1
CHƯƠNG 1
o0o
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ
CHẤT LƯỢNG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về DAĐT và cho vay DAĐT của NHTM
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về DAĐT
1.1.1.1. Khái niệm
Đầu tư được coi là động lực của sự phát triển nói chung và sự phát triển kinh tế
nói riêng của mọi quốc gia trên thế giới. Có thể hiểu đầu tư là việc huy động nguồn
lực để biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong một khoảng thời gian đủ dài
trong tương lai. Trong đó: các nguồn lực chính là vốn, chất xám, tài nguyên thiên
nhiên, thời gian…; lợi ích dự kiến có thể lượng hoá được (hay đo được hiệu quả
bằng tiền như sự tăng lên của sản lượng, lợi nhuận..) mà cũng có thể không lượng
hoá được (như sự phát triển trong các lĩnh vực giáo dục, giải quyết các vấn đề xã
hội, quốc phòng..). Đối với doanh nghiệp, đầu tư hiểu đơn giản là việc bỏ vốn kinh
doanh để mong thu được lợi nhuận trong tương lai. Còn trên quan điểm xã hội thì
đầu tư là hoạt động bỏ vốn để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục
tiêu phát triển quốc gia. Nhưng cho dù đứng từ góc độ nào đi chăng nữa, muốn tối
đa hoá hiệu quả của đầu tư thì trước khi quyết định đầu tư, nhất thiết phải có
DAĐT. Vậy DAĐT là gì?
DAĐT là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc
cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về khối lượng, cải
tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng
thời gian xác định. DAĐT chính là cơ sở quan trọng để chủ đầu tư và các nhà đầu
tư liên quan xem xét ra quyết định đầu tư.
1.1.1.2. Vai trò của DAĐT
- DAĐT là phương tiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế.
2
- DAĐT giải quyết quan hệ cung – cầu về vốn trong phát triển.
tế.
+ Các phương án lựa chọn phải phù hợp với các điều kiện cụ thể của dự án,
phù hợp với truyền thống, tập quán của quốc gia, địa phương.
+ Nội dung, hình thức trình bày phải phù hợp với các quy định, hướng dẫn, chỉ
dẫn của các cơ quan có trách nhiệm liên quan.
Ø Tính hiện thực:
+ Mọi phương án, giải pháp được lựa chọn phải phù hợp với thực tế, có tính
hiện thực, có khả năng thực hiện được trong điều kiện cụ thể của quốc gia.
+ Các giải pháp nêu ra trong dự án phải được cân nhắc kỹ lưỡng và không quá
ảo tưởng.
Ø Tính hiệu quả:
+ Trong dự án phải có các chỉ tiêu cụ thể chứng minh hiệu quả của dự án về
mặt tài chính cũng như về mặt kinh tế xã hội. Tránh tình trạng phóng đại các
chỉ tiêu về hiệu quả làm cho dự án mất tính trung thực.
1.1.2. Cho vay DAĐT của NHTM
1.1.2.1. Khái niệm
Cho vay DAĐT là việc tổ chức tín dụng đồng ý cấp một hạn mức tín dụng cho
chủ đầu tư thực hiện dự án trong một thời gian và điều kiện được thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng sau khi đã tổ chức thẩm định tính khả thi và hiệu quả của
DAĐT. Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản đã cam
kết trong hợp đồng tín dụng và hoàn trả cả gốc và lãi cho tổ chức tín dụng đúng
hạn.
