Bài giảng Thị trường chứng khoán - Pdf 85

Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
Bài giảng Thị trường chứng khoán
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC CHỦ THỂ THAM GIA TTCK
1.1.1. Cơ sở hình thành TTCK
Lịch sử đã chứng minh rằng: sự ra đời, tồn tại và phát triển TTCK là sản phẩm tất yếu
khách quan của nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường. Nhìn chung, sự ra đời của
TTCK ở các quốc gia đều bắt nguồn từ hai nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, mâu thuẫn trong quan hệ cung - cầu vốn tiền tệ.
Đây là nguyên nhân mang tính tiền đề cho sự xuất hiện TTCK.
Thực tế cho thấy, các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội, trước hết là Nhà nước và các
doanh nghiệp, vì những lý do khác nhau mà thường có nhu cầu huy động vốn để bổ sung
thiếu hụt ngân sách của mình. Cầu vốn là lượng vốn cần thiết để tiến hành quá trình đầu tư,
xây dựng, sản xuất kinh doanh hay phục vụ cho một mục đích tiêu dùng nào đó của các chủ
thể trong nền kinh tế.
Đồng thời trong nền kinh tế - xã hội, cũng luôn có cung vốn. Cung vốn là lựơng vốn
hiện đang nhàn rỗi trong xã hội và có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau, hoặc cho
tiêu dùng, hoặc cho các hoạt động đầu tư, xây dựng, sản xuất kinh doanh.
Với mỗi quốc gia nguồn cung vốn bao gồm: nguồn cung trong nước và nguồn cung từ
bên ngoài.
Nguồn cung trong nước: có thể chia thành nguồn cung từ tích luỹ và nguồn cân đối
tạm thời.
Nguồn cung từ tích luỹ. Nguồn cung này bao gồm tiết kiệm của dân chúng, lợi nhuận
của các doanh nghiệp, các quỹ chuyên dụng. Tuỳ theo tình hình phát triển kinh tế của mỗi
nước mà nguồn cung từ tích luỹ cao thấp khác nhau. Đây là nguồn cung có tính chất dài hạn
và tương đối ổn định.
Nguồn cân đối tạm thời. Đây là nguồn cung vốn từ việc cân đối tạm thời các nguồn
tiền hoặc quỹ chưa sử dụng đến của ngân sách hay của các doanh nghiệp,... Nguồn vốn này
mang tính chất tạm thời vì vậy nó không ổn định. Tuy nhiên quy mô của nó cũng không
phải nhỏ.

những hậu quả nhất định đối với nền kinh tế xã hội quốc gia. Vì vậy, một biện pháp được
coi là tối ưu hơn cả, đó là Nhà nước trực tiếp vay nợ của mọi tầng lớp dân cư cũng như các
chủ thể khác trong nền kinh tế dưới hình thức tín dụng Nhà nước, bằng cách phát hành trái
phiếu chính phủ.
+ Về phía doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là chủ thể thứ
hai (sau Nhà nước), cũng có nhu cầu rất lớn và thường xuyên về vốn tiền tệ. Được chủ động
tạo vốn, doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương án tài trợ hiệu quả nhất, nghĩa là với chi phí sử
dụng vốn thấp nhất, ít rủi ro nhất. Nói chung, doanh nghiệp có hai giải pháp cơ bản đáp ứng
nhu cầu về vốn đầu tư. Trước hết là khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp. Tuy nhiên khả
năng này là hạn chế và thường chỉ đáp ứng một phần nào đó nhu cầu vốn đầu tư. Biện pháp
thứ hai là huy động vốn từ bên ngoài. Chủ yếu có hai phương án, hoặc là vay vốn từ các tổ
chức tín dụng, hoặc là phát hành trái phiếu hay cổ phiếu. Biện pháp truyền thống là vay
ngân hàng, bên cạnh những ưu điểm cũng bộc lộ những khó khăn và hạn chế nhất định về
thủ tục, điều kiện, tài sản đảm bảo, số lượng tiền vay. Việc phát hành trái phiếu hay cổ
phiếu mở ra khả năng tài trợ to lớn với những ưu điểm nổi trội so với các phương pháp
truyền thống. Các loại cổ phiếu và trái phiếu do công ty phát hành, chính là chứng khoán.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, sự xuất hiện các loại chứng khoán hoàn
toàn là yêu cầu cần thiết và khách quan. Vấn đề là làm thế nào để chứng khoán phát hành ra
được nhà đầu tư chấp nhận. Đối với nhà đầu tư, điều mà họ quan tâm khi đầu tư vốn là tiền
lời thu được từ khoản đầu tư, mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản như thế nào,...
Nếu đầu tư vào chứng khoán, khả năng thanh khoản của chứng khoán phụ thuộc vào
khả năng mua bán chứng khoán. Để tạo ra được khả năng đó, con đường duy nhất hợp lý là
phải hình thành cơ chế của một thị trường riêng biệt - một loại thị trường chuyên môn hoá
các giao dịch mua bán những sản phẩm tài chính, các chứng khoán trung và dài hạn.
Như vậy, sự ra đời của các loại chứng khoán cũng như quá trình thương mại hoá
chúng vừa thoả mãn yêu cầu của người có vốn và người cần vốn, vừa là cơ sở để hình thành
TTCK.
Nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển của TTCK cho thấy: TTCK cũng như tất cả các
loại thị trường khác, buổi bình minh của thị trường được hình thành một cách rất tự phát và
sơ khai, từ những nhu cầu riêng lẻ của các thành viên trong xã hội mà lúc đầu chủ yếu là các

