Những vấn đề cơ bản về kiểm toán nội bộ - Pdf 85

Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Chơng 1
những vấn đề cơ bản về kiểm toán nội bộ
1.1. Bản chất của KTNB
- Kiểm toán nội bộ ra đời xuất phát từ yêu cầu quản lý. Để thực hiện chc nng
quản lý (lp k hoch, t chc thc hin, kim tra, ỏnh giỏ) cần có các chính sách,
thủ tục quy định trong tổ chức. Quy mô tổ chức càng phát triển thì các chính sách, thủ
tục càng phức tạp, hình thành một hệ thống mạng kiểm soát - HTKSNB.
Hệ thống KSNB trong đơn vị, hiểu một cách đơn giản chính là hệ thống các chính
sách, thủ tục, quy định đợc thiết kế và thực hiện trong đơn vị để thực hiện các mục tiêu
quản lý:
1) Bảo đảm độ tin cậy và tính trung thực của thông tin
2) Bảo đảm sự tuân thủ các chính sách, thủ tục, quy định của đơn vị cũng nh của
Nhà nớc
3) Bảo vệ tài sản trong đơn vị
4) Bảo đảm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả trong sử dụng nguồn tài nguyên của đơn
vị
5) Bảo đảm đạt đợc các mục tiêu, chơng trình đã đợc thiết lập
Quá trình thực hiện HTKSNB gồm:
1) Thiết kế các thủ tục kiểm soát
2) Thực hiện các thủ tục kiểm soát
3) Kiểm tra sự tuân thủ các thủ tục kiểm soát
4) Đánh giá các thủ tục kiểm soát
Các công việc này thờng do các nhà quản lý thực hiện. Tuy nhiên, khi quy mô của
đơn vị lớn thì cần có sự chuyên môn hoá các công việc 3 và 4, khi đó sẽ hình thành
KTNB
KN: Kiểm toán nội bộ là 1 chức năng thẩm định độc lập, đợc thiết lập bên trong 1 tổ
chức để xem xét đánh giá các hoạt động của tổ chức đó với t cách là một trợ giúp đối với
tổ chức đó.
Sau khi trình bày khái niệm, cần phân tích:
- Kiểm toán: Kiểm tra sự chính xác so hoc của sự tồn tại của tài sản ngoài ra nó còn

3/1993 gồm các chuẩn mực sau:
100. Độc lập - KTVNB phải độc lập với những hoạt động mà mình kiểm toán
110. Vị trí trong tổ chức: Vị trí trong tổ chức của KTNB phải đủ để hoàn thành
các trách nhiệm kiểm toán của mình
120. Khách quan: KTV phải khách quan trong quá trình thực hiện kiểm toán
200. Sự thành thạo nghề nghiệp - Công tác kiểm toán nội bộ phải đợc thực hiện với sự
thành thạo và sự thận trọng nghề nghiệp đúng mức
Bộ phận kiểm toán nội bộ
210. Nhân viên: bộ phận KTNB phải đảm bảo rằng trình độ cơ bản và sự thành
thạo nghề nghiệp của KTVNB thích hợp với công việc kiểm toán mà họ thực
hiện
220. Kiến thức, kỹ năng và chuyên môn bổ trợ: Bộ phận KTNB phải có đợc hay cố
gắng đạt đợc những kiến thức, kỹ năng và chuyên môn bổ trợ cần thiết để
hoàn thành trách nhiệm kiểm toán của mình
230. Giám sát: Bộ phận KTNB phải cung cấp một sự đảm bảo rằngcác cuộc KTNB
đợc giám sát một cách đúng đắn
2
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
KTV nội bộ
240. Tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp: KTVNB phải tuân thủ các
chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp
250. Kiến thức, kỹ năng và kiến thức bổ trợ: KTVNB phải có những kiến thức, kỹ
năng và chuyên môn bổ trợ cần thiết để hoàn thành công việc kiểm toán nội bộ
260. Truyền đạt và quan hệ đối nhân: KTVNB phải khéo léo trong quan hệ đối
nhân và có khả năng truyền đạt hiệu quả
270. Đào tạo liên tục: KTV phải duy trì năng lực thông qua đào tạo liên tục
280. Thận trọng nghề nghiệp đúng mức: KTVNB phải thận trọng nghề nghiệp
đúng mức trong quá trình thực hiện KTNB
300. Phạm vi công việc Phạm vi công việc của KTNB phải bao gồm công việc kiểm
tra, đánh giá sự đầy đủ và hiệu quả của HTKSNB của tổ chức và chất lợng hoạt