1.1.2.2. Đặc điểm của cho vay DAĐT
v Vốn đầu tư lớn, thời gian cho vay dài, thu hồi vốn chậm
Hoạt động cho vay DAĐT của các NHTM chủ yếu là tài trợ vốn cho khách
hàng để thực hiện việc đầu tư thêm tài sản cố định, đổi mới công nghệ, trang thiết
bị, xây dựng, mở rộng nhà xưởng… do đó thường đòi hỏi một lượng vốn khá lớn
4
và thời gian cho vay tương đối dài. Hơn nữa, nguồn trả nợ chính của dự án là từ
khấu hao và lợi nhuận mà dự án đem lại, điều này có nghĩa là ngân hàng chỉ có thể
v Xem xét, đánh giá sơ bộ theo các nội dung quan trọng của dự án
+ Mục tiêu đầu tư của dự án
+ Sự cần thiết đầu tư dự án
+ Quy mô đầu tư
+ Quy mô vốn đầu tư
+ Dự kiến tiến độ triển khai thực hiện dự án
v Phân tích về thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của
dự án
Ø Về nhu cầu sản phẩm dự án: đánh giá tổng quan về sản phẩm của dự án;
tình hình sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ thay thế đến thời điểm thẩm định;
ước tính tổng nhu cầu hiện tại về sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án; dự tính tổng
nhu cầu trong tương lai đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án;…
Ø Về cung sản phẩm: xác định năng lực sản xuất, cung cấp đáp ứng nhu cầu
trong nước hiện tại của sản phẩm dự án; dự đoán biến động của thị trường trong
tương lai; sản lượng nhập khẩu trong những năm qua, dự kiến khả năng nhập khẩu
trong thời gian tới; dự đoán ảnh hưởng của các chính sách xuất nhập khẩu đến thị
trường sản phẩm của dự án;…
Ø Thị trường mục tiêu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án: cần
xem xét đánh giá các mặt như:
+ Thị trường nội địa: Hình thức, mẫu mã, chất lượng sản phẩm của dự án so
với các sản phẩm cùng loại trên thị trường thế nào, có ưu điểm gì không; sản
phẩm có phù hợp với thị hiếu của người tiêu thụ, xu hướng tiêu thụ hay
không; giá cả so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường thế nào, có rẻ
hơn không, có phù hợp với xu hướng thu nhập, khả năng tiêu thụ không;…
6
+ Thị trường nước ngoài: sản phẩm có khả năng đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn
để xuất khẩu hay không (tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh...); quy cách, chất
lượng, mẫu mã, giá cả có những ưu thế như thế nào so với các sản phẩm
cùng loại trên thị trường dự kiến xuất khẩu; thị trường dự kiến xuất khẩu có
bị hạn chế bởi hạn ngạch không;…
đáp ứng được không; giá cả thiết bị và phương thức thanh toán; thời gian giao hàng
và lắp đặt thiết bị có phù hợp với tiến độ thực hiện dự án dự kiến; uy tín của các
nhà cung cấp thiết bị;…
Ø Quy mô, giải pháp xây dựng: xem xét quy mô xây dựng, giải pháp kiến
trúc có phù hợp với dự án không, có tận dụng được các cơ sở vật chất hiện có hay
không; tiến độ thi công có phù hợp với việc cung cấp máy móc thiết bị, có phù hợp
với thực tế;…
Ø Môi trường, phòng cháy chữa cháy: xem xét, đánh giá các giải pháp về
môi trường, phòng cháy chữa cháy của dự án có đầy đủ, phù hợp chưa, đã được cơ
quan có thẩm quyền chấp thuận trong trường hợp yêu cầu phải có hay chưa.
v Đánh giá về phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án
+ Xem xét kinh nghiệm, trình độ tổ chức vận hành của chủ đầu tư dự án.
+ Xem xét năng lực, uy tín các nhà thầu: tư vấn, thi công, cung cấp thiết bị,
công nghệ...
+ Đánh giá về nguồn nhân lực của dự án: số lượng lao động dự án cần, đòi hỏi
về tay nghề, trình độ kỹ thuật, kế hoạch đào tạo và khả năng cung ứng nguồn
nhân lực cho dự án;…
v Thẩm định tổng vốn đầu tư và tính khả thi phương án nguồn vốn
Ø Tổng vốn đầu tư dự án: đánh giá tổng vốn đầu tư đã được tính toán hợp lý
hay chưa, đã tính đủ các khoản cần thiết chưa; tính toán, xác định xem nhu cầu vốn
lưu động cần thiết ban đầu để đảm bảo hoạt động của dự án, từ đó có cơ sở thẩm
định giải pháp nguồn vốn và tính toán hiệu quả tài chính sau này.
8
Ø Xác định nhu cầu vốn đầu tư theo tiến độ thực hiện dự án: xem xét, đánh
giá về tiến độ thực hiện dự án và nhu cầu vốn cho từng giai đoạn như thế nào, có
hợp lý không; khả năng đáp ứng nhu cầu vốn trong từng giai đoạn thực hiện dự án
để đảm bảo tiến độ thi công.
Ø Nguồn vốn đầu tư: cân đối giữa nhu cầu vốn đầu tư và khả năng tham gia
tài trợ của các nguồn vốn dự kiến để đánh giá tính khả thi của các nguồn vốn thực
hiện dự án.
được nguồn cung cấp nguyên vật liệu (đầu vào chính/quan trọng của dự án) với số
lượng, giá cả, chất lượng như dự kiến ban đầu.