ngược phía người gọi là lệnh bán, các ngón tay biểu thị mức giá… Cho tới năm 1921, ở Hoa
Kỳ, các khu chợ được chuyển vào trong nhà, Sở giao dịch chứng khoán chính thức được
thành lập. Cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, các phương
thức giao dịch cũng ngày càng được hoàn thiện để từng bước nâng cao quy mô và chất
lượng giao dịch. Nếu trong thời kỳ đầu của TTCK, các giao dịch được thực hiện thủ công,
bảng đen phấn trắng thì vào những năm cuối thế kỷ XX hệ thống giao dịch điện tử hầu như
đã hoàn toàn thay thế.
Lịch sử ra đời và phát triển của thị trường trên thế giới cho thấy, các nước phát triển
theo cơ chế thị trường đều phải tuân theo các quy luật khắt khe của thị trường: quy luật giá
trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu... Trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố sản
xuất đều là hàng hoá, vì vậy phải có các loại thị trường giành cho từng loại hàng hoá đó.
Chính vì thế, trong cơ cấu thị trường của các nước, bên cạnh thị trường hàng hoá tiêu dùng,
còn có thị trường tư liệu sản xuất, thị trường sức lao động, thị trường dịch vụ thông tin,
TTCK... Điều đó chứng tỏ, TTCK là một yếu tố cấu thành đặc biệt quan trọng của nền kinh
tế thị trường, nó ra đời tự phát và tồn tại khách quan trong nền kinh tế.
1.1.2. Khái niệm và các đặc điểm của TTCK
Thuật ngữ "thị trường" là một khái niệm cơ bản của kinh tế học và đã được nhiều nhà
kinh tế học định nghĩa. Nếu hiểu "thị trường" một cách đơn giản là nơi mua bán hàng hoá
thì không sai, nhưng không đầy đủ và không thấy được những loại thị trường không có
"chợ" mua bán tập trung. Hơn nữa, nếu hiểu như vậy thì thật khó giải thích được những loại
thị trường "vô hình" với những loại hàng hoá "vô hình" đã và đang ngày càng phát triển như
3
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
thị trường vốn, thị trường dịch vụ,...
Xét về bản chất, thị trường là mối quan hệ kinh tế tổng hợp của 5 thành tố: hàng hoá,
cung cầu, giá cả, phương thức giao dịch và thanh toán. Như vậy, nơi nào, lúc nào có đủ 5
thành tố thì nơi đó, khi đó diễn ra hoạt động của thị trường. Với nhận thức này chúng ta sẽ
thấy được các loại thị trường "vô hình", những loại thị trường không có chợ mua bán tập
trung tại một địa điểm cố định. Những khác biệt còn lại là quy mô của thị trường đó rộng
hay hẹp, phổ biến hay chưa phổ biến, hiện đại hay còn thô sơ.

năng thanh khoản ra sao. Nói cách khác, việc phát hành, giao dịch các chứng khoán với tư
cách là hàng hoá trên TTCK của tổ chức phát hành, của nhà đầu tư nhằm mục đích huy
động các nguồn vốn nhàn rỗi cho đầu tư, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch các dòng tiết
kiệm và đầu tư nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Thứ hai, TTCK được đặc trưng bởi định chế tài chính trực tiếp, những người có khả
năng cung ứng vốn có thể điều chuyển vốn trực tiếp cho người cần vốn mà không cần thông
qua các trung gian tài chính (ngân hàng, công ty tài chính,...) với tư cách là một chủ thể
riêng biệt, độc lập thực hiện huy động vốn để phân phối vốn nhằm đạt được những lợi ích
riêng.
4
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
Chúng ta đều đã biết, các nguồn tài chính có thể được chuyển dịch từ người cung sang
người cầu bằng một trong hai hình thức: tài chính gián tiếp hoặc trực tiếp.
Tài chính gián tiếp: vốn được luân chuyển từ người cung vốn qua các trung gian tài
chính (như ngân hàng thương mại, công ty tài chính…) rồi mới được chuyển tới người cầu
vốn. Trung gian tài chính đứng giữa người cung và người cầu vốn, tiến hành tập trung các
nguồn tài chính từ những người cung vốn và trả cho họ một khoản tiền lãi nhất định; sau đó
sử dụng các nguồn lực tài chính huy động được để cho những người cầu vốn vay và thu từ
họ một khoản tiền lãi nhất định. Trung gian tài chính được hưởng một khoản thu nhập từ
phần chênh lệch giữa thu từ cung ứng nguồn lực tài chính và chi cho huy động các nguồn
lực tài chính.
Tài chính trực tiếp: vốn hay các nguồn tài chính được luân chuyển trực tiếp từ người
cung vốn sang người cầu vốn. Trong quá trình vận động này, nguồn tài chính không dừng
lại ở bất kỳ một tổ chức tài chính trung gian nào. Người có nhu cầu sử dụng vốn phải trả chi
phí sử dụng vốn cho người cung vốn. Tuy nhiên, trong hình thức tài trợ trực tiếp, nguồn vốn
có thể luân chuyển tới người có nhu cầu theo 2 hình thức: tài trợ trực tiếp qua trung gian và
tài trợ trực tiếp không qua trung gian.
Hình 1.1: Quá trình chu chuyển vốn trên thị trường tài chính
Tài trợ trực tiếp qua trung gian là một hình thức luân chuyển các nguồn tài chính trong
đó ngoài người cung vốn và người cầu vốn còn xuất hiện một trung gian đứng ra tổ chức,

5.Tổ chức, cá nhân nước
ngoài
Vốn
Vốn
Vốn
Vốn
Vốn
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
luân chuyển các nguồn tài chính phát sinh khá phổ biến trên thị trường.
Tài trợ trực tiếp không qua trung: là hình thức luân chuyển trực tiếp các nguồn tài
chính giữa người cung vốn và người cầu vốn mà không cần qua bất kỳ một trung gian nào.
Người cung vốn và người cầu vốn trực tiếp thỏa thuận các điều kiện giao dịch. Trong hình
thức này, người có nhu cầu vốn chỉ phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn để có
quyền sử dụng vốn trong những khoảng thời gian nhất định. Loại hình luân chuyển các
nguồn tài chính này phát sinh phổ biến trong phát hành chứng khoán nội bộ, mua chứng
khoán trực tiếp từ tổ chức phát hành, hoặc trên thị trường tự do (thị trường ngầm), .
Thực tế phát triển TTCK cho thấy, hầu hết các hoạt động phát hành chứng khoán để
huy động vốn của các tổ chức phát hành được thực hiện thông qua các hình thức tài trợ trực
tiếp qua trung gian hoặc không qua trung gian.
Thứ ba, hoạt động mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện qua người môi giới.
TTCK được cấu thành bởi nhiều bộ phận thị trường, trong đó TTCK tập trung và thị
trường OTC là những bộ phận quan trọng. Do hàng hóa của thị trường này là các công cụ
chuyển tải giá trị, nên bằng những giác quan thông thường nhà đầu tư khó có khả năng phân
biệt được chứng khoán đó có đảm bảo yêu cầu về mặt pháp lí cũng như chất lượng của
chúng. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nhà đầu tư, đảm bảo TTCK hoạt động
đúng pháp luật, công bằng, công khai và hiệu quả, luật pháp các nước thường quy định hoạt
động mua bán chứng khoán trên các thị trường có tổ chức phải thông qua các trung gian, đó
là những nhà môi giới chứng khoán đã được cấp phép là thành viên giao dịch của thị trường
đó. Các nhà đầu tư muốn mua hoặc bán chứng khoán không thể đến thị trường đàm phán để
mua bán trực tiếp, mà bắt buộc phải đặt lệnh mua bán qua các nhà môi giới chứng khoán.

