Làn điệu sli, lượn và lễ hội Oóc Pò của người Nùng Phàn, Slình ở xã Hoà Bình huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên - Pdf 84



S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn đại học thái nguyên
tr-ờng đại học s- phạm
---------------------------------

hoàng thuý nga

sli, l-ợn và lễ hội oóc pò của ng-ời nùng phàn
slình ở hoà bình - đồng hỷ - thái nguyên
luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn

luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hằng Ph-ơng tHáI NGUYÊN - 2010

LI CM N Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em
đã nhận đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ. Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới:
Nhà trƣờng, khoa Ngữ văn và các thầy cô giáo đã giảng dạy em
trong suốt khoá học.
TS. Nguyễn Hằng Phƣơng đã tận tâm hƣớng dẫn, chỉ bảo cho em
trong suốt quá trình nghiên cứu để em hoàn thành luận văn của mình.
Bác Hoàng Văn Toòng, bác Hoàng Văn Bạn và nhân dân xã Hoà Bình đã
nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình đi điền dã sƣu tầm và dịch tƣ liệu.

1.2. Ngƣời Nùng Phàn Slình ở Hoà Bình - Đồng Hỷ - Thái Nguyên ............15
1.3. Khái lƣợc về sli, lƣợn…………………….…………..............................24
Chƣơng 2. SLI, LƢỢN CỦA NGƢỜI NÙNG PHÀN SLÌNH Ở HOÀ BÌNH -
ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN..........................................................................32
2.1. Những nội dung cơ bản của sli, lƣợn ở Hoà Bình - Đồng Hỷ - Thái
Nguyên............................................................................................................32
2.1.1. Tiếng hát ca ngợi con ngƣời..................................................................32
2.1.2. Tiếng hát tâm tình của đôi lứa...............................................................37
2.1.3. Bức tranh nông thôn miền núi...............................................................43
2.2. Một số yếu tố nghệ thuật của sli, lƣợn ở Hoà Bình - Đồng Hỷ - Thái Nguyên.........52
2.2.1. Ngôn ngữ...............................................................................................52
2.2.2. Kết cấu...................................................................................................59
2.2.3. Diễn xƣớng sli, lƣợn..............................................................................63
Chƣơng 3. LỄ HỘI OÓC PÒ VỚI SLI, LƢỢN CỦA NGƢỜI NÙNG PHÀN
SLÌNH Ở HOÀ BÌNH - ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN....................................70
3.1. Các nghi thức và yếu tố tâm linh trong lễ hội Oóc Pò ............................70
3.2. Mối quan hệ giữa lễ hội Oóc Pò với các làn điệu sli, lƣợn .....................83
3.3. Bảo tồn, phát huy những giá trị của lễ hội Oóc Pò và các làn điệu sli lƣợn .........93
KẾT LUẬN………………………………………….....………………….....99
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………….……………………....….104
PHỤ LỤC …………….…………………………………………………….116
MỞ ĐẦU
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc, mỗi địa
phƣơng có những nét độc đáo riêng về văn hoá tinh thần và văn hoá vật chất.
Những nét riêng, nét độc đáo ấy tạo nên một vƣờn hoa muôn màu sắc, tạo nên
sự thống nhất trong tính đa dạng của nền văn hoá Việt Nam. Vì vậy việc giữ