Ø Rủi ro về thị trường tiêu thụ (đầu ra): rủi ro này xảy ra khi hàng hoá, sản
phẩm của dự án sản xuất ra không phù hợp với nhu cầu của thị trường, thị hiếu của
người tiêu dùng, thiếu sự cạnh tranh về chất lượng, giá cả, mẫu mã, công dụng,..
Ø Rủi ro về kỹ thuật, vận hành, bảo trì: đây là những rủi ro về việc dự án
không được vận hành, bảo trì theo đúng như thiết kế dự kiến ban đầu từ đó làm ảnh
hưởng đến công suất, hiệu quả của dự án.
Ø Rủi ro về môi trường và xã hội: rủi ro này phát sinh khi dự án có những tác
động tiêu cực đến môi trường và đời sống của người dân xung quanh.
1.2. Chất lượng cho vay DAĐT tại NHTM
1.2.1. Khái niệm
Theo khái niệm tổng quát nhất thì chất lượng là tập hợp các đặc tính của một
thực thể, đối tượng tạo cho thực thể, đối tượng đó khả năng thỏa mãn những nhu
cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn.
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh như hiện nay, bất kỳ doanh nghiệp nào
muốn đứng vững và phát triển đều phải quan tâm đến yếu tố chất lượng bao gồm
chất lượng hoạt động, chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ,… Việc nâng cao
chất lượng không chỉ giúp doanh nghiệp tạo được uy tín, niềm tin với khách hàng,
tăng khả năng cạnh tranh mà còn giúp doanh nghiệp từng bước chiếm lĩnh và mở
rộng thị trường.
10
Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động
chủ yếu và thường xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, nên để có thể bảo đảm
sự tồn tại và phát triển thì chất lượng của các khoản vay luôn là mối quan tâm hàng
đầu của các NHTM.
Chất lượng của một khoản vay có thể được hiểu là hiệu quả kinh tế mà khoản
vay đó mang lại cho cả người đi vay (khách hàng) và người cho vay. Một khoản
vay được coi là có chất lượng tốt nếu nó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cả ngân
hàng và khách hàng, tức là vốn vay được người vay đưa vào quá trình đầu tư tạo ra
nghiệp có những điểm chưa hợp lý, không khả thi thì thay vì từ chối cho vay, ngân
hàng có thể góp ý, tư vấn cho khách hàng để họ xem xét lại một cách hợp lý. Ngoài
ra, ngân hàng cũng có thể là người cung cấp thông tin bổ ích về thị trường, về tiến
bộ khoa học công nghệ cho khách hàng. Có làm được như vậy thì nguồn vốn của
doanh nghiệp mới thực sự phát huy được vai trò đòn bẩy kinh tế cả đối với ngân
hàng và khách hàng. Như vậy rõ ràng chỉ riêng việc đáp ứng nhu cầu của khách
hàng cũng không phải là một nhiệm vụ dễ dàng đối với các NHTM nhằm nâng cao
chất lượng cho vay của mình.
v Bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Đây cũng là một yêu cầu quan trọng trong việc đánh giá chất lượng cho vay của
NHTM. Hoạt động cho vay phải mang lại cho ngân hàng thu nhập đủ để trang trải
cho các chi phí liên quan và có lãi, đồng thời hạn chế thấp nhất nguy cơ xảy ra rủi
ro, tuy nhiên điều này không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng mà nó còn phụ thuộc vào
khách hàng (những người vay vốn để đầu tư).
Một khoản cho vay chỉ có thể coi là có chất lượng khi các nguyên tắc cho vay
được tuân thủ triệt để: sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả; hoàn trả nợ
gốc và lãi đúng hạn. Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cho vay vừa là điều kiện
cần thiết vừa là sự biểu hiện của chất lượng một khoản vay. Bên cạnh đó, việc sử
dụng vốn vay đúng mục đích, cùng với sự năng động, nhạy bén trong kinh doanh
của khách hàng và sự giúp đỡ có hiệu quả của ngân hàng từ việc cấp phát vốn sẽ
tạo điều kiện để khách hàng đạt được hiệu quả đầu tư cao nhất và đó chính là tiền
12
đề để khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, bảo đảm được sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng.
v Đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của vùng, của ngành, địa phương
và của cả nước
Đây là hệ quả tất yếu đạt được khi cả nhà đầu tư và ngân hàng cùng đạt được
hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của mình. Nó được biểu hiện ở sự ổn định của
nền tài chính tiền tệ quốc gia, giúp nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công nghệ
của khách hàng, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân
Tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn trong cho vay
DAĐT của các NHTM. Hầu hết các NHTM đều sử dụng nguồn vốn trung dài hạn
để tài trợ cho ba loại tài sản: tài sản cố định, cho vay và đầu tư. Tuy nhiên do đặc
điểm các nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng có sự gối đầu nhất định nên ngân
hàng có thể tận dụng nguồn này một cách hợp lý để cho vay dự án. Do đó trong
thực tế tỷ lệ cân đối vốn nói trên cụ thể như thế nào thì mỗi ngân hàng sẽ có một
mức riêng phù hợp với điều kiện của mình. Ngoài ra, khi xem xét chỉ tiêu này cần
kết hợp với chỉ tiêu dư nợ ở trên để có kết luận chính xác hơn về khả năng nguồn
vốn của ngân hàng.
v Chỉ tiêu về vòng quay vốn
Doanh số cho vay DAĐT
Chỉ tiêu vòng quay vốn =
Dư nợ cho vay DAĐT bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ giữa doanh số cho vay DAĐT với dư nợ cho vay
DAĐT bình quân, qua đó có thể thấy được khả năng mở rộng cho vay DAĐT cũng
như hiệu quả công tác thu nợ của ngân hàng. Chỉ tiêu này thông thường nhỏ hơn 1
do thời hạn vay của các dự án khá dài nên dư nợ bình quân trong một năm sẽ lớn
hơn doanh số cho vay trong cùng năm đó. Chỉ tiêu này càng gần 1 càng chứng tỏ
14
hoạt động cho vay và công tác thu nợ của ngân hàng đối với các khoản cho vay
DAĐT có chất lượng tốt, bởi lẽ điều đó chỉ đạt được khi quy mô cho vay được mở
rộng và hầu hết các khoản cho vay đến hạn trong năm đó đều được thu hồi đầy đủ.
Ngược lại nếu tỷ lệ này thấp chứng tỏ hoạt động cho vay hay thu nợ hoặc cả hai
đều gặp khó khăn.
v Chỉ tiêu đánh giá tình trạng nợ quá hạn:
Dư nợ cho vay DAĐT quá hạn
· Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ =
Dư nợ cho vay DAĐT
Dư nợ cho vay DAĐT quá hạn
Hầu hết các khách hàng khi tiến hành hoạt động đầu tư, kinh doanh đều hướng
đến mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận và các NHTM cũng không phải là ngoại
lệ. Cho dù với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh tế, giữ
vai trò là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển, các NHTM trong quá trình
kinh doanh vẫn phải chú trọng đến hiệu quả hoạt động. Lợi nhuận vẫn là điều kiện
cần thiết để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng do vậy không thể bỏ qua
tiêu chí này khi đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay DAĐT của ngân hàng. Chất
lượng hoạt động cho vay của ngân hàng không thể nói là tốt nếu lợi nhuận do hoạt
động này mang lại thấp.
Chỉ tiêu thứ nhất phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay dự án của
ngân hàng. Nó cho biết một đồng dư nợ cho vay DAĐT mang lại bao nhiêu đồng
lợi nhuận. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận do hoạt động cho vay dự án mang
lại càng lớn, đó là một trong những nhân tố tạo nên chất lượng, hiệu quả hoạt động
cho vay DAĐT của ngân hàng.
16
Chỉ tiêu thứ hai cho phép đánh giá tầm quan trọng của hoạt động cho vay
DAĐT trong mối quan hệ với toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ này cao
chứng tỏ phần lớn lợi nhuận mà ngân hàng đạt được là từ hoạt động cho vay
DAĐT. Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng đang phải chấp
nhận đối mặt với những nguy cơ rủi ro tiềm tàng. Do đó đòi hỏi hoạt động cho vay
dự án phải được quản lý một cách khoa học và chặt chẽ.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay DAĐT
1.2.3.1. Các nhân tố chủ quan
v Các nhân tố thuộc về phía ngân hàng
ü Quy mô và cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của các NHTM
Bất kỳ ngân hàng nào muốn cho vay cũng phải có vốn, đây là điều kiện bắt
buộc. Tuy nhiên, do yêu cầu phải bảo đảm khả năng thanh toán thường xuyên nên
không phải nguồn vốn nào huy động được ngân hàng cũng có thể đem đi tài trợ vốn
cho các DAĐT.