- Công ty quản lí quỹ đầu tư: phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư.
● Nhà đầu tư chứng khoán
Nhà đầu tư chứng khoán là những người bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán nhằm mục
đích thu lợi nhuận. Nhà đầu tư có thể được chia thành nhiều loại như nhà đầu tư tổ chức,
nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
+ Nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là những người tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK. Cũng
giống như những hoạt động đầu tư khác, mục đích của đầu tư chứng khoán để tìm kiếm lợi
nhuận. Tuy nhiên, mỗi nhà đầu tư có khả năng tài chính, tâm lí đầu tư và điều kiện nhân
thân… khác nhau. Do vậy, họ sẽ có thái độ khác nhau đối với rủi ro.
Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái thận trọng thường không thích rủi ro và rất
bảo thủ trong các phương thức đầu tư. Họ tìm mọi cách để giảm rủi ro và tìm kiếm lợi
nhuận từ những chứng khoán có rủi ro thấp, đầu tư dài hạn vào một số chứng khoán nhất
định.
Các nhà đầu tư cá nhân thuộc trường phái mạo hiểm thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro
nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận thu được. Họ thường đầu tư vào các chứng khoán có tỉ
lệ rủi ro cao nhưng có lợi nhuận kì vọng lớn, thường đầu tư ngắn hạn mà không đầu tư lâu
dài vào bất cứ một loại chứng khoán nào.
+ Nhà đầu tư tổ chức (còn gọi nhà đầu tư chuyên nghiệp)
Nhà đầu tư tổ chức là các tổ chức thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng
lớn. Các tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm các chuyên gia có kinh
nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Nhìn chung có thể kể đến
một số nhà đầu tư chuyên nghiệp sau:
- Các quỹ tín thác đầu tư: được thành lập nhằm thu hút vốn của nhiều nhà đầu tư cá
nhân đề đầu tư trên TTCK. Ưu điểm nổi bật của hình thức đầu tư qua các quỹ tín thác là có
thể đa dạng hóa danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên
gia có kinh nghiệm.
- Các công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm quản lí phí bảo hiểm của những người tham
gia bảo hiểm và sử dụng số tiền đó để đầu tư dưới các hình thức như: gửi ngân hàng, đầu tư
vào chứng khoán... Để đảm bảo khả năng thanh toán bảo hiểm của các công ty bảo hiểm,

● Người cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chứng khoán (tổ chức phụ trợ)
Để đảm bảo cho TTCK có thể vận hành một cách bình thường, bên cạnh các chủ thể
nêu trên cần có các tổ chức cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chứng khoán như: tổ
chức lưu kí chứng khoán và thanh toán bù trừ, tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm, tổ chức tài
trợ chứng khoán, tổ chức kiểm toán, công nghệ thông tin TTCK…
- Tổ chức lưu kí chứng khoán và thanh toán bù trừ
Tổ chức lưu kí chứng khoán và thanh toán bù trừ là tổ chức nhận lưu giữ bảo quản các
chứng khoán của khách hàng và tiến hành các nghiệp vụ thanh toán bù trừ các giao dịch
mua bán chứng khoán.
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là tổ chức chuyên thực hiện việc đánh giá về tình
hình hiện tại và triển vọng hoạt động của các doanh nghiệp dưới dạng các hệ số tín nhiệm.
Nhà đầu tư có thể dựa vào các hệ số tín nhiệm do các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm cung
cấp để cân nhắc trước khi ra quyết định đầu tư.
- Tổ chức tài trợ chứng khoán
Tổ chức tài trợ chứng khoán là các tổ chức được thành lập với mục đích khuyến khích
mở rộng và tăng trưởng TTCK thông qua các hoạt động cho vay bảo lãnh, cho vay để mua
cổ phiếu, cho vay chứng khoán cho các giao dịch chênh lệch… Các tổ chức tài trợ chứng
khoán ở các nước khác nhau có đặc điểm khác nhau, có nước không có loại hình tổ chức
này.
● Người quản lí và giám sát thị trường
Tùy theo chính sách phát triển thị trường và thực tế phát triển TTCK của mỗi quốc gia
mà việc quản lí và giám sát TTCK được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau. Thông thường
tham gia quản lí giám sát TTCK bao gồm: Nhà nước (thông qua các cơ quan chức năng như
UBCKNN, NHNN…), các tổ chức tự quản (Sở giao dịch, Hiệp hội các nhà kinh doanh
chứng khoán…).
- Cơ quan quản lí nhà nước đối với TTCK
Sự quản lí của nhà nước đối với TTCK là nhân tố rất quan trọng để đảm bảo cho thị
trường hoạt động trật tự, công bằng, đúng pháp luật. Tuy nhiên mô hình quản lí nhà nước
đối với TTCK ở các nước đều có những điểm khác nhau. Nhìn nhận khái quát có thể thấy

+ Thu nhận các khiếu nại của khách hàng đối với các CTCK thành viên. Xử lí các vi
phạm của thành viên theo quy chế của Hiệp hội.
+ Đề xuất các kiến nghị đối với các cơ quan quản lí Nhà nước về các biện pháp phát
triển thị trường.
1.2. PHÂN LOẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2.1. Theo đối tượng giao dịch
● Thị trường cổ phiếu (Stocks Market)
Thị trường cổ phiếu, còn gọi là thị trường vốn (vốn cổ phần) là thị trường mà đối
tượng giao dịch là các loại cổ phiếu của các công ty cổ phần. Thị trường cổ phiếu được coi
là bộ phận cơ bản và giữ vị trí quan trọng nhất của hệ thống TTCK. Nói đến TTCK người ta
thường đồng nghĩa với thị trường cổ phiếu.
Thị trường cổ phiếu có một số đặc điểm sau:
+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại cổ phiếu (còn gọi là các công cụ vốn)
như: cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu phổ thông), cổ phiếu ưu đãi.
+ Nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu giữ vai trò là cổ đông, là đồng sở hữu một phần công
ty cổ phần - tổ chức phát hành ra cổ phiếu đó.
+ Do cổ phiếu không có thờì hạn nên để thu hồi vốn đầu tư, thông thường nhà đầu tư
không thể yêu cầu tổ chức phát hành mua lại mà phải đem bán chúng (chuyển nhượng
9
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
quyền sở hữu) cho những nhà đầu tư khác trên thị trường cổ phiếu.
● Thị trường trái phiếu (Bonds Market)
Thị trường trái phiếu, còn gọi là thị trường nợ là nơi giao dịch các loại trái phiếu. Trái
phiếu được giao dịch trên thị trường bao gồm trái phiếu chính phủ và chính quyền địa
phương, trái phiếu công ty, trái phiếu ngân hàng…
Thị trường trái phiếu có một số đặc điểm sau:
+ Hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại trái phiếu (còn gọi là các công cụ nợ)
như: công trái quốc gia, trái phiếu đầu tư, trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, kì phiếu
ngân hàng...
+ Nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu giữ vai trò là chủ nợ của tổ chức phát hành.

TTCK sơ cấp có vai trò tạo vốn cho các tổ chức phát hành và chuyển hoá các nguồn
vốn nhàn rỗi trong công chúng vào đầu tư.
Đặc điểm của thị trường sơ cấp:
+ Trên thị trường sơ cấp, chứng khoán là phương tiện huy động vốn đối với nhà phát
hành đồng thời là công cụ đầu tư các nguồn tiền nhàn rỗi đối với các nhà đầu tư.
+ Chủ thể giao dịch: trên thị trường sơ cấp, người bán chứng khoán là các tổ chức phát
10
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
hành, người mua là các nhà đầu tư .
+ Kết quả giao dịch trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế.
+ Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường sơ cấp là thị trường không liên tục.
● Thị trường thứ cấp (Secondary market)
Là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán các chứng khoán đã được phát hành trên
thị trường sơ cấp.
Vai trò của TTCK thứ cấp là thực hiện việc di chuyển vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư
chứng khoán. Nếu xét trên góc độ kinh tế vĩ mô, TTCK thứ cấp là một định chế tài chính
quan trọng trong quá trình điều tiết vốn đầu tư giữa các ngành, các lĩnh vực, tạo ra một sự
cân đối mới cho nền kinh tế.
Đặc điểm của TTCK thứ cấp:
+ Trên thị trường thứ cấp, chứng khoán chỉ thuần túy là công cụ đầu tư mà không tồn
tại với tư cách là phương tiện huy động vốn cho các tổ chức phát hành.
+ Chủ thể giao dịch của thị trường thứ cấp chủ yếu là các nhà đầu tư, kinh doanh
chứng khoán, bao gồm: các nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư.
+ Kết quả hoạt động của thị trường thứ cấp không làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế
mà chỉ có vai trò làm thay đổi quyền sở hữu vốn đầu tư giữa các nhà đầu tư của thị trường.
+ Tính chất hoạt động của thị trường: thị trường thứ cấp là thị trường liên tục.
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp một mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau, làm
tiền đề cho sự phát triển của TTCK. Thị trường sơ cấp có vai trò tạo hàng hóa cho hoạt
động của thị trường sơ cấp, thị trường thứ cấp làm gia tăng tính thanh khoản của chứng
khoán, đảm bảo cho sự phát triển của thị trường sơ cấp .

thành viên của thị trường.
Đặc điểm của TTCK OTC:
- TTCK OTC không có địa điểm giao dịch cố định. Các giao dịch được tiến hành qua
mạng lưới các CTCK phân tán trên khắp quốc gia.
- Các chứng khoán được giao dịch tại đây là các chứng khoán chưa được niêm yết trên
bất kỳ thị trường tập trung nào và thường bao gồm các chứng khoán có tiêu chuẩn thấp hơn
chứng khoán được niêm yết trên thị trường tập trung - chứng khoán của các công ty vừa và
nhỏ.
- Giá cả trên thị trường được xác định chủ yếu theo phương thức thương lượng, thoả
thuận.
- Nhà nước quản lí đối với thị trường thông qua các pháp luật chuyên ngành về CK &
TTCK.
So sánh thị trường OTC với thị trường tập trung
Thị trường OTC Thị trường tập trung
- Địa điểm giao dịch phi tập trung.
- Giao dịch qua mạng máy tính điện tử.
- Thỏa thuận giá, hoặc mua bán theo giá
niêm yết.
- Giao dịch chứng khoán loại 2 (có tiêu
chuẩn thấp hơn).
- Sử dụng các nhà tạo lập thị trường hoạt
động theo pháp luật.
- Được tổ chức quản lí chặt chẽ bởi các cơ
quan quản lí nhà nước và tổ chức tự quản.
- Quản lí nhà nước đối với thị trường thông
qua hệ thống các văn bản pháp luật chuyên
ngành (luật chứng khoán) và các văn bản
pháp luật có liên quan.
- Tổ chức tự quản là hiệp hội các nhà KDCK
hoặc sở giao dịch.

Nó ra đời và hoạt động bởi các nhu cầu tự phát của thị trường. Do không được bảo hộ về
mặt pháp lý nên việc mua bán chứng khoán trên thị trường tự do chứa đựng nhiều rủi ro như
lừa đảo, hàng giả, hàng không có thật…
So sánh thị trường OTC và thị trường tự do
Thị trường OTC Thị trường tự do
- Có tổ chức chặt chẽ.
- Giao dịch phi tập trung.
- Thỏa thuận giá qua mạng, hoặc mua bán
theo giá niêm yết.
- Chứng khoán loại 2.
- Có quản lí nhà nước và tự quản.
- Không có tổ chức.
- Giao dịch phi tập trung.
- Thỏa thuận giá trực tiếp và thủ công.
- Chứng khoán chưa niêm yết tại TTCK tập
trung và thị trường OTC.
- Không có sự quản lí nhà nước bởi các luật
chuyên ngành về CK & TTCK.
Thị trường có tổ chức và thị trường tự do là hai bộ phận cùng song song tồn tại và phát
triển. Xét về lịch sử, thị trường tự do ra đời sớm hơn rất nhiều so với thị trường có tổ chức.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như sự gia tăng vai trò kiểm
soát của Nhà nước thì quy mô và phạm vi hoạt động của thị trường tự do ngày càng giảm đi
rõ rệt ngược lại với sự phát triển nhanh chóng của thị trường có tổ chức.
Xem xét hoạt động TTCK theo tiêu thức này giúp chúng ta có thể đánh giá được vai
trò cũng như mức độ kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của TTCK nói riêng cũng
như toàn bộ nền kinh tế nói chung.
1.2.4. Theo thời hạn thanh toán
● Thị trường giao ngay
Thị trường giao ngay là thị trường mà việc giao nhận chứng khoán và thanh toán được
diễn ra ngay trong ngày giao dịch hoặc trong thời gian thanh toán bù trừ theo quy định.

cho các hoạt động đầu tư của các tổ chức phát hành.
- Thông qua phát hành trái phiếu, Nhà nước huy động vốn để thực hiện các chương
trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các công trình công cộng, thực hiện công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
- Các doanh nghiệp, các ngân hàng, tổ chức tài chính sử dụng vốn huy động được qua
phát hành trái phiếu, cổ phiếu để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển thị trường, mở rộng
quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao thị phần doanh nghiệp, củng cố vị trí trên thương
trường.
● Điều tiết các nguồn vốn trong nền kinh tế
TTCK nói chung, TTCK thứ cấp nói riêng là nơi tạo tính thanh khoản cho các loại
chứng khoán. Thông qua thị trường này nhà đầu tư có thể thu hồi vốn hoặc chuyển vốn đầu
tư một cách dễ dàng thông qua các hoạt động bán và mua các loại chứng khoán.
Mặt khác, trong nền KTTT, bên cạnh những doanh nghiệp thành đạt, không ít doanh
nghiệp có hiệu quả kinh doanh thấp kém, thậm chí có nguy cơ phá sản. Những doanh
nghiệp này có thể phải chấp nhận giải pháp thu hẹp phạm vi kinh doanh ở một lĩnh vực nào
đó bằng cách rút bớt vốn đầu tư khỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
để đầu tư vào một lĩnh vực khác thông qua việc mua các chứng khoán đang được giao dịch
trên TTCK. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc vốn đầu tư tự phát điều tiết từ các ngành, các
lĩnh vực có hiệu quả sử dụng thấp sang các ngành, các lĩnh vực có hiệu quả sử dụng cao
hơn.
1.3.2. Vai trò của TTCK
Việc tạo lập và phát triển TTCK có ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển
kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bổ sung nguồn vốn trung và dài
hạn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu không có đầy đủ các điều kiện cần thiết để đảm bảo
cho sự tồn tại và phát triển thì TTCK cũng có thể gây nên những tác hại không lường đối
với nền kinh tế - xã hội. Chính vì thế nhận thức được đầy đủ vai trò tích cực cũng như
những bất lợi của TTCK có một ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng thị trường và xây
dựng chính sách quản lý thị trường một cách hữu hiệu.
Ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển đều tồn tại TTCK với các vai
trò chủ yếu sau:

- TTCK góp phần đa dạng hóa các hình thức đầu tư và huy động vốn trong nền
kinh tế
TTCK đưa đến cho công chúng những công cụ đầu tư mới, đa dạng, phong phú, phù
hợp với từng đối tượng có tâm lý và chiến lược riêng. Với một hệ thống các loại chứng
khoán khác nhau của nhiều ngành kinh tế và các chủ thể khác nhau, người tiết kiệm có thể
tự mình lựa chọn, hoặc thông qua những nhà tài chính chuyên môn lựa chọn những hình
thức đầu tư thích hợp nhất. Nhờ vậy, vốn nhàn rỗi trong xã hội sẽ được thu hút vào công
cuộc đầu tư. Vốn đầu tư sinh lời, càng kích thích ý thức tiết kiệm và đầu tư trong dân
chúng. Nếu không có TTCK thì nguồn tiết kiệm trong dân chúng có thể vẫn tiếp tục nằm
yên dưới dạng cất trữ, không sinh lời cho bản thân người tiết kiệm và cũng chẳng đóng góp
gì cho quá trình phát triển kinh tế.
Như vậy, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu tư có lựa chọn cho công chúng, từ đó
nâng cao tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện về vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế.
- TTCK là tấm gương phản ánh thực trạng và tương lai phát triển của doanh
nghiệp
Thị giá chứng khoán của một doanh nghiệp đang giao dịch trên TTCK được coi là cơ
sở quan trọng đánh giá thực trạng hoạt động của doanh nghiệp đó trong hiện tại cũng như
trong tương lai. Thị giá cổ phiếu cao hay thấp biểu hiện trạng thái kinh tế của doanh nghiệp.
Đặc biệt, mức độ cổ tức và giá thặng dư của cổ phiếu (chênh lệch giữa giá thị trường và
mệnh giá) thể hiện khả năng mang lại lợi tức và thu nhập cho các cổ đông. Triển vọng
tương lai của mỗi doanh nghiệp cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị giá cổ phiếu
15
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
và sự diễn biến quá trình biến động thị giá cổ phiếu của công ty.
Như vậy thông qua sự biến động về giá cả chứng khoán và các chỉ số trên TTCK,
người ta có thể đánh giá được tình trạng "sức khoẻ" của một doanh nghiệp nói riêng cũng
như của nền kinh tế nói chung cả trong hiện tại và tương lai.
- TTCK là công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô
nền kinh tế
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính

● Thao túng thị trường
"Thao túng thị trường" có thể được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau, nhưng tựu
chung lại đều là những hành vi cố ý gây tác động đến thị trường bằng cách vận dụng quy
luật cung - cầu hoặc các hành vi nhân tạo khác, để tác động đến giá cả chứng khoán, nhằm
đạt được mục tiêu có lợi cho riêng mình. Thao túng thị trường thường được thể hiện dưới
các hình thức cụ thể sau:
- Một là, đầu cơ chứng khoán. Trên TTCK, hoạt động đầu tư chứng khoán được xem
là hoạt động cơ bản nhất của thị trường. Tuy vậy, cũng như bất kỳ hoạt động kinh tế nào,
bên cạnh hoạt động đầu tư chứng khoán tích cực thông thường thì hoạt động đầu cơ chứng
16
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
khoán, hay các nhà kinh tế còn gọi là hoạt động đầu tư mang tính chất đầu cơ, cũng song
song tồn tại và là nhân tố hết sức quan trọng và phức tạp trên TTCK. Đầu tư và đầu cơ đều
là những hoạt động kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Hoạt động đầu tư có thể là ngắn
hạn, trung hạn hoặc dài hạn, còn hoạt động đầu cơ thường mang tính ngắn hạn. Các nhà đầu
tư chứng khoán thường mua chứng khoán để nhận thu nhập từ chứng khoán đó mang lại,
còn các nhà đầu cơ thường là những người mua bán chứng khoán để tìm kiếm lơi nhuận từ
chênh lệch giá chứng khoán qua những lần mua đi bán lại trên TTCK. Bằng sự táo bạo của
mình, họ chớp lấy thời cơ để mua hoặc bán chớp nhoáng các chứng khoán. Như vậy, mục
tiêu của người đầu cơ không phải là nhận lợi tức của chứng khoán và thâm nhập vào các
công ty danh tiếng mà là kiếm lời thông qua việc mua bán để hưởng chênh lệch giá chứng
khoán. Họ sẵn sàng chấp nhận sự rủi ro, mạo hiểm để hy vọng thu được nhiều lợi nhuận cho
mình. Vì vậy, những người đầu cơ thường hay tập trung vào những chứng khoán mà nhiều
người cho rằng chúng có mức độ rủi ro cao. Họ thường quan tâm khai thác những thông tin
có tính chất nhất thời, thẩm định, dự đoán những khả năng có tính chất bất thường. Đầu tư
và đầu cơ đều là những hoạt động kinh doanh, giữa chúng có mức độ độc lập nhất định và
có thể chuyển hoá lẫn nhau. Trên thực tế, một người mua chứng khoán với mục đích ban
đầu là đầu tư, nhưng do giá chứng khoán họ đang nắm giữ lên giá hoặc sụt giá một cách
nhanh chóng khiến họ phải quyết định bán đi các chứng khoán mà mình đang nắm giữ
nhằm kiếm lời từ sự chênh lệch giá mua bán, hoặc bán đi để hạn chế rủi ro khi giá xuống,

- Bốn là, cố ý gây sai lệch hay sự hiểu lầm về hoạt động giao dịch của một loại chứng
khoán.
- Năm là, tìm mọi biện pháp để duy trì, ổn định mức giá chứng khoán nhằm tạo ra
những lợi thế cho việc chào bán hoặc phát hành chứng khoán mới.
- Sáu là, thực hiện các giao dịch được sắp đặt trước, giao dịch giả tạo...
● Giao dịch nội gián
"Giao dịch nội gián" là những trường hợp người trong nội bộ tổ chức phát hành, hoặc
những người do trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ nào đó mà có được những thông
tin chưa công bố ra công chúng, đã sử dụng hoặc trao cho người khác sử dụng những thông
tin này để đầu tư, tham gia giao dịch có lợi cho mình. Đối tượng để thực hiện hành vi giao
dịch nội gián là những người trong nội bộ bộ máy quản lý của tổ chức phát hành. Họ nắm
được các thông tin nội bộ nhờ vào tư cách thành viên của tổ chức quản lý, lãnh đạo, giám
sát hoặc nhờ vào chức năng của họ trong tổ chức phát hành.
Thông tin nội bộ là những thông tin quan trọng, chưa được công bố, liên quan đến một
hoặc nhiều người phát hành, một hoặc nhiều người mua, bán chứng khoán có kỳ hạn, một
hoặc nhiều sản phẩm tài chính đã được niêm yết, mà nếu thông tin đó được công bố sẽ có
khả năng ảnh hướng đến giá chứng khoán, giá hợp đồng quyền chọn, hoặc giá sản phẩm tài
chính có liên quan. Thông tin nội bộ bao gồm: những thay đổi lớn trong chính sách đầu tư,
quản lý của công ty niêm yết, giao dịch của công ty với ngân hàng bị đình chỉ, công ty gặp
tổn thất do hiểm hoạ thiên nhiên, các vụ kiện tụng lớn, tình trạng phá sản hay thâu tóm của
công ty, những khó khăn trong việc trả nợ của công ty, những thay đổi trong ban quản trị,
các kế hoạch sáp nhập, giải thể công ty, v,v...
Mua bán nội gián được xem như là một hành vi phi đạo đức về mặt thương mại và đi
ngược lại nguyên tắc: mọi nhà đầu tư phải có cơ hội như nhau.
● Các hành vi khác
Mua bán chứng khoán trên TTCK tự do cũng có thể gây nên những hậu quả khó
lường, vì bộ phận quản lý không thể biết được việc chuyển nhượng quyền sở hữu của một
đơn vị nào đó. Mọi sự mua bán bên ngoài có khả năng tạo áp lực cho các nhà đầu tư khác,
thậm chí đưa đến việc khống chế hay thay thế cả lãnh đạo của công ty. Do đó hầu hết các
thị trường đều quy định mọi sự mua bán cổ phiếu đã đăng ký với TTCK phải được thực

Một TTCK hoàn chỉnh không thể thiếu các CTCK, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm,
các quỹ đầu tư, các tổ chức lưu kí và thanh toán bù trừ… Do đó, để TTCK phát triển cần có
một hệ thống các tổ chức KDCK và các tổ chức phụ trợ hoạt động có hiệu quả và không
ngừng nâng cao năng lực kinh doanh cho các tổ chức này.
- Thu nhập dân cư
Khối lượng và tỷ trọng tiết kiệm trong tổng số thu nhập sẽ quyết định mức độ hoạt
động của TTCK. Khi thu nhập bình quân đầu người thấp thì tỷ trọng chi tiêu cho tiêu dùng
cao và tỷ trọng này càng giảm khi thu nhập bình quân đầu người tăng. Vì thế, TTCK chỉ có
thể phát triển khi và chỉ khi thu nhập quốc dân cũng như thu nhập bình quân đầu người
không ngừng tăng lên.
1.4.2. Điều kiện về pháp lý
Cũng giống như các thị trường khác, để TTCK ra đời, tồn tại và không ngừng phát
triển không thể thiếu các điều kiện về pháp lí. Môi trường pháp lí trong lĩnh vực CK và
TTCK thường bao gồm:
- Các quy chế về quản lý nhà nước đối với quá trình hình thành và vận hành thị trường.
- Các quy chế quản lý đối với các chủ thể tham gia thị trường: chủ thể quản lý, chủ thể
phát hành, chủ thể kinh doanh dịch vụ, nhà đầu tư…
- Các quy chế quản lý đối với các hoạt động trên TTCK như: phát hành, niêm yết, giao
dịch, công bố thông tin, lưu kí và thanh toán bù trừ…
Thực tế phát triển TTCK ở các nước cho thấy, TTCK chỉ có thể phát triển nếu quốc
gia đó ban hành được một hệ thống các văn bản pháp lý đầy đủ, đồng bộ, có tính tiên liệu
và hiệu lực pháp lí cao (bao gồm các văn bản luật và dưới luật có liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp đến CK & TTCK), ổn định trong thời gian dài. Một hệ thống pháp lý chắp vá,
không đồng bộ, tính pháp lý thấp và thay đổi thường xuyên sẽ làm TTCK hoạt động không
ổn định, hiệu quả thấp kém và chậm phát triển.
1.4.3. Điều kiện về nhân lực
Con người là yếu tố có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường. Vì
vậy, để đảm bảo cho TTCK không ngừng phát triển và hoàn thiện phải có đội ngũ chuyên
gia chứng khoán giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và phẩm
chất, tư cách đạo đức tốt trên các lĩnh vực:

● Chứng khoán (Securities) là gì ?
Có nhiều quan điểm khác nhau về chứng khoán. Tùy theo quan điểm, mục đích tiếp
cận và nghiên cứu, sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng như sự đa dạng phong
phú về chủng loại chứng khoán mà người ta có thể khái quát, nhận dạng chứng khoán qua
một số khái niệm sau :
- “Chứng khoán là một tài sản xác định về số lượng và có khả năng trao đổi, hoặc một
công cụ có thể trao đổi đại diện cho giá trị tài chính".
- “Chứng khoán là một văn bản pháp lý, chứng nhận cho người cầm giữ nó có những
những quyền nhất định đối với một loại tài sản nào đó".
- “Chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ các chứng từ có giá xác nhận khoản tiền mà
người chủ sở hữu đã bỏ ra để được quyền hưởng các khoản lợi tức nhất định theo những kỳ
hạn nhất định”.
- “Chứng khoán là các công cụ xác nhận quyền chủ sở hữu (cổ phiếu) hoặc quyền chủ
nợ (trái phiếu) đối với tổ chức phát hành”.
- Theo Luật Chứng khoán của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số
70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Việt Nam thì ‘‘chứng khoán là bằng chứng
xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ
chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc
dữ liệu điện tử ’’.
Dù ghi nhận chứng khoán ở góc độ nào, theo cách nào, thì chứng khoán cũng đại biểu
cho một số tiền nhất định mà người đầu tư đã ứng ra với mục đích là nó sẽ đem lại cho
người sở hữu các quyền và lợi ích nhất định. Tùy theo loại chứng khoán đầu tư mà người sở
hữu chứng khoán có được các quyền và lợi ích khác nhau. Nếu đầu tư mua cổ phiếu, nhà
đầu tư có quyền là người chủ sở hữu một phần vốn của công ty cổ phần, được hưởng thu
nhập do cổ phiếu mang lại đó là cổ tức. Nếu đầu tư mua trái phiếu, nhà đầu tư có quyền là
chủ nợ đối với tổ chức phát hành, được hưởng thu nhập do trái phiếu mang lại đó là trái tức.
Ngoài ra, nhà đầu tư còn có quyền chuyển nhượng chứng khoán do mình nắm giữ theo các
quy định của pháp luật. Vì thế, chứng khoán có thể được mua bán và được lưu thông với tư
cách là hàng hoá trên TTCK.
Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà chứng khoán có thể phát

- Chứng khoán phái sinh (Derivatives Securities) là các công cụ tài chính có nguồn gốc
từ chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ với chứng khoán gốc như : quyền mua cổ phần /
rights certificate, chứng quyền / warrants, quyền chọn / options, hợp đồng kì hạn / forward,
hợp đồng tương lai / future, hợp đồng hoán đổi / swap....
+ Theo đặc điểm thu nhập do chứng khoán mang lại, chứng khoán được chia thành :
chứng khoán có thu nhập cố định (trái phiếu có lãi suất cố định, cổ phiếu ưu đãi), chứng
khoán có thu nhập biến đổi (trái phiếu có lãi suất thả nổi, cổ phiếu thường).
2.1.2. Các đặc trưng cơ bản của chứng khoán
Chứng khoán có nhiều loại, mỗi loại có những điểm khác nhau nhất định, nhưng
chúng đều có các đặc trưng cơ bản sau :
● Tính sinh lợi (Yield)
Tính sinh lợi của chứng khoán là khả năng đem lại thu nhập cho người sở hữu chúng.
Các chứng khoán luôn chứa đựng một khả năng sinh lợi nhất định bởi lẽ khi phát hành
ra chúng, nhà phát hành luôn hứa hẹn, cam kết một khoản thu nhập sẽ thanh toán cho nhà
đầu tư, chính vì điều này mà nhà đầu tư mới bỏ vốn mua chứng khoán với tư cách là một
hoạt động đầu tư.
Với các loại chứng khoán khác nhau thì mức độ và tính chất các khoản thu nhập mà
chứng khoán đem lại cho người nắm giữ cũng khác nhau. Có những loại chứng khoán mà
thu nhập của nó cho nhà đầu tư tương đối ổn định trong suốt thời gian đầu tư, ngược lại có
những loại chứng khoán mà thu nhập của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng, hiệu
quả các hoạt động kinh tế của tổ chức phát hành, cũng như tình hình quan hệ cung cầu loại
chứng khoán đó trong nền kinh tế. Đối với cổ phiếu, người nắm giữ cổ phiếu sẽ được
hưởng cổ tức hàng năm khi công ty cổ phần hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và
quyết định chi trả cổ tức cho cổ đông, ngoài ra họ còn có thể có thêm một khoản thu nhập
tiềm năng trong tương lai dưới dạng chênh lệch giá chứng khoán nếu giá thị trường của cổ
phiếu tăng. Đối với trái phiếu, theo các kỳ hạn cam kết của tổ chức phát hành, các trái chủ
được quyền nhận trái tức, ngoài ra họ cũng có thể nhận thêm một khoản thu nhập thứ hai là
chênh lệch giá nếu giá thị trường cuả trái phiếu đó tăng lên.
● Tính rủi ro (Risk)
Tính rủi ro của chứng khoán là những sự cố bất lợi có nguồn gốc từ chứng khoán đối

