BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
---o0o---
NGUYỄN THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ ĐẾN
SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG NGHÊU
BẾN TRE (Meretrix lyrata) TẠI THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
---o0o---
NGUYỄN THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ ĐẾN
SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG NGHÊU
BẾN TRE (Meretrix lyrata) TẠI THÁI BÌNH
Chun ngành: Ni trồng thủy sản
Mã số: 60 62 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. LẠI VĂN HÙNG
Tơi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cơ đã tận tình truyền đạt cho tôi những
kiến thức tâm huyết không chỉ trên lý thuyết mà cịn trong cả thực tế.
Tơi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lại Văn Hùng, Thạc sỹ Nguyễn
Quang Đông đã trực tiếp giúp đỡ tôi thực hiện và hồn thành đề tài tốt nghiệp.
Tơi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ công nhân viên Doanh nghiệp giống thuỷ sản
xã Đông Minh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã giúp đỡ, hỗ trợ tơi hồn thành các
nội dung của đề tài.
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, cùng bạn
bè, đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tơi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Hằng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................. ii
MỤC LỤC ...................................................................................................................... iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................................v
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................................... vi
DANH MỤC HÌNH ...................................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...............................................................................3
1.1. Một số đặc điểm sinh học của nghêu Bến Tre ......................................................... 3
1.1.1. Hình thái cấu tạo và phân loại ........................................................................ 3
1.1.2. Đặc điểm phân bố ........................................................................................... 4
1.1.3. Tập tính sống................................................................................................... 5
3.3.3. Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối......................................................................... 35
3.3.4. Ảnh hưởng của mật độ ương nuôi tới tỷ lệ sống .......................................... 36
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ...........................................................................................41
1. Kết luận...................................................................................................................... 41
2. Đề xuất ....................................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................................42
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Chữ viết đầy đủ
1
AT
Ấu trùng
2
CTV
Cộng tác viên
3
S‰
Độ mặn
9
TB
Trung bình
10
TLS
Tỷ lệ sống
11
ToC
Nhiệt độ
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Kích thước mắt lưới của rây phù hợp để lọc ấu trùng ...................................21
Bảng 3.1. Diễn biến các yếu tố mơi trường trong q trình ương ni ấu trùng ...........26
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của mật độ, tỷ lệ thành phần hỗn hợp ba loài vi tảo đến tốc độ
tăng trưởng tuyệt đối ở nghêu ........................................................................................28
Trong chiến lược phát triển nuôi thủy sản hiện nay, động vật thân mềm
(ĐVTM) được xem là đối tượng ưu thế và đầy triển vọng. ĐVTM với vai trò quan
trọng vừa làm thực phẩm vừa góp phần đa dạng đối tượng nuôi, làm sạch môi trường,
ổn định sinh thái và là đối tượng không thể thiếu trong nghề nuôi.
Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) là loại động vật thân mềm có giá trị kinh tế
cao ở Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Hải Quan Việt Nam (2009), xuất khẩu
nghêu của cả nước đạt 17.624 tấn, trị giá trên 37,2 triệu USD, giá xuất khẩu trung bình
đạt 2,11 USD/kg. Nghêu Bến Tre đã được sản xuất giống thành công (Nguyễn Đình
Hùng và ctv, 2004; Chu Chí Thiết và Kumar, 2008). Từ năm 1999 trong việc tìm đối
tượng ni phù hợp với điều kiện khí hậu miền Bắc, nghêu Bến Tre được người dân
đưa vào nuôi thử nghiệm ở một số tỉnh ven biển và đã cho kết quả tốt.
Nghề nuôi nghêu nước ta chủ yếu theo phương thức quảng canh cải tiến, chủ
yếu dựa vào nguồn giống tự nhiên. Việc khai thác con giống một cách ồ ạt, thiếu trách
nhiệm đã làm cho nguồn lợi tự nhiên ngày càng suy giảm đe dọa đến sự tồn vong của
lồi. Vì vậy vấn đề bức thiết đặt ra hiện nay là nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống
nghêu Bến Tre để đáp ứng nhu cầu ni của người dân và góp phần vào việc bảo vệ
nguồn lợi tự nhiên. Tuy nhiên cho đến nay, các nghiên cứu mới chỉ thành công ở quy
mơ thí nghiệm, hiệu quả chưa cao, thường khơng ổn định khi triển khai sản xuất đại
trà. Ở nước ta, nghiên cứu sản xuất giống nghêu Bến Tre cho thấy tỷ lệ sống của ấu
trùng chưa cao, năng suất trong bể ương khơng ổn định. Ngun nhân có nhiều trong
đó có hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp là thức ăn và mật độ ương nuôi. Xuất phát từ thực
tế trên và nhằm bổ sung thêm những thông tin cần thiết nhằm ổn định công nghệ sản
xuất giống nghêu Bến Tre phù hợp với điều kiện tự nhiên miền Bắc chúng tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ đến sinh trưởng và tỷ
lệ sống của ấu trùng nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) tại Thái Bình”.
Mục tiêu của đề tài: Xác định được thành phần tỷ lệ thức ăn phù hợp từ 03 lồi
vi tảo và mật độ ương ni phù hợp nhằm nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống
của ấu trùng nghêu Bến Tre (M. lyrata) từ giai đoạn chữ D đến giai đoạn Spat.
Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ thành phần của 3 loài vi tảo đến tốc độ sinh
Bộ: Veneroida
Liên họ nghêu: Veneracea
Họ nghêu: Veneridae
Giống nghêu: Meretrix
Loài nghêu Bến tre: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Tên tiếng Anh: Hard Clam, Lyrate Asiatic
Tên tiếng Việt: Miền Bắc ngao Bến Tre, miền Nam nghêu Bến Tre [5], [11],
[14], [19].
Hình 1.1. Hình thái cấu tạo ngồi của nghêu Bến Tre
Trong các cơng trình nghiên cứu trước đây về đặc điểm hình thái, phân loại của
ĐVTM có một số cơng trình mơ tả một số lồi thuộc giống Meretrix như: Walter
(1945) mơ tả ba loài Meretrix lusoria Chem, Meretrix petechialis Lam, Meretrix
tripla; Pierre (1952) và Anuwat (1995) đã mơ tả 1 lồi Meretrix meritrix (Linnaeus);
4
Anuwat (1995) mơ tả lồi Meretrix lusoria. Có một số nghiên cứu về lồi nghêu
Meretri lyrata nhưng chỉ mơ tả sơ lược như các nghiên cứu của Habe và Sadao (1996),
Nguyễn Chính (1996). Đến năm 1999, Trương Quốc Phú đã nghiên cứu chi tiết hơn về
hình thái và cấu tạo trong của nghêu. Nghêu Bến Tre có hình dạng ngồi rất giống
nghêu dầu (Meretrix meretrix), nhưng kích thước nhỏ hơn. Nghêu một năm tuổi có
chiều dài trên 25 mm, khối lượng >3g. Rìa lưng phần vỏ hình tam giác, phần rìa bụng
hình trịn, hai vỏ bằng nhau dày và chắc, chiều dài vỏ lớn hơn chiều cao vỏ. Đỉnh vỏ
hơi lệch về phía trước và nhơ lên uốn cong về phía bụng, mặt vỏ phồng lên, các gờ
sinh trưởng rõ ràng. Màu sắc mặt vỏ ngoài đa phần là màu trắng sữa, đôi khi lẫn màu
hơi nâu, tùy thuộc môi trường bãi ni [12].
Mặt trong của vỏ có màu trắng, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hình bán nguyệt, vết
cơ khép vỏ sau to hình bầu dục. Hai tấm màng áo mỏng bao phủ tồn bộ nội tạng của
nghêu. Phía mép của 2 màng áo gần bụng dính lại hình thành 2 vòi nước (vào và ra)
nhiệt độ 5-35oC, khoảng nhiệt độ thích hợp cho nghêu phát triển là 28-31oC, tốc độ
dịng chảy 0,1-0,25m/s, hàm lượng oxy hồ tan khoảng 4-6 mg/l, pH 6-9, độ muối dao
động từ 19-26‰ khoảng độ muối phù hợp cho nghêu phát triển là 22-25‰ [14, 16].
1.1.3. Tập tính sống
Nghêu là lồi sống đáy nhưng khi gặp điều kiện không thuận lợi như nhiệt độ giảm,
độ muối thay đổi đột ngột chúng thường nổi lên khỏi đáy và di chuyển đi nơi khác có điều
kiện thích hợp hơn.
Theo Trương Quốc Phú (1999) khi độ muối giảm xuống 5‰ thì hầu hết nghêu di
chuyển tới vùng mới nơi có độ muối cao hơn, bãi nghêu có xu hướng dịch chuyển từ
bờ ra xa vào mùa mưa và mùa khơ có xu hướng tiến lại gần bờ nên diện phân bố của
nghêu vào mùa khô rộng hơn so với mùa mưa. Nghêu nói riêng và ĐVTM hai mảnh
vỏ nói chung, trong q trình sống đều trải qua 2 giai đoạn chính:
- Giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi và sống đáy: Sau khi trứng nở chuyển sang giai
đoạn ấu trùng phù du gồm các giai đoạn nhỏ: Trochophore, Veliger và ấu trùng Umbo.
Giai đoạn này, ấu trùng trôi nổi trong nước. Sự phân bố của chúng phụ thuộc rất lớn
vào dòng chảy và thuỷ triều. Kết thúc giai đoạn ấu trùng phù du là giai đoạn sống đáy
(Spat). Lúc này đã hình thành chân, màng áo và cơ khép vỏ. Do đó giai đoạn này cần
đáy bằng phẳng và cần có vật bám như cát to, sỏi.
- Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn trưởng thành nghêu sống vùi mình trong đáy.
Để hơ hấp và lấy thức ăn trong nước, nghêu thò vòi lên mặt bãi. Vòi nghêu ngắn nên
nghêu không thể chui sâu, thường chỉ cách đáy vài cm. Vào mùa lạnh nghêu vùi mình
xuống sâu, nhưng không quá 10cm [1, 11, 18].