Các khoản vay dành cho đầu tư dự án của ngân hàng cần phải được tài trợ chủ
chắn để có thể nói chất lượng cho vay dự án của ngân hàng đạt mức cao, bởi lẽ hoạt
động đầu tư, sản xuất kinh doanh trong thời gian dài luôn ẩn chứa trong nó những
rủi ro không thể lường trước được. Bản thân dự án trong quá trình thực hiện cũng
sẽ nảy sinh những tình huống ngoài dự kiến. Chính vì vậy mà công tác giám sát và
xử lý các tình huống tín dụng sau khi cho vay trở nên thực sự cần thiết. Hoạt động
giám sát chủ yếu tập trung vào một số vấn đề như: sự tuân thủ việc sử dụng vốn
đúng mục đích của khách hàng; tình hình hoạt động thực tế của dự án; tiến độ trả
nợ; quá trình sử dụng, bảo quản và biến động tài sản của doanh nghiệp; những vấn
đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án. Làm tốt công tác này sẽ giúp ngân
hàng phát hiện và ngăn chặn kịp thời những biểu hiện tiêu cực như sử dụng vốn sai
mục đích, âm mưu tẩu tán tài sản, lừa đảo ngân hàng. Đồng thời qua việc luôn bám
sát hoạt động của khách hàng thì ngân hàng có thể có biện pháp giúp đỡ khách
hàng thông qua việc cung cấp những lời khuyên, những thông tin bổ ích, kịp thời,
hoặc trực tiếp giúp đỡ khách hàng khi họ gặp khó khăn bằng cách gia hạn nợ, cho
vay thêm nhằm giúp cho việc thực hiện dự án của khách hàng đạt hiệu quả cao
nhất, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cho vay DAĐT của ngân hàng.
18
ü Chính sách tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm của ngân hàng. Với tầm quan trọng
và quy mô lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng được xây
dựng và hoàn thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng
là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc mở rộng hoặc hạn chế tín dụng
nhằm đạt được các mục tiêu của ngân hàng trong từng thời kỳ cụ thể. Với ý nghĩa
như vậy, rõ ràng chính sách tín dụng có tác động rất lớn đến chất lượng tín dụng
ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay DAĐT nói riêng. Trước hết là về mặt
quy mô tín dụng, nếu chính sách tín dụng của ngân hàng trong một thời kỳ nào đó
hạn chế tín dụng trung và dài hạn cũng có nghĩa là quy mô cho vay DAĐT của
ngân hàng đó sẽ có nguy cơ bị thu hẹp. Qua đó có thể cho thấy chất lượng cho vay
dự án của ngân hàng đang gặp vấn đề hay ít ra xét về quy mô cũng không thể nói
chất lượng cho vay dự án của ngân hàng trong giai đoạn đó là tốt. Ngoài ra, chính
dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng tín dụng, chất
lượng cho vay của ngân hàng. Dù ngân hàng có một chính sách tín dụng và quy
trình phân tích tín dụng tốt mà cán bộ tín dụng thiếu trình độ chuyên môn hoặc cố
tình cấu kết với người vay lừa đảo ngân hàng thì rủi ro trong cho vay chắc chắn sẽ
xảy ra. Vấn đề yếu kém về năng lực thì có thể bồi dưỡng thêm, nhưng nếu một cán
bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm cho
ngân hàng khi được bố trí trong công tác thẩm định cho vay.
v Các nhân tố thuộc về phía khách hàng
ü Nhu cầu đầu tư
Bất kỳ một loại hàng hoá, dịch vụ nào muốn tiêu thụ được cũng cần
phải có người mua và có nhu cầu sử dụng chúng, tín dụng ngân hàng cũng vậy,
ngân hàng không thể cho vay nếu không có người đi vay. Xét trong phạm vi toàn
bộ nền kinh tế thì nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển luôn luôn cần thiết nhưng với
từng NHTM thì không phải lúc nào nhu cầu ấy cũng hiện hữu. Do số lượng khách
hàng thường xuyên quan hệ với ngân hàng có hạn và không phải lúc nào tình hình
sản xuất kinh doanh của họ cũng tiến triển một cách khả quan nên nhu cầu đầu tư
của họ không thường xuyên lớn.