toán đã báo cáo
500. Quản lý bộ phận kiểm toán nội bộ - Trởng KTNB phải quản lý đúng đắn bộ phận
KTNB
510. Mục tiêu, quyền hạn và trách nhiệm: Trởng KTNB phải có đợc một quy định
bằng văn bản về mục tiêu, quyền hạn và trách nhiệm của bộ phận KTNB
520. Lập kế hoạch: Trởng KTNB phải thiết lập các kế hoạch để hoàn thành các
trách nhiệm của bộ phận KTNB
530. Chính sách và thủ tục: Trởng KTNB phải đa ra các chính sách và thủ tục bằng
văn bản để hớng dẫn cho KTV
540. Quản lý và phát triển nhân sự: Trởng KTNB phải thiết lập một chơng trình
tuyển dụng và phát triển nguồn nhân lực cho bộ phận KTNB
550. Kiểm toán viên độc lập: Trởng KTNB phải phối hợp nỗ lực với KTV độc lập
560. Bảo đảm chất lợng: Trởng KTNB phải thiết lập và duy trì một chơng trình bảo
đảm chất lợng để đánh giá hoạt động của bộ phận KTNB
1.3. Mục đích, chức năng, nhiệm vụ của KTNB
1.3.1. Mục đích
- Xem xét sự trung thực và độ tin cậy của các thông tin tài chính và hoạt động, ph-
ơng pháp ghi chép và báo cáo các thông tin này. Việc kiểm tra có thể bao gồm việc xem
xét các phơng pháp xác định, đo lờng, phân loại, lập báo cáo và kiểm tra chi tiết các
nghiệp vụ, các khoản mục, số d tài khoản và thủ tục kiểm soát các thông tin kinh tế tài
chính.
- Xem xét hệ thống có đợc thiết lập phù hợp với các chính sách, kế hoạch và quy
định của đơn vị cũng nh của Nhà nớc. Xác định trong thực tế chúng có đợc tuân thủ
không. KTNB có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá thờng xuyên để đa ra kiến nghị nhằm
hoàn thiện hệ thống kế toán và HTKSNB.
- Xem xét phơng thức bảo vệ tài sản và kiểm tra sự tồn taị của các tài sản.
- Xem xét các hoạt động và chơng trình có đáp ứng đơc các mục tiêu đã đề ra
không.
7 mục đích của kiểm toán nội bộ:
- Hiệu lực (hợp thức)

- Kiểm tra
- Xác nhận
- Đánh giá
* Theo IIA, chức năng của KTNB là kiểm tra, đánh giá và cải thiện mọi hoạt động
của đơn vị.
1.3.3. Nhiệm vụ: Theo Điều 6 QĐ 832 ngày 28/10/1997 của BTC
Kim toỏn ni b cú cỏc nhim v sau:
1. Kim tra tớnh phự hp, hiu lc v hiu qu ca h thng kim soỏt ni b;
5
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
2. Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính
của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi trình ký duyệt;
3. Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt
sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết,
quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc doanh nghiệp;
4. Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản
của doanh nghiệp; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý,
điều hành kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4. C¸c lo¹i kiÓm so¸t néi bé
1.4.1 Tính chất cơ bản của kiểm soát:
Quá trình kiểm soát là cần thiết trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người,
bên trong tổ chức cũng như toàn bộ xã hội. Trong hầu hết các khía cạnh thì các nội
dung và nguyên tắc đã sử dụng là như anh em nhưng vì nhiệm vụ đầu tiên của kiểm
toán viên nội bộ là phục vụ tổ chức nên cách tiếp cận của chúng tôi sẽ tập trung vào
kiểm soát khi nó áp dụng vào những hoạt động của tổ chức. Việc áp dụng theo trọng
tâm như vậy thường được coi là “kiểm soát nội bộ” (internal control). Đó là lĩnh vực
cần quan tâm chúng tôi dự định thường dùng chữ “kiểm soát” cho nó rộng rãi hơn.
Vì kiểm soát là một hoạt động của tổ chức hay là một bộ phận của bất kỳ hoạt
động có tổ chức nên nó tồn tại ở hầu hết cấp độ tổ chức và nó được sự quan tâm của
nhiều người trong tổ chức. Bản chất cơ bản của kiểm soát còn được hiểu rõ hơn trong

trong tiến trình và tìm căn cứ cho hành động hỗ trợ cần thiết nào đó. Như vậy là nó góp
phần giúp chúng ta liệu thời gian để đến nơi một cách tiện lợi nhất.
1.4.2 Các loại kiểm soát
Trong lúc kiểm soát luôn luôn liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các mục tiêu -
và trong khi tính chất và phạm vi của các mục tiêu có thể thay đổi linh hoạt thì cách
thức thực hành kiểm soát cũng có thể thay đổi. Nhìn chung có ba loại kiểm soát:
a. Kiểm soát hướng dẫn:
Một loại kiểm soát tiêu biểu là thông qua định dạng những sự kiện giúp chúng ta
có hành động trung gian góp phần đạt những mục tiêu lớn hơn. Những việc trung gian
đó rất rõ ràng hoặc rất rộng nhưng đặc điểm chung là nó cảnh báo chúng ta cần có một
hoạt động quản lý kịp thời. Trong trường hợp người lái thuyền nói trên, hai chiếc
thuyền trôi về một phía có nghĩa là đòi hỏi một hành động hướng đến rõ ràng. Có
nhiều tiêu chuẩn đánh giá trong quá trình chế tạo sản phẩm cho thấy rằng những điều
kiện thực tế khác nhau đòi hỏi có công việc chế biến riêng. Một việc hạ giá của người
bán buôn cũng thành vấn đề cho nhà chế tạo ô tô chấp nhận thị trường sút kém đối với
sản phẩm ô tô và do đó cần điều chỉnh lịch trình sản xuất. Còn trong những trường hợp
khác có chỉ số rộng rãi về những xu hướng kinh tế có thể cảnh báo chúng ta thay đổi
những điều kiện gây ra những hành động bảo vệ hoặc những hành động tìm cơ hội
khác.
b. Kiểm soát “Có” “Không”:
Kiểm soát loại này là kiểm soát nhằm vào chức năng bảo vệ chúng ta một cách
máy móc, hay nói cách khác là giúp bảo đảm đạt được những kết quả mong muốn. Với
hình thức đơn giản nhất, nó có thể là một tiêu thức kiểm soát chất lượng mà thông qua
đó chỉ có một bộ phận của sản phẩm đúng với đặc điểm kỹ thuật mới có thể qua được.
Trong ví dụ minh họa khác, kiểm soát có thể là một sự thông qua bắt buộc của một loại
hình kinh doanh từ đó đảm bảo rằng một cá nhân cụ thể phải thực hiện việc tóm lượt
hoạt động có liên quan. Việc thiết kế những nhiệm vụ của tổ chức cũng có thể tạo ra
những cơ hội đảm bảo cần thiết qua sự đánh giá những quyết định kinh doanh chủ yếu
và hành động thực hiện. Nhân tố chung là có một kế hoạch kiểm soát lập sẵn hoặc có
7

phòng ngừa nào có thể giảm đợc rủi ro xuống bằng không và chi phí cho kiểm soát
phòng ngừa trong nhiều trờng hợp rất cao. Khi đó, kiểm soát phát hiện sẽ giúp phát hiện
sai phạm lọt lới kiểm soát phòng ngừa. Một ý nghĩa quan trọng của kiểm soát phát
hiện là sự răn đe, làm tăng sự chú ý và trách nhiệm của nhân viên trong quá trình thực
hiện kiểm soát phòng ngừa.
* Kiểm soát bù đắp: Là khái niệm về sự bù đắp một yếu kém về một thủ tục kiểm
soát này bằng một thủ tục kiểm soát khác. Thí dụ, đơn vị không thiết kế các thủ tục kiểm
soát về giao nhận vật t trong nội bộ phân xởng, nhng thay vào đó là sự kiểm tra chặt chẽ
việc nhập xuất của phân xởng. Cơ sở của việc sử dụng kiểm soát bù đắp là quan hệ giữa
chi phí và lợi ích.
8
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
1.5. Kiểm toán viên nội bộ
1.5.1. Tiêu chuẩn:
* Theo điều 12 QĐ 832 ngày 28/10/1997 của BTC:
Ngi c b nhim hoc c giao nhim v lm kim toỏn viờn ni b phi
cú cỏc tiờu chun sau:
1. Cú phm cht trung thc, khỏch quan, cha cú tin ỏn v cha b k lut t
mc cnh cỏo tr lờn do sai phm trong qun lý kinh t, ti chớnh, k toỏn;
2. ó tt nghip i hc chuyờn ngnh kinh t, ti chớnh, k toỏn, hoc qun tr
kinh doanh;
3. ó cụng tỏc thc t trong lnh vc qun lý ti chớnh, k toỏn t 5 nm tr lờn,
trong ú cú ớt nht cú 3 nm lm vic ti doanh nghip ni c giao nhim v kim
toỏn viờn;
4. ó qua hun luyn v nghip v kim toỏn, kim toỏn ni b theo ni dung
chng trỡnh thng nht ca B Ti chớnh v c cp chng ch.
* Theo Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán: Ngời làm kiểm toán
phải chính trực, khách quan, có năng lực chuyên môn và tính thận trọng, tính bảo mật, có
t cách nghề nghiệp và tuân thủ chuẩn mực chuyên môn.
* Theo Chuẩn mực thực hành nghề nghiệp kiểm toán nội bộ do IIA ban hành năm

Trên cơ sở kiến thức nền tảng đã có, Đam mê nghề nghiệp, đặc biệt là thích khám
phá rủi ro, sai sót, gian lận. Có kỹ năng giao tiếp và khai thác thông tin tốt. phải tự đào
sâu, tìm tòi nghiên cứu kiến thức và thực hành kiểm toán liên tục, không ngừng (học
suốt đời - Long-life learning). Phải rèn sức khỏe để có thể “chiến đấu” lâu dài, bền bỉ
trong điều kiện áp lực cao…
Và cuối cùng, kiểm toán viên nội bộ phải có cái “DŨNG” vững vàng và cái “TÂM”
trong sáng, để bền lòng vững bước trước mọi nguy nan và cám dỗ khi mà có lúc
người kiểm toán viên nội bộ phải đối diện với những hành vi gian lận và phạm pháp…
Trước hết họ là những người tư vấn kiểm soát cho giám đốc điều hành và các
giám đốc chức năng trong công ty, đánh giá nguồn lực công ty để sử dụng phù hợp
tránh lãng phí, thất thoát hay bảo đảm hoạt động của công ty tuân thủ pháp luật...
Không những thế, những kiểm toán viên nội bộ còn chịu trách nhiệm kiểm tra chất
lượng thông tin tài chính, báo cáo kế toán, soát xét tính trung thực và hợp lý của báo
cáo tài chính theo yêu cầu của tổng giám đốc.
Để đáp ứng được yêu cầu, mỗi kiểm toán viên nội bộ chuyên nghiệp phải như
một từ điển sống với vốn kiến thức chuyên sâu về tài chính kế toán, kiến thức pháp luật
và kiến thức quản trị. Ngoài ra, kiểm toán viên nội bộ còn phải tuân thủ những nguyên
tắc mà không phải ai cũng có thể thực hiện được như: Không quá thân thiện với nhân
viên các bộ phận khác trong công ty, không bàn về vụ việc của đối tượng kiểm toán ở
bất kì đâu, kể cả với những kiểm toán viên cùng phòng nhưng không trực tiếp tham
gia... Bảo mật là nguyên tắc mà kiểm toán viên nội bộ nhất nhất tuân theo, kể cả với
người thân trong gia đình.
Hội tụ đầy đủ những tố chất để trở thành kiểm toán viên nội bộ đã khó và để
được công nhận là chuyên nghiệp càng khó hơn. Vì vậy mà những kiểm toán viên luôn
được ngưỡng mộ khi công việc và cuộc sống của họ là một chuỗi áp lực. Và phần
thưởng xứng đáng với công sức mà họ bỏ ra là mức lương hàng ngàn USD, tiếng nói
có trọng lượng trong công ty cũng như cơ hội thăng tiến trở thành một giám đốc trong
tương lai.
1.5.2. Tr¸ch nhiÖm
10

về bãi nhiệm kiểm toán viên.
Kiểm toán viên nội bộ làm gì?
1. Nhà tư vấn kiểm soát và kiểm toán cho giám đốc điều hành và các giám đốc
chức năng trong công ty.
Giám sát tiến trình vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ và nhận dạng mọi cơ hội
cải tiến hệ thống này. Đánh giá nguồn lực công ty để sử dụng phù hợp tránh lãng phí,
11
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
tht thoỏt. Lm vic vi kim toỏn c lp ca cụng ty v nhng vn liờn quan.
xut chớnh sỏch bo v ti sn v qun lý ri ro.
2. Kim toỏn tuõn th phỏp lut, ni quy v chớnh sỏch iu hnh. Gúp phn
m bo hot ng cụng ty tuõn th quy nh phỏp lut, phự hp vi o c kinh
doanh. m bo cỏc chc nng ca cụng ty c thc hin nghiờm chnh, vn hnh
hp lý.
3. Thc hin mt phn chc nng kim soỏt ti chớnh. Kim tra cht lng
thụng tin, bỏo cỏo k toỏn. R soỏt tớnh trung thc v hp lý ca bỏo cỏo ti chớnh.
1.5.4. Đạo đức nghề nghiệp của KTV nội bộ:
Theo Điều lệ Đạo đức nghề nghiệp do IIA ban hành năm 1998, nội dung đạo đức
nghề nghiệp của KTVNB thờng bao gồm những vấn đề sau:
1. Trung thực, khách quan và cần mẫn trong việc thực hiện các nghĩa vụ và trách
nhiệm của mình
2. Trung thành trong mọi lĩnh vực đối với đơn vị. Tuy nhiên, không đợc tham gia
các hành vi phạm pháp, sai trái
3. Không đợc tham gia những hoạt động mâu thuẫn với quyền lợi của đơn vị hoặc
có ảnh hởng đến khả năng xét đoán của mình
4. Không đợc nhận những vật có giá trị của nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp
hoặc các đơn vị khác có liên quan đến đơn vị làm tổn hại dến xét đoán nghề nghiệp cuae
mình
5. Chỉ thực hiện những công việc xát thấy có khả năng hoàn thành với đầy đủ
chuyên môn, nghiệp vụ

KTNB.
- Mô hình phân tán: Ngoài bộ phận KTNB tại trung tâm, tại các đơn vị phụ thuộc,
công ty con, các chi nhánh,... đều có tổ chức KTNB trực thuộc các nhà quản lý tại các
đơn vị đó. Trong khi đó, bộ phận KTNB trung tâm sẽ kiểm tra toàn bộ hoạt động của tổ
chức và đợc giao trách nhiệm thực hiện những cuộc kiểm toán phức tạp hoặc có quy mô
toàn tổ chức. Mô hình này thờng đợc áp dụng cho các công ty đa quốc gia có hoạt động
trải rộng trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ xa cách về mặt địa lý.
- Mô hình kết hợp: Ngoài bộ phận KTNB tại trung tâm, doanh nghiệp có thể tổ
chức KTNB khu vực, chịu trách nhiệm trong một khu vực địa lý nhất định.
* Khi tổ chức bộ máy KTNB, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các cách sau
để phân công công việc:
- Tổ chức công việc theo loại kiểm toán
- Tổ chức công việc song song
- Tổ chức công việc theo khu vực địa lý
Theo Thông t số 171 ngày 22/12/1998 của BTC Hớng dẫn thực hiện kiểm toán nội
bộ tại DNNN: Tu thuc vo quy mụ sn xut kinh doanh, a bn hot ng tp trung
hay phõn tỏn, iu kin c th v trỡnh nng lc ca i ng k toỏn... Doanh nghip
cú th la chn hỡnh thc t chc b mỏy kim toỏn ni b cho phự hp v cú hiu qu
thit thc. Vic t chc b mỏy kim toỏn ni b khụng bt buc i vi cỏc doanh
nghip.
13
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
Điều 16: Bộ máy kiểm toán nội bộ
1. Các doanh nghiệp phải tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ để thực hiện công tác
kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp. Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ của doanh
nghiệp được tổ chức thành phòng, ban, hoặc nhóm, tổ công tác trực thuộc (Tổng) Giám
đốc doanh nghiệp.
Bộ máy kiểm toán nội bộ, gồm: Trưởng phòng kiểm toán nội bộ, Phó trưởng
phòng kiểm toán nội bộ (nếu có), nhóm trưởng kiểm toán nội bộ và kiểm toán viên nội
bộ. Số lượng kiểm toán viên nội bộ phụ thuộc vào quy mô kinh doanh, địa bàn hoạt

5. Đề nghị trưng tập kiểm toán viên ở các đơn vị thành viên hoặc chuyên viên
các bộ phận khác liên quan trong doanh nghiệp để thực hiện các cuộc kiểm toán khi
cần thiết.
6. Kiến nghị các thay đổi về chính sách, đường lối nhằm nâng cao hiệu quả trong
công tác quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh.
7. Khi phát hiện có hiện tượng vi phạm pháp luật hoặc những quyết định trái với
chủ trương, chính sách, chế độ phải có trách nhiệm báo cáo các cấp có thẩm quyền đưa
ra các giải pháp để giải quyết kịp thời.
Điều 18: Bộ máy kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp có các đơn vị trực thuộc.
- Đối với đơn vị thành viên trong Tổng công ty, Liên hiệp các xí nghiệp có tư
cách pháp nhân độc lập: Phải tổ chức bộ phận kiểm toán có chức năng độc lập, hoặc bố
trí một số nhân viên kiểm toán nội bộ để thực hiện kiểm toán nội bộ.
- Đối với doanh nghiệp thành viên trực thuộc hoặc phụ thuộc không có tư cách
pháp nhân: Tuỳ theo quy mô kinh doanh, địa bàn hoạt động mà có thể bổ nhiệm kiểm
toán viên hoạt động trực tiếp tại các đơn vị trực thuộc, phụ thuộc.
Các kiểm toán viên nội bộ hoạt động ở các doanh nghiệp thành viên có tư cách
pháp nhân độc lập, hoặc không có tư cách pháp nhân độc lập đều trực thuộc trực tiếp
hoặc gián tiếp bộ máy kiểm toán nội bộ của đơn vị cấp trên và chịu sự chỉ đạo trực tiếp
của Tổng Giám đốc, hoặc Giám đốc.
2.2. Néi dung cña kiÓm to¸n néi bé
Theo Điều 9 Q§ 832 ngµy 28/10/1997 cña BTC:
Nội dung công việc của kiểm toán nội bộ.
1. Kiểm toán hoạt động
- Kiểm tra việc huy động, phân phối sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả
các nguồn lực (nhân lực, vật tư, hàng hoá, tài sản, tiền vốn..., Lợi thế kinh doanh...)...
Của doanh nghiệp;
- Kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh; phân phối và sử
dụng thu nhập; kết quả bảo toàn và phát triển vốn.
- Kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả hoạt động của các bộ phận chức năng
trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

định của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh sẽ kiểm toán. Sơ bộ đánh giá những thay
đổi về điều kiện và môi trường hoạt động kinh doanh ảnh hưởng đến các mặt hoạt
động của doanh nghiệp;
- Tìm hiểu chính sách, quy định mới và các chủ trương, biện pháp phát sinh
trong kế toán, kiểm toán;
- Xem xét các báo cáo, tài liệu, hồ sơ kiểm toán trước đó (nếu có), kể cả các tài
liệu bên ngoài doanh nghiệp có liên quan đến cuộc kiểm toán; tóm tắt các thông tin cần
phải kiểm tra trong quá trình kiểm toán sắp tới; thu thập và chuẩn bị các mẫu, các
chương trình, các chỉ dẫn cho cuộc kiểm toán sẽ được tiến hành.
3. Thực hiện việc kiểm toán
16
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
- Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ phải xem xét, thu thập và
đánh giá đủ các bằng chứng cần thiết có liên quan, kể cả các chứng cứ bên ngoài doanh
nghiệp...;
- Xem xét, đánh giá và việc thực hiện các chính sách, quy định trong thực tế hoạt
động của doanh nghiệp.
- Đánh giá khả năng sai sót, nhầm lẫn, gian lận đối với từng loại nghiệp vụ, từng
hoạt động kinh tế. Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro của các nghiệp vụ phát sinh trong
nội bộ doanh nghiệp.
- Thực hiện phân tích, khảo sát các khoản mục chính, khảo sát bổ sung các chi
tiết; xem xét các sự kiện tiếp sau, đánh giá kết quả cuộc kiểm toán.
- Các bước tiến hành thực hiện cuộc kiểm toán phải theo đúng quy trình của một
cuộc kiểm toán và các bước tiến hành kiểm toán phải được ghi nhận trên tài liệu, hồ sơ
kiểm toán.
4. Kết thúc cuộc kiểm toán
4.1. Khi kết thúc cuộc kiểm toán
Kiểm toán viên nội bộ phải lập báo cáo kiểm toán;
Báo cáo kiểm toán phải trình bày đầy đủ các nội dung và kết quả kiểm toán theo
mục tiêu, yêu cầu đã đề ra cho từng cuộc kiểm toán; xác nhận tính đầy đủ, hợp lý của

chương trình kiểm toán trước. Các đối tượng có rủi ro thấp hơn sẽ được đưa vào kỳ
sau, sau khi trưởng bộ phận kiểm toán nội bộ xét thấy các đối tượng có rủi ro cao đã
được quan tâm đúng mức.
Tuy nhiên thực tế có thể xảy ra những tình huống khác với dự kiến do đó việc lựa
chọn này có thể còn căn cứ vào những phương pháp khác bên cạnh phương pháp lựa
chọn theo hệ thống.
Kiểm toán các vấn đề khúc mắc: Phương pháp này dựa trên nguyên tắc ưu tiên
kiểm toán những bộ phận hay vấn đề đang có “sự cố”. Ban giám đốc và Hội đồng quản
trị dựa vào sự xét đoán của họ mà đưa ra các vấn đề cần phải được kiểm toán ngay. Do
đó, theo phương pháp này, chính người quản lý chọn lựa các đối tượng kiểm toán.
Thí dụ, một công ty bất ngờ nhận được một hóa đơn buộc phải thanh toán ngay
một khoản vay lớn. Mặc dù khoản vay đã nhận và đã sử dụng vào mục đích sản xuất,
nhưng do một lý do nào đó nó không được ghi nhận vào hệ thống kế toán của công ty.
Khoản thanh toán này quá lớn đến nỗi cả hai trưởng phòng phải tạm thời ngưng công
việc thường ngày của họ một tuần để giải quyết khủng hoảng trong hệ thống quản lý
công nợ và tài chính của công ty. Trong cuộc họp của Hội đồng quản trị, báo cáo về
trường hợp này dẫn đến yêu cầu lập tức phải kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm
xác định những sai sót quan trọng có thể phát sinh.
Kiểm toán theo yêu cầu của chính đối tượng kiểm toán: Phương pháp thứ ba để
chọn đối tượng kiểm toán xuất phát từ đối tượng kiểm toán. Một số giám đốc các bộ
phận muốn thực hiện kiểm toán để đánh giá tính đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm
soát nội bộ có ảnh hưởng đến hoạt động dưới sự giám sát của họ.
Tuy nhiên, dù đối tượng kiểm toán có thể được đề xuất bởi kiểm toán viên, người
quản lý hay chính đối tượng kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ cần nhớ rằng trước điều
chỉnh lại chương trình kiểm toán đã lập, phải đánh giá xem đối tượng mới được đề xuất
18
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
có quan trọng hơn đối tượng đã được xếp lịch không. Thường sự quan trọng này có
thể đánh giá căn cứ trên rủi ro. Nếu xét thấy rủi ro liên quan đến đối tượng mới đề xuất
là khá cao, một cuộc kiểm toán lập tức cho đối tượng này là cần thiết. Ngược lại, nếu


giảm thấp đi
2. Rủi ro đã được xác
định hợp lý
Đánh giá lại
rủi ro (Bước 5)
6. Phát hiện và đề xuất
biện pháp
7. Báo cáo
BÁO CÁO
KIỂM TOÁN
8. Theo dõi sau
kiểm toán
9. Đánh giá
THEO DÕI SAU
KIỂM TOÁN
3. Nghiên cứu tổng quát
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
Bước 2: Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm:
1. Xác định các mục tiêu và phạm vi kiểm toán.
2. Nghiên cứu thông tin cơ bản.
3. Xác định đội ngũ kiểm toán viên.
4. Liên hệ với đối tượng kiểm toán và các bộ phận khác.
5. Lập chương trình kiểm toán.
6. Xác định những vấn đề liên quan đến báo cáo kết quả kiểm toán.
7. Trình duyệt kế hoạch kiểm toán.
Mục tiêu và phạm vi kiểm toán: Để phong trào tốt cho việc lập kế hoạch, trước
hết kiểm toán cần có những xác định ban đầu về (1) các mục tiêu của kiểm toán (2)
phạm vụ của việc kiểm toán.

Xác định phạm vi: Xác định phạm vi là xác định khía cạnh cụ thể nào của hệ
thống cần được kiểm tra và mức độ kiểm tra:
• Một số cuộc kiểm toán tập trung ở những khía cạnh rất hẹp về các hoạt động
trong khi các cuộc kiểm toán khác thì trải rộng ra nhiều lĩnh vực. Thí dụ, cuộc kiểm
toán này có thể chỉ nhằm vào kiểm tra tính trung thực và đáng tin cậy của một số thông
tin; nhưng một cuộc kiểm toán khác có thể vừa xem xét sự trung thực của thông tin
vừa mở rộng ra đánh giá việc sử dụng các nguồn lực và việc chấp hành các chính sách
chế độ.
• Một số cuộc kiểm toán có thể đi thật sâu, kiểm tra hết sức chi tiết trong khi một
số cuộc kiểm toán khác thì sơ lược, chỉ kiểm tra có tính chất phòng ngừa. Điều này tùy
thuộc vào mục tiêu của cuộc kiểm toán đó.
Sau khi chọn đối tượng kiểm toán, xác định mục đích và phạm vi kiểm toán là
một vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm lập kế hoạch một cách có hiệu quả. Thông qua
các mục tiêu và phạm vi của việc kiểm toán, kiểm toán viên có thể ước lượng nguồn
lực cần thiết (trong lĩnh vực nhân lực, thời gian và phương tiện đi lại) nhằm thực hiện
việc kiểm tra. Khi có những thay đổi sau này trong mục đích và phạm vi kiểm toán,
những đánh giá ban đầu đó là cơ sở cho việc thực hiện các điều chỉnh.
Nghiên cứu thông tin cơ bản: Hầu hết trong các trường hợp của kiểm toán nội
bộ, kiểm toán viên đã từng kiểm toán cho đối tượng kiểm toán một vài lần trước đó.
Mặc dù lần trước có thể kiểm tra trên các khía cạnh khác, các báo cáo và thông tin từ
hồ sơ kiểm toán kỳ trước là một nguồn thông tin cơ bản quan trọng cho kỳ này. Các
trưởng nhóm thường xem xét trước các báo cáo và các hồ sơ kỳ trước bào gồm nhiều
thông tin khác nhau. Một nguồn cung cấp thông tin cơ bản khác là tiến hành phỏng vấn
người quản lý của đối tượng kiểm toán. Nói chung, các kiểm toán viên cố gắng làm
quen với nội dung hoạt động của đơn vị khi tiến hành xem xét tổng quát. Việc tìm
hiểu này giúp kiểm toán viên có thể dự đoán các khía cạnh bất thường hoặc đặc biệt
cần phải lưu ý. Đồng thời qua đó kiểm toán viên cũng làm quen với các đặc điểm của
đơn vị để thuận lợi hơn trong việc soạn thảo kế hoạch kiểm toán.
Có hai quan điểm khác nhau về thời điểm nghiên cứu các hồ sơ kiểm tra của kỳ
trước. Một số kiểm toán viên cho rằng chỉ nên đọc các hồ sơ này sau khi đã xuống đơn

việc kiểm toán.
Lập chương trình kiểm toán sơ bộ: Chương trình kiểm toán phác thảo kế hoạch
và chương trình làm việc của một cuộc kiểm toán. Nó bao gồm mục tiêu và phạm vi
kiểm toán, các câu hỏi đặt ra và các bằng chứng cần xem xét trong quá trình kiểm toán,
các kiểm toán viên được huy động... Chương trình kiểm toán lập trong giai đoạn này
gọi là chương trình sơ bộ vì nó có thể còn phải được điều chỉnh sau khi kiểm toán viên
đã xuống đơn vị nghiên cứu cơ bản và tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ.
Dự kiến về báo cáo kiểm toán: Báo cáo kiểm toán thông tin kết quả kiểm toán
cho đối tượng kiểm toán và các bộ phận khác trong tổ chức. Kiểm toán cần suy nghĩ
ngay từ lúc này về việc báo cáo kiểm toán sẽ thuộc dạng nào, cung cấp cho ai và cung
cấp như thế nào. Điều này sẽ hữu ích cho việc chuẩn bị kiểm toán. Thí dụ, nếu kết quả
sẽ được công bố tại một cuộc họp mở rộng, kiểm toán viên cần dự tính địa điểm, người
trình bày, đối tượng tham dự và những vấn đề sẽ thảo luận tại cuộc họp.
22
Ebook.VCU – www.ebookvcu.com
Trình duyệt quyết định kiểm toán: Chương trình kiểm toán từng kỳ thường
được duyệt toàn bộ bởi (tổng) giám đốc, trừ những trường hợp đặc biệt. Trưởng phòng
kiểm toán nội bộ thường là người xem xét và phê duyệt từng cuộc kiểm toán cụ thể
theo chương trình đã được duyệt, trên cơ sở xem xét việc chuẩn bị đã đầy đủ chưa, bao
gồm xác định mục đích và phạm vi kiểm toán, đội ngũ kiểm toán cũng như chương
trình kiểm toán sơ bộ.
GIAI ĐOẠN 2: THỰC HIỆN KIỂM TOÁN
Bước 3: Khảo sát sơ bộ
Mục đích của bước khảo sát sơ bộ là thu thậ p thêm thông tin về đối tượng kiểm
toán, thu thập một số bằng chứng ban đầu cũng như tạo mối quan hệ hợp tác với đối
tượng kiểm toán.
Tổ chức một cuộc họp mở rộng: Trong quá trình nghiên cứu tổng quát, một
cuộc họp được tiến hành giữa đoàn kiểm toán và người quản lý đối tượng kiểm toán.
Cuộc họp này thường được tổ chức tại văn phòng đối tượng kiểm toán. Cuộc họp này
xác định trách nhiệm của người quản lý đối với cuộc kiểm toán và phối hợp các hoạt

thường thu được thông qua việc tính toán và so sánh, sẽ đặt ra các câu hỏi và đòi hỏi
các thủ tục kiểm toán chi tiết hơn. Các thủ tục này có thể cung cấp định hướng kiểm tra
ũng như tạobằng chứng về sự hợp lý của các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu hoạt động.
Bước 4: Mô tả, phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
Mô tả hệ thống kiểm soát: Các kiểm toán viên mô tả hệ thống kiểm sóat thông
qua việc vẽ các lưu đồ, trả lời các câu hỏi về kiểm soát nội bộ và các bản tường trình.
Lưu đồ giúp kiểm toán viên dễ dàng nhận xét về kiểm soát đối với hoạt động và các
thủ tục kiểm soát cần bổ sung. Trong khi đó, các bảng câu hỏi và tường thuật về kiểm
soát nội bộ cung cấp thêm sự phân tích về kiểm soát giúp các kiểm toán viên hiểu đầy
đủ về hệ thống kiểm soát trước khi thực hiện thử nghiệm và đánh giá.
Phép thử “walk through”: Một thử nghiệm kiểm soát ở mức thấp là phép thử
“walk through” đối với một số các nghiệp vụ và hoạt động kiểm soát then chốt được
lựa chọn. Kiểm toán viên sẽ theo từng bước thực hiện nghiệp vụ đó trên sổ sách hoặc
trong thực tế đánh giá về quá trình thực hiện các nghiệp vụ tại đơn vị.
Các thử nghiệm sơ bộ: Các kiểm toán viên lựa chọn một số nghiệp vụ và kiểm
tra chúng. Thử nghiệm giúp kiểm toán viên hiểu được kiểm soát được thiết kế ra sao và
rốt cuộc thì nó được tiến hành thế nào trong thực tế. Ở bước này, cỡ mẫu thường nhỏ
(khoảng 25-30 phần tử) và nếu xét thấy cần thiết nó sẽ được mở rộng ở bước 5.
Thử nghiệm các thủ tục kiểm soát đối với hệ thống thông tin: Việc thử nghiệm
đối với các thủ tục kiểm soát của hệ thống thông tin sẽ đòi hỏi một phạm vi rộng hơn
các thử nghiệm sơ bộ với các nghiệp vụ mà ta vừa nói đến. Điều này xuất phát từ vai
trò quan trọng của hệ thống thông tin đối với kiểm toán viên: thông tin thiếu độ tin cậy
hoặc không trung thực có thể làm cho kiểm toán viên hiểu sai và dẫn đến việc cho kết
luận sai.
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ: Sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
và tiến hành một số phân tích cơ bản, kiểm toán viên nội bộ đánh giá sơ bộ hệ thống
kiểm soát. Một trong những phương pháp đánh giá là lập bảng đánh giá kiểm soát nội
bộ qua đó phác thảo những phát hiện, đối chiếu với tiêu chuẩn và nhận dạng các rủi ro.
Hình IV.2 trình bày một mẫu bảng đánh giá kiểm soát.
Hình IV.2: Bảng đánh giá kiểm soát nội bô

kiểm toán viên.
(b) Bản thân nhân viên
đó cũng gánh chịu rủi ro
vì anh ta là người duy
nhất chịu trách nhiệm
đối với quỹ của chi
nhánh và bị khiển trách
nếu như việc mất mát
không thể giải thích.
công ty, bao gồm:
(a) Phân chia chức năng
thu tiền, lập phiếu nộp
tiền vào ngân hàng và kế
toán.
(b) Phân công hai người
cùng chịu trách nhiệm
đối với việc lập và nộp
tiền vào ngân hàng.
(c) Giám sát và kiểm tra
từng bộ phận của công
việc.
Về hiệu lực:
Không có bằng chứng
kiểm toán cho thấy mất
mát, do thử nghiệm chi
tiết có giới hạn.
Đánh giá lại rủi ro: Từ kết quả của việc tìm hiểu, phân tích, và đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên xác định sự cần thiết thay đổi mục tiêu và phạm vi
của việc kiểm toán. Họ quyết định có cần phải mở rộng công việc kiểm toán như thế
nào trước khi đi đến kết luận, đưa ra kiến nghị và lập báo cáo kiểm toán. Tất cả sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status