tìm hiểu, sƣu tầm các làn điệu sli, lƣợn, và lễ hội Oóc Pò, lòng nhiệt tình, sự
say mê của những ngƣời dân nơi đây đã thúc đẩy tôi thực hiện đề tài này.
Đồng Hỷ là một vùng đất giàu truyền thống văn hoá với sự đa dạng của
các dân tộc anh em cùng chung sống. Trƣớc sự vận động và phát triển của xã
hội, những yếu tố của cuộc sống hiện đại tác động mạnh đến đời sống của mỗi
ngƣời dân. Thực tế: “Thanh niên bây giờ không mấy quan tâm đến văn hoá
của dân tộc mình, số người thuộc, biết hát những làn điệu sli, lượn ngày càng
ít đi…” (Lời của Ông Toòng ở xóm Tân Đô xã Hoà Bình huyện Đồng Hỷ),
cho thấy sự cần thiết trong việc bảo tồn nét văn hoá của dân tộc Nùng. Thực
hiện đề tài này, tôi mong sẽ góp phần bảo tồn gìn giữ những giá trị văn hoá quý
báu đang có nguy cơ bị mất đi đó.
Qua việc nghiên cứu làn điệu sli, lƣợn và lễ hội Oóc Pò của ngƣời Nùng
ở Hoà Bình - Đồng Hỷ – Thái Nguyên, tôi mong sẽ đóng góp một phần vào
việc gìn giữ những giá trị văn học dân gian của địa phƣơng, cũng là góp phần
vào việc gìn giữ những giá trị văn hoá phi vật thể của dân tộc.
Chính vì những lẽ trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Sli, lƣợn và lễ hội
Oóc Pò của ngƣời Nùng Phàn Slình ở Hoà Bình - Đồng Hỷ - Thái Nguyên”,
với mong muốn đóng góp một phần vào việc nghiên cứu Văn học dân gian
hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Không phải đến tận bây giờ sli, lƣợn (những làn diệu dân ca) và những lễ
hội văn hoá của ngƣời Nùng mới đƣợc quan tâm. Từ lâu những nội dung này
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Họ đã có công sƣu tầm, giới
thiệu, dịch thuật và tìm hiểu những khía cạnh của vốn văn hoá cổ này.
Ngƣời đầu tiên phải kể đến là tác giả Vi Hồng với cuốn “Sli, lƣợn, dân ca
trữ tình tày Nùng” [ 25 ].Nội dung của tác phẩm này đã nghiên cứu về đời
sống văn hoá tinh thần của đồng bào Tày, Nùng qua các làn điệu dân ca sli,

đƣợc sắc thái phong phú, đa dạng của văn hóa Nùng ở một địa phƣơng cụ thể.
Làn điệu sli, lƣợn của ngƣời Nùng Phàn Slình ở xã Hoà Bình huyện
Đồng Hỷ rất phong phú và đa dạng, thƣờng gắn với các lễ hội trong sinh hoạt
văn hoá tinh thần của dân tộc Nùng: Đám cƣới, ma chay, mừng nhà mới,
mừng thọ…Trong lễ hội Oóc Pò, lời sli, lƣợn là những lời ca, ca ngợi mùa xuân,
ca ngợi tình yêu, lời giao duyên, tỏ tình của những chàng trai, cô gái Nùng.
Nghiên cứu về các lễ hội, về sli, lƣợn của ngƣời Nùng ở xã Hoà Bình
huyện Đồng Hỷ, đã thu hút một số nhà nghiên cứu:
- “Múa xiên tâng và tang ca trong đám ma của dân tộc Nùng” - Th.s
Nguyễn Thị Ngân. (Cán bộ Bảo tàng văn hoá các dân tộcViệt Nam)
- Phóng sự: “ Đám cưới Nùng và câu chuyện về chiếc túi nải”
- “Nghi lễ và âm nhạc trong hôn nhân của ngƣời Nùng Phàn Slình ở
Tân Đô – Hoà Bình - Đồng Hỷ - Thái Nguyên” – Ngô Thị Việt Anh (Giảng
viên trƣờng Đại học Sƣ phạm nghệ thuật Trung ƣơng)
Các công trình nghiên này chủ yếu tìm hiểu về các khía cạnh phong
tục, tập quán, nghi lễ dân gian, chƣa quan tâm đến phần lời của các làn điệu
sli, lƣợn.
Mặc dù chƣa nghiên cứu cụ thể, hệ thống về sli, lƣợn của ngƣời Nùng
nhƣng những công trình nghiên cứu trên là những gợi ý đáng quý để chúng
tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
3. Mục đích nghiên cứu.
Tìm hiểu về làn điệu sli, lƣợn và lễ hội Oóc Pò của ngƣời Nùng ở Hoà
Bình - Đồng Hỷ – Thái Nguyên nhằm:
* Chỉ ra cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật trong lời sli, lƣợn của
dân tộc Nùng Phàn Slình ở Hoà Bình - Đồng Hỷ - Thái Nguyên, góp phần khẳng
định giá trị của chúng trong đời sống văn hoá tinh thần của ngƣời Nùng nói chung