20
ü Khả năng đáp ứng các yêu cầu, điều kiện và tiêu chuẩn tín dụng của ngân
hàng
Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay các NHTM thường đặt ra những
điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại và lựa chọn những đối tượng khách
hàng cụ thể. Chỉ những khách hàng đáp ứng đầy đủ các điều kiện của ngân hàng thì
mới được xem xét cho vay. Những điều kiện, tiêu chuẩn này có thể rất khác nhau
tuỳ theo đặc thù của từng ngân hàng cụ thể, tuy nhiên nhìn chung các ngân hàng
đều quan tâm đến những vấn đề như mục đích sử dụng vốn của khách hàng, năng
lực tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, tính khả thi của dự án, các biện pháp
bảo đảm tiền vay…
Khả năng đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng của khách hàng sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng đặc biệt là hoạt động cho vay DAĐT của
Tóm lại với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động tín
dụng của ngân hàng có liên quan đến nhiều đối tượng trong nhiều lĩnh vực khác
nhau. Do đó, chất lượng tín dụng ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay
DAĐT nói riêng sẽ phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố. Có những nhân tố chủ quan
thuộc bản thân ngân hàng, có những nhân tố thuộc khách hàng, cũng có những
nhân tố khách quan nằm ngoài tầm kiểm soát của cả hai. Việc nghiên cứu nắm rõ
vai trò và cơ chế tác động của từng nhân tố sẽ giúp các ngân hàng có biện pháp
thích hợp để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng, chất lượng cho vay đồng thời
phát huy tối đa vai trò đòn bẩy kinh tế của mình.
1.2.3.2. Các nhân tố khách quan
v Môi trường tự nhiên
Trên thực tế, môi trường tự nhiên không ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của
ngân hàng mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động đến hoạt động đầu tư của
khách hàng, đặc biệt các là các hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
như các công trình xây dựng, cầu cống, cảng biển, những hoạt động đầu tư có liên
quan đến nông nghiệp, ngư nghiệp…Điều kiện tự nhiên diễn biến thuận lợi hay bất
lợi sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư của khách hàng qua đó trực tiếp
ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng.
22
v Môi trường kinh tế
ü Sự biến động của thị trường thế giới
Nền kinh tế Việt Nam còn lệ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu quan trọng
như sắt thép, xăng dầu, phân bón…cũng như các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như
dệt may, da giày, nông sản hay bị ảnh hưởng bởi chính sách bảo hộ của các nước
nhập khẩu (hạn ngạch, kiện bán phá giá, đánh thuế…).
Bên cạnh đó, mục tiêu phát triển kinh tế được đề ra quá cao đã tạo sức ép đầu tư
ồ ạt trong khi nền kinh tế lại thiếu vốn trầm trọng, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Điều này dẫn đến một số tổ chức hoặc doanh nghiệp với số vốn khá khiêm tốn phải
đi vay ngắn hạn để sử dụng vào những công trình đầu tư mang tính chất trung và
dài hạn như: đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tài sản cố định…
dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh do đó hạn chế nhu cầu vay vốn tín dụng
ngân hàng.
v Sự quản lý vĩ mô của nhà nước và các cơ quan chức năng.
Sự ổn định và hợp lý của các đường lối, chính sách, các quy định, thể lệ của nhà
nước và các cơ quan chức năng sẽ tạo hành lang thuận lợi cho hoạt động của ngân
hàng cũng như doanh nghiệp, đó là tiền đề rất quan trọng để ngân hàng nâng cao
chất lượng tín dụng của mình. Tuy nhiên, hiện nay các chính sách quản lý vĩ mô
của Nhà nước đang trong quá trình hoàn thiện nên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập.
Nhiều doanh nghiệp chưa thể điều chỉnh kế hoạch kinh doanh phù hợp với sự thay
đổi chính sách kinh tế. Vì thế, có không ít doanh nghiệp bị thua lỗ mà hậu quả là
ngân hàng phải gánh chịu.
v Hệ thống thông tin quản lý
Thông tin về khách hàng là điều rất cần thiết cho ngân hàng trong quá trình
thẩm định cho vay, tuy nhiên hiện nay ở nước ta chưa có một cơ chế công bố thông
tin đầy đủ về khách hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của
NHNN hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất
đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng
nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và
24
hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật chưa đáp ứng được đầy
đủ yêu cầu tra cứu thông tin của các ngân hàng. Đó cũng là thách thức cho các ngân
hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện
thiếu một hệ thống thông tin tương xứng.
1.2.4. Ý nghĩa và sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng cho vay DAĐT của
NHTM
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá thì hoạt động cho
vay cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp các phương tiện giao dịch để đáp ứng
mọi nhu cầu sản suất kinh doanh của xã hội. Trong điều kiện đó, chất lượng cho
vay của ngân hàng là vấn đề ngày càng được quan tâm.
Cho vay DAĐT là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát