đồng. Nếu trừ đI số vốn không hoạt
động, bao gồm giá trị tài sản chờ thanh lí, không cần sử dụng, nợ khó đòi,
nợ phải thu được khoanh lại thì số vốn thực sự hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp Nhà nước là 60459 tỷ đồng, bằng 88,2% số vốn hiện có. Nếu