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi tìm hiểu một số đặc điểm
nội dung, thi pháp tiêu biểu và mối quan hệ giữa làn điệu sli, lƣợn với lễ hội
Oóc Pò (Lễ hội cầu mùa) của ngƣời Nùng Phàn Slình ở Hoà Bình - Đồng Hỷ
– Thái nguyên.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên bình diện phƣơng pháp luận, chúng tôi tiếp cận chủ yếu theo quan
điểm ngữ văn học, dựa vào những thành tố ngôn từ của lời sli, lƣợn trong lễ
hội Oóc Pò để phân tích. Tuy nhiên sli, lƣợn là một loại hình dân ca cho nên
khi tìm hiểu phải đặt nó trong môi trƣờng diễn xƣớng, đời sống văn hoá của
dân tộc Nùng. Do vậy tiếp cận nghiên cứu theo quan điểm văn hoá học là cần
thiết, song cần phải nghiên cứu theo quan điểm tiếp cận liên ngành, xem xét
đối tƣợng từ nhiều góc độ, ngành khoa học khác nhau.
Trên bình diện phƣơng pháp cụ thể, chúng tôi sử dụng: Phƣơng pháp
điền dã văn học, phƣơng pháp hệ thống, phƣơng pháp khảo sát thống kê,
phƣơng pháp so sánh đối chiếu, phƣơng pháp phân tích tổng hợp.
8. Đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về các
làn điệu sli, lƣợn và lễ hội Oóc Pò ở Hoà Bình - Đồng Hỷ - Thái Nguyên
Sƣu tầm, nghiên cứu lời sli, lƣợn và lễ hội Oóc Pò của ngƣời Nùng Phàn
Slình ở Hoà Bình - Đồng Hỷ – Thái Nguyên, ngƣời viết sẽ góp phần bảo tồn
những giá trị đặc sắc của văn học dân gian đang có nguy cơ bị mai một trƣớc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
sự thay đổi của xã hội hiện đại, góp phần nâng cao tình yêu quê hƣơng, ý thức
giữ gìn vốn văn hoá dân gian của quê hƣơng.
9. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thƣ mục tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Khái quát về ngƣời Nùng Phàn Slình ở Hoà Bình - Đồng

1.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
* Vị trí địa lý: Đồng Hỷ là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc
tỉnh Thái Nguyên, có diện tích tự nhiên 46.177 ha, trải dài từ 21 độ 32 phút
đến 21 độ 51 phút vĩ Bắc, giữa 105 độ 46 phút đến 106 độ 04 phút kinh Đông.
Huyện Đồng Hỷ giáp huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn ở phía Bắc, huyện Võ
Nhai ở phía Đông Bắc; giáp huyện Phú Lƣơng ở phía Tây; giáp thành phố
Thái Nguyên và huyện Phú Bình ở phía Nam và giáp huyện Yên Thế thuộc
tỉnh Bắc Giang về phía Đông.
* Điều kiện tự nhiên:
Đất đai: Địa hình huyện Đồng Hỷ có độ dốc thoai thoải từ Đông Bắc
xuống Tây Nam. Phía Bắc và Đông Bắc huyện thuộc dãy núi đá vôi Bắc Sơn
hùng vĩ. Các xã Văn Lăng, Tân Long, Hoà Bình, Quang Sơn và kéo dài xuống
phía Nam huyện có những khối núi đá vôi đồ sộ, có đỉnh cao tới 600 mét. Các
xã phía Bắc và Đông Bắc của huyện thuộc vùng núi cao, độ cao trung bình là
120 mét so với mặt nƣớc biển. Tiếp dãy núi đá lớn là vùng đồi núi thấp nhiều
đồi hình bát úp, độ cao từ 50 đến 60 mét, có khả năng phát triển cây công
nghiệp (mía, lạc, chè…). Các xã nằm phía hạ lƣu sông Cầu có độ cao trung
bình 20 mét so với mặt nƣớc biển với những cánh đồng bằng phẳng thuận lợi
cho việc phát triển lúa nƣớc và cây thực phẩm (rau xanh, đậu…).
Khí hậu: Đồng Hỷ nằm ở vùng Bắc chí tuyến, trong vành đai nhiệt đới
Bắc bán cầu, nên khí hậu ở đây mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa.
Mùa nóng từ tháng 3 đến tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
sau. Nhiệt độ trung bình là 22 độ C. Số giờ nắng trong năm là 1.628 giờ. Mỗi
năm ở Đồng Hỷ trung bình có khoảng 21 – 22 đợt gió mùa Đông Bắc tràn qua.
Sông ngòi: Mật độ sông, suối của Đồng Hỷ bình quân là 0,2 km/km2,
tất cả đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc, Đông Bắc và đều chảy vào
sông Cầu. Sông Cầu chảy theo hƣớng Bắc – Nam là biên giới phía Tây của