● Tính thanh khoản (Liquidity)
Tính thanh khoản của chứng khoán (còn được gọi là tính hoán tệ, tính lỏng, tính lưu
thông) là khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền của người nắm giữ chứng khoán .
Các chứng khoán khác nhau thì có tính thanh khoản khác nhau. Một chứng khoán
được coi là có tính thanh khoản cao nếu nó có thể chuyển đổi thành tiền một cách dễ dàng
trong thời gian ngắn và không có rủi ro sụt giảm giá trị tiền tệ của chứng khoán đó.
Tính thanh khoản của mỗi chứng khoán cao hay thấp phụ thuộc vào:
+ Thời gian và chi phí cho việc chuyển đổi chứng khoán thành tiền,
+ Việc đảm bảo, duy trì giá trị ban đầu của chứng khoán.
Ba đặc trưng: tính sinh lợi, tính rủi ro, tính thanh khoản nói trên của chứng khoán có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Thông thường, các chứng khoán có rủi ro tiềm ẩn cao thì khả
năng sinh lợi cao. Đó chính là yếu tố hấp dẫn nhà đầu tư nắm giữ các chứng khoán có mức
rủi ro dự kiến cao. Giữa khả năng sinh lợi và tính hoán tệ cũng có mối liên hệ mật thiết. Các
chứng khoán có tính hoán tệ cao thì mức sinh lời thấp đồng thời ít rủi ro. Vì vậy các nhà
đầu tư thường chọn các chứng khoán có tính hoán tệ cao, bởi những chứng khoán này
thường có lợi thế trong giao dịch. Bất cứ lúc nào người nắm giữ chứng khoán cũng có thể
bán nó với thời gian ngắn nhất, ở mức giá hợp lý nhất.
Tính sinh lợi của chứng khoán đã thu hút một số lượng nhất định nhà đầu tư nắm giữ
chúng. Tuy nhiên, tính rủi ro lại là yếu tố tác động buộc họ phải cân nhắc xem lúc nào thì
23
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
nên đầu tư nắm giữ chứng khoán và lúc nào nên rút vốn đầu tư. Còn tính thanh khoản của
chứng khoán sẽ chuyển hoá hình thức đầu tư trung và dài hạn thành ngắn hạn, làm linh hoạt
hoá các công cụ đầu tư, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chứng khoán có thể thu hồi vốn
đầu tư hoặc di chuyển vốn đầu tư một cách dễ dàng.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu các đặc trưng của chứng khoán
- Không loại chứng khoán nào có lợi thế tuyệt đối. Vì vậy, nghiên cứu các đặc trưng
của chứng khoán giúp người đầu tư lựa chọn loại chứng khoán phù hợp với tâm lý, khả
năng tài chính và kết quả phân tích, đánh giá, dự báo về mỗi loại chứng khoán trong từng
thời kì.

tư mua trái phiếu khi nó được phát hành) lần đầu tiên. Số tiền thuần mà tổ chức phát hành
nhận được là hiệu số giữa giá phát hành và phí phát hành. Thông thường, giá phát hành
được xác định theo tỷ lệ % của mệnh giá. Tuỳ theo tình hình của thị trường và điều kiện của
người phát hành, tuỳ theo khoảng thời gian cách quãng giữa ngày bán trái phiếu và ngày
phát hành mà giá phát hành trái phiếu có thể là 1 trong 3 trường hợp: hoặc giá phát hành
bằng mệnh giá (ngang giá trái phiếu), hoặc giá phát hành cao hơn mệnh giá (giá gia tăng),
24
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
hoặc giá phát hành nhỏ hơn mệnh giá (giá chiết khấu).
- Thị giá trái phiếu: Là giá trái phiếu được giao dịch, mua bán trên thị trường tại một
thời điểm nhất định.
- Thời hạn của trái phiếu (Term to Maturity / Maturity): là khoảng thời gian kể từ ngày
phát hành trái phiếu đến ngày tổ chức phát hành hoàn trả số tiền gốc cho trái chủ. Ngày mà
khoản vốn gốc trái phiếu được thanh toán gọi là ngày đáo hạn của trái phiếu. Thông thường,
trái phiếu có thời hạn > 10 năm gọi là trái phiếu /Bonds, trái phiếu có thời hạn từ 1 đến 10
năm gọi là Notes, trái phiếu có thời hạn < 1 năm gọi là tín phiếu / Bills.
- Kỳ trả lãi (Coupon Dated): Là khoảng cách (thời gian) giữa 2 thời điểm liên tiếp mà
tại đó người phát hành trả lãi cho trái chủ. Lãi suất trái phiếu thường được công bố theo
năm, nhưng việc thanh toán lãi trái phiếu có thể được thực hiện 6 tháng một lần.
- Lợi tức trái phiếu (còn gọi là trái tức hay tiền lãi của trái phiếu): là số tiền lãi mà trái
chủ thu được từ trái phiếu theo kỳ hạn trả lãi cam kết của tổ chức phát hành.
- Lãi suất (coupon)
Khi phát hành trái phiếu tổ chức phát hành thường công bố trước mức lãi suất mà họ
sẽ trả cho nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu. Đó chính là lãi suất danh nghĩa.
+ Lãi suất danh nghĩa (Nominal Interest) là tỷ lệ lãi suất mà tổ chức phát hành cam kết
trả cho trái chủ. Lãi suất danh nghĩa thường được công bố theo một kỳ hạn nhất định, phổ
biến là một năm. Thường thì lãi suất này cố định cho đến khi đáo hạn, tuy nhiên nó vẫn có
thể thay đổi theo chỉ số thị trường tiền tệ hoặc theo thỏa thuận giữa tổ chức phát hành và
trái chủ. Lãi suất danh nghĩa là căn cứ để xác định lợi tức của trái phiếu.
Lợi tức trái phiếu = Lãi suất (danh nghĩa) x Mệnh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status