I (trung du) là thị trấn Chùa Hang, các xã Đồng Bẩm, Cao Ngạn, Huống
Thƣợng, 12 xã, 1 thị trấn còn lại thuộc vùng II (miền núi).
1.1.3. Khái quát về kinh tế – văn hoá xã hội của huyện Đồng Hỷ
Trƣớc kia Đồng Hỷ không phải là huyện giàu có, nhƣng nền kinh tế đa
dạng, có tiềm năng về rừng, khoáng sản, có khả năng tự cấp, tự túc lƣơng
thực đến những nhu cầu thiết yếu của đời sống trong một xã hội nông nghiệp.
Sau Cách mạng tháng Tám, nhân dân các dân tộc Đồng Hỷ từng bƣớc xây
dựng đời sống mới. Đặc biệt sau khi thực hiện đƣờng lối đổi mới theo tinh
thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986), bộ mặt kinh tế
xã hội huyện Đồng Hỷ đã có nhiều chuyển biến sâu sắc, đời sống nhân dân
trong huyện đƣợc nâng lên rõ rệt. Nguồn sống chính của nhân dân huyện
Đồng Hỷ là cây công nghiệp, một số xã có nghề trồng rừng, trông cây công
nghiệp (chè, mía…). Các nghề thủ công (mộc, rèn) rải rác hầu khắp các xã
trong huyện: nghề nấu đƣờng ở Minh Lập, nung vôi ở Hoá Trung, Đồng
Bẩm…, đặc biệt các ngành khai thác đá, sản xuất xi măng ở Núi Voi, Quang
Sơn, Cao Ngạn, khai thác quặng sắt ở Trại Cau. Hiện nay sản xuất công
nghiệp đang trở thành một mũi phát triển mạnh của huyện Đồng Hỷ.
Từ một huyện nông nghiệp lạc hậu, mang nặng tính tự cung tự cấp, đến
năm 2009 Đồng Hỷ đã xây dựng đƣợc nền kinh tế với cơ cấu hợp lí. Tổng sản
phẩm sản xuất trên địa bàn huyện (theo giá cố định 1994) ƣớc đạt 704 tỷ
đồng, tăng 10,71% so với cùng kỳ. Trong đó sản xuất công nghiệp và xây
dựng cơ bản trên địa bàn tiếp tục có hƣớng phát triển, giá trị sản xuất công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
nghiệp, xây dựng cơ bản (Theo giá cố định 1994) trên địa bàn ƣớc đạt
714/690 tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch. Trong đó: Công nghiệp ƣớc đạt 473 tỷ
đồng/469 tỷ đồng tăng 13,2% so với cùng kỳ, xây dựng ƣớc đạt 241 tỷ/221 tỷ,
tăng 18,6% so với cùng kỳ, đạt 264 tỷ đồng, tăng 16.06%. Tổng giá trị sản
xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản toàn huyện (Theo giá cố định 1994) ƣớc đạt

Về giáo dục: Năm học 2008 -2009 huyện đã hoàn thành chƣơng trình
tiểu học đạt 99,1%, tốt nghiệp THPT đạt 83,5%. Duy trì và giữ vững phổ cập
giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, có 4 trƣờng đƣợc
công nhận đạt chuẩn quốc gia. Giáo dục của huyện tiếp thực hiện tốt các cuộc
vận động của nghành, triển khai công tác thanh tra toàn diện các trƣờng để
duy trì nền nếp kỉ cƣơng dạy và học; Tổ chức triển khai phong trào thi đua
“Xây dựng trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực”, “Mỗi thầy cô giáo là
một tấm gƣơng tự học và sáng tạo”…
Nhìn chung, hiện nay Đồng Hỷ là một huyện đang có sự phát triển mạnh
về mọi mặt kinh tế, văn hoá xã hội.
1.2. Ngƣời Nùng Phàn Slình ở Hoà Bình - Đồng Hỷ - Thái Nguyên
1.2.1. Nơi cư trú
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi hiện có số lƣợng ngƣời Nùng sinh
sống đứng thứ sáu cả nƣớc, sau Lạng Sơn, Cao Bằng, Đắc Lắc, Bắc Giang,
Hà Giang, dân số có 1.046.159 ngƣời, trong đó có 5628 ngƣời Nùng, chiếm
5,2 % dân số toàn tỉnh. Đồng bào Nùng sống tập trung theo các nhóm địa
phƣơng ở các huyện Đồng Hỷ, Đại Từ, Võ Nhai… Xã Hoà Bình, huyện Đồng
Hỷ là một xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện đồng Hỷ, cách trung tâm
thành phố Thái Nguyên khoảng hơn 20 km. phía Đông giáp xã Tân Long,
phía Nam giáp xã Minh Lập, phía Bắc giáp xã Văn Lăng. Là một xã miền núi
với nhiều xóm vùng sâu vùng xa, địa hình núi đá hiểm trở, ngƣời dân xã Hoà
Bình còn gặp phải rất nhiều khó khăn trong đời sống, tuy nhiên hiện nay xã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Hoà Bình đang đẩy mạnh công tác xây dựng, phát triển kinh tế xã hội, đời
sống của ngƣời dân trong xã có nhiều đổi thay. Xã Hoà Bình là một trong
những xã vùng sâu của huyện Đồng Hỷ, trong xã hiện có nhiều dân tộc anh
em cùng chung sống nhƣ: Dao, Cao Lan, Tày, Nùng... Trong đó ngƣời Nùng
Phàn Slình sống ở các xóm: Đồng Vung, Đồng Cầu và chủ yếu là ở xóm Tân

phƣơng nhƣ Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn và Thái Nguyên, chúng tôi thấy
rằng bộ phận ngƣời nùng Phàn Slình cƣ trú tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái
Nguyên có nguồn gốc di cƣ từ Quảng Tây – Trung Quốc vào Văn Quan, Bình
Gia – Lạng Sơn rồi sau đó một bộ phận đã tiến xuống định cƣ ở Thái Nguyên.
Ngƣời Nùng Phàn Slình đến định cƣ ở xã Hoà Bình huyện Đồng Hỷ
khá muộn, ngƣời dân ở đây kể lại rằng vào thập niên 30 của thế kỉ XX, họ di
chuyển từ các xã Văn Vụ, Quang Trung thuộc huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
tới đây làm ăn sinh sống, khi đó ở đây đất đai còn rất hoang sơ. Với truyền
thống ngàn đời của ngƣời Nùng, họ đã khai khẩn đất đai, dẫn thuỷ nhập điền,
canh tác rộng nƣớc, chăn nuôi… xây dựng xóm làng.
Ông Lý Ngọc Tân, ngƣời Nùng Phàn Slình, chủ tịch, kiêm phó Bí thƣ
Đảng uỷ xã Hoà Bình cho biết gia đình ông cùng những gia đình khác nhƣ
ông Hoàng Văn Bạn, Hoàng Văn Khoắy, Hoàng văn Sẩy, Hoàng Văn
Toòng…ở xã Hoà Bình di cƣ từ Lạng Sơn về Thái Nguyên để khai hoang, vỡ
đất từ năm 1933, đến năm 1935 thì định cƣ tại đây. Một số gia đình đến đây
muộn hơn nhƣ gia đình ông Lâm Văn Hoa, ông Lâm Ngọc Loan …chuyển từ
Lạng Sơn xuống sau sự kiện Biên giới Việt Trung năm 1979.
Những gia đình ngƣời Nùng Phàn Slình ở xã Hoà Bình, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đều nhận mình là nhóm ngƣời Nùng Phàn Slình có
nguồn gốc, tổ tiên từ Châu Vạn Thành (Trung Quốc) di cƣ vào Lạng Sơn, sau
đó chuyển về sinh sống, lập nghiệp tại xã Hoà Bình huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Nguyên nhƣ ngày nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
1.2.3. Đôi nét về kinh tế, chính trị, văn hoá
* Kinh tế, chính trị
Kinh tế của ngƣời Nùng Phàn Slình ở Hoà Bình chủ yếu dựa vào trồng
trọt, chăn nuôi và các hoạt động kinh tế khác nhƣ: hái lƣợm, săn bắn, đánh
cá,… Thực hiện hiệu quả công tác chuyển đổi cơ cấu kinh tế với việc giao

vƣờn nhỏ, chỉ từ vài chục đến vài trăm mét vuông nên sản phẩm từ vƣờn mới
chỉ ở mức tự cung tự cấp một phần rau trái.
Chăn nuôi: Chăn nuôi gia súc, đặc biệt là trâu, bò là hoạt động chăn
nuôi phổ biến và quan trọng, điều này gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.
Mỗi gia đình ngƣời Nùng Phàn Slình ở xã Hoà Bình đều nuôi từ 1 đến 2 con
trâu, chủ yếu nhằm lấy sức kéo phục vụ cho trồng trọt cụ thể là việc cấy lúa
nƣớc, trồng màu. Việc nuôi trâu tƣơng đối đơn giản: Ban ngày ngƣời dân lùa
trâu đi chăn, chiều tối lại xua về. Hiện nay, đồng bào ngƣời Nùng Phàn Slình
ở Hoà Bình đã tiến hành trồng cỏ chăn nuôi trâu bò. Bên cạnh đó ở xã Hoà
Bình, việc chăn nuôi lợn và chăn nuôi các loại gia cầm (gà, vịt, ngan…) cũng
đƣợc chú ý nhằm đáp ứng nhu cầu lấy thịt, bán hoặc phục vụ các nghi lễ.
Chăn nuôi thả cá dải dác ở một số gia đình, đồng bào thƣờng nuôi một số
giống cá: mè, chép, chắm thả ao. Ngoài ra nuôi ong mật cũng đƣợc duy trì ở
các gia đình ngƣời Nùng Phàn Slình nơi đây. Ong đƣợc nuôi bằng phƣơng
pháp thủ công nên chất lƣợng mật rất tốt, nhất là thu mật vào mùa các loại
hoa nở (tháng 2, 3, 4) mật có màu vàng ánh, ngọt lịm và hƣơng thơm lạ. Đây
cũng là một loại đặc sản quý của ngƣời Nùng Phàn Slình ở xã Hoà Bình.
Ngoài trồng trọt, chăn nuôi, cộng đồng ngƣời Nùng ở đây còn duy trì
một số nghề thủ công nhƣ: làm ngói, làm nghề mộc, đan lát… các nghề thủ
công này đƣợc coi là các nghề phụ, đƣợc làm trong lúc nông nhàn chủ yếu để
phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.
Hiện nay vì trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức còn nhiều hạn
chế, đời sống chủ yếu dựa vào cây lúa nƣớc, do vậy việc phát triển kinh tế còn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
gặp phải nhiều khó khăn, nhƣng với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng Uỷ
cùng các đoàn thể, tập quán canh tác độc canh cấy lúa đã đƣợc chuyển sang
thâm canh những giống lúa mới, ngô cao sản, hoa màu, trồng cỏ chăn nuôi
trâu, bò…, góp phần tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo của xã. Cụ thể

khác sống trong môi trƣờng thung lũng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nên cần
phải khắc phục mƣa nguồn suối lũ, đồng thời phải bảo quản tốt nông sản phục
cụ cho đời sống kinh tế, ngƣời Nùng nói chung và ngƣời Nùng Phàn Slình nói
riêng phải tính toán chu đáo để làm sao dựng đƣợc ngôi nhà vừa tiện lợi vừa
bền vững cho mình và cho con cháu. Ngƣời Nùng thƣờng ở nhà sàn và nhà
nửa sàn nửa đất, trong đó nhà sàn là kiểu nhà truyền thống ƣa thích của họ.
Khác với nhà trình tƣờng của ngƣời Nùng Phàn Slình ở Lạng Sơn, Nhà
của ngƣời Nùng Phàn Slình ở xã Hoà bình huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
là kiểu nhà Sàn gần gũi với nhà sàn của ngƣời Tày. Nhà Sàn của ngƣời Nùng
Phàn Slình bao gồm 56 cột: 2 cột nóc, 7 cột cái, 18 cột quân, 26 cột hiên, 1
xà, 2 quái giang. Cột nóc dài 7,5 m, cột cái dài 5,5 m, cột quân dài 4,5 m, cột
hiên dài 3,5 m. Nhà Sàn gồm 2 bề, 1 bề rộng 14 m (4 gian, 2 chái), 1 bề rộng
15 m (5 gian 2 chái); một cầu thang gỗ có 7, 9 hoặc 11 bậc. Mái nhà lợp ngói
âm dƣơng (ngói máng), vách thƣng bằng gỗ tấm theo chiều dọc. Toàn bộ hệ
thống khung, kèo, cột, vách, sàn đều làm bằng gỗ tốt: Đinh, trai, nghiến…hệ
thống xuyên xà có kết cấu chắc chắn, tạo cho ngôi nhà có độ bền vững, có độ
tuổi lớn: 200 - 300 năm. Với ngƣời Nùng Phàn Slình, khi dựng nhà đầu tiên là
dựng cột cái, ngoài ra còn phải chọn giờ tốt để đặt nóc, lên nhà mới…Lễ vào
nhà mới là lễ nhóm bếp, ngƣời nhóm bếp phải là ngƣời làm ăn khá giả, có đủ
cả con trai và con gái. Có vậy mới đem đến nhiều may mắn cho chủ nhà.
Qua thực tế khảo sát, chúng tôi thấy so với nhà sàn của dân tộc Tày thì
nhà sàn của ngƣời Nùng có nhiều điểm khác: Về hình dàng bên ngoài, mái
nhà ngƣời Nùng thƣờng kéo dài hơn mái nhà ngƣời Tày. Nhà sàn của ngƣời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
Nùng ít cửa sổ hơn và cửa sổ cũng thƣờng nhỏ hơn. Do vậy mà nhà của ngƣời
Nùng thƣờng thấp và tối, còn nhà sàn của ngƣời Tày thƣờng thoáng và có
nhiều ánh sáng hơn. Đến nay tại xã Hoà Bình mặc dù đời sống đã có nhiều
thay đổi, nhƣng nhà ở của ngƣời Nùng Phàn Slình vẫn giữ đƣợc những kiến

* Văn hoá tinh thần
Cũng nhƣ dân tộc Nùng nói chung, ngƣời Nùng Phàn Slình quan niệm
thế giới bao gồm toàn bộ thiên nhiên, con ngƣời và sự vật trên ba cõi, tƣơng
ứng với 3 tầng: trời, trần gian và âm phủ. Họ tin theo thuyết vạn vật hữu linh,
mọi sự vật hiện tƣợng trong tự nhiên đều có linh hồn. Vì vậy thờ cúng tổ tiên
là nghi thức tín ngƣỡng cổ truyền, quan trọng bậc nhất của dân tộc Nùng Phàn
Slình ở xã Hoà Bình huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Trong mỗi gia đình
đều có bàn thờ riêng và đƣợc đặt ở ban phía trên, là một nơi trang trọng của
ngôi nhà. Bàn thờ của ngƣời Nùng Phàn Slình đƣợc chia làm ba tầng: tầng
trên cùng thờ các vị thần linh, tầng thứ hai thờ các cụ ông, tầng dƣới cùng là
tầng thờ các cụ bà. Bàn thờ là nơi rất tôn nghiêm trong gia đình, gia đình nào
có tổ tiên hoặc có ngƣời làm thầy mo, thầy tào thƣờng có thêm bàn thờ riêng
tại một vị trí kín đáo, yên tĩnh buộc trên vách nhà, thờ các thánh thần thuộc
Đạo Giáo hoặc Đạo Khổng. Ngoài ra mỗi gia đình ngƣời Nùng Phàn Slình ở
đây còn thờ Ma giàn (ma khách) vị bảo vệ cho gia đình ở ngoài cửa hoặc
ngoài giọt gianh. Mỗi gia đình, mỗi dòng họ sẽ có một ma giàn khác nhau và
tên gọi khác nhau, tuỳ theo tên gọi của dòng họ đó. Đặc biệt khác so với tín
ngƣỡng của các dân tộc khác, ngƣời Nùng Phàn Slình thƣờng có ống bƣơng
hoặc lập vài miếng gỗ nhỏ đặt ở gốc cây, hòn đá để thờ thổ công, thổ địa.
Trong xóm có vài nơi đặt điểm thờ nhƣ vậy.
Ngoài việc thờ cúng các vị thần linh, tổ tiên tại nhà, ngƣời Nùng Phàn
Slình còn dựng đình thờ thành hoàng làng, đó là vị thần công cộng bảo vệ bản
làng, bảo vệ mùa màng gia súc… Hàng năm vào dịp lễ tết ngƣời ta mở hội
Oóc Pò (ra đồi) để cầu trời cho mƣa thuận gió hoà, mùa màng tƣơi tốt, mọi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

24
ngƣời đều vui vẻ hạnh phúc. Vào ngày này các gia đình trong xóm mang lễ
vật, hƣơng hoa ra đình để dâng lên các vị thần cầu mong sức khoẻ, bình an
cho cả ngƣời và vật nuôi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status