Khi gặp điều kiện mơi trường bất lợi, nghêu có thể tiết ra chất nhầy để giảm nhẹ
tỷ trọng cơ thể và nổi lên mặt nước và theo dòng nước triều di chuyển tới nơi khác.
6
Khi di chuyển, nghêu có thể nổi lên cách mặt đáy tới 1,2 m. nghêu thường di chuyển
vào mùa hạ, mùa thu. Mùa hạ nghêu sống ở vùng triều cao, thời gian chiếu sáng dài
làm cho bãi cát nóng lên nghêu phải di chuyển theo nước triều rút xuống vùng sâu
7
Ở vùng biển khác nhau, tốc độ sinh trưởng của nghêu khác nhau. Cùng một
năm tuổi, nghêu ở Trà Vinh cỡ 20mm nặng trung bình 2,7g/con, ở Duyên Hải 3,7g/con
[1], ở Tiền Giang nghêu cỡ 25mm nặng 2,8g/con [14].
* Dinh dưỡng
Theo Thái Trần Bái (1978), hoạt động bắt mồi của loài hai mảnh vỏ được thực
hiện theo cách lọc nhờ vào hoạt động của các tấm mang. Trong quá trình hô hấp, nước
mang theo thức ăn đi qua mang, ở đó có các tiêm mao nằm trên tia mang bắt lấy thức
ăn nhờ vào dịch nhờn. Tuy nhiên, chúng vẫn có sự chọn lựa thức ăn theo kích thước,
những loại thức ăn có kích thước lớn bị thải ra ngồi cịn những loại thức ăn có kích
thước nhỏ sẽ được làm mềm và cuốn thành viên chuyển vào miệng [3].
Nghêu là lồi ăn lọc, chúng bắt mồi theo hình thức thụ động. Khi triều dâng lên
nghêu thò vòi lên cát để lọc mồi ăn. Nghêu thường chọn các mảnh vụn hữu cơ, các
lồi thực vật phù du có kích cỡ < 10m (Tammes and Dral, 1950).
Thức ăn chủ yếu của nghêu là các khuê tảo, các mảnh vụn hữu cơ, thức ăn của
loài thay đổi theo thời kỳ phát triển của cơ thể. Giai đoạn ấu trùng thức ăn chủ yếu là
các vi tảo phù du, sau khi ấu trùng xuống đáy thì thức ăn đa dạng hơn, ngồi tảo phù
du thì có các thành phần như các mảnh vụn hữu cơ, khoáng, mùn, vi khuẩn, chất keo
cũng được nghêu sử dụng. Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996) khi nghiên cứu thành
phần thức ăn của nghêu M. lyrata ở Trà Vinh đã thấy rằng: Thành phần thức ăn chính
của nghêu là mùn bã hữu cơ chiếm 75-90%, tảo chiếm 10-25%. Trong thành phần tảo
thì tảo silic (Bacillariophyta) chiếm 90-95%, tảo giáp (Pyrrophyta) chiếm 3,3-6,6%,
tảo lam (Cyanophyta), tảo lục (Chlorophyta) và tảo vàng ánh (Chrysophyta) chiếm
0,8-1% [13].
Trong lĩnh vực nghiên cứu về dinh dưỡng, hầu hết các tác giả đều tập trung
nghiên cứu về thức ăn của ấu trùng trong sản xuất giống nhân tạo, một số ít nghiên cứu
về tập tính dinh dưỡng và thức ăn chung cho nhóm Bivalvia giai đoạn trưởng thành.
Các nghiên cứu hầu như thực hiện trên nhiều đối tượng.
1.1.5. Đặc điểm sinh sản
Các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung, nghêu nói riêng đều phân
Vịng đời của nghêu Bến Tre (M. lyrata)
9
Hình 1.2 Sơ đồ vịng đời nghêu Bến Tre (M. lyrata)
* Đặc điểm các giai đoạn phát triển của ấu trùng nghêu Bến Tre:
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng và CTV (2002) quá trình phát triển của
ấu trùng nghêu Bến Tre được chia làm các giai đoạn sau đây:
+ Ấu trùng Morula: Xuất hiện 5-7 giờ sau khi thụ tinh, ấu trùng có dạng hình trịn
hoặc hơi bầu dục, tiêm mao bao phủ kín. Ấu trùng hoạt động tăng dần từ chậm đến
nhanh và vận động xoay tròn xoắn ốc, thường vận động ngược kim đồng hồ. Kích
thước ấu trùng 87 ± 2,03m x 82,7 ± 1,48m.
+ Ấu trùng Veliger (ấu trùng chữ D): ấu trùng có dạng hình chữ D, có 2 nắp vỏ
và vành tiêm mao nằm giữa 2 nắp vỏ, ấu trùng vận động nhanh nhờ sự vận động của
vành tiêm mao quanh miệng. Kích thước ấu trùng 97,08 ± 2,06m x 87,7 ± 3,13m.
+ Ấu trùng Umbo: Giai đoạn ấu trùng tiền Umbo (sau thụ tinh 2 ngày) xuất hiện
mầm cơ khép vỏ, trên kính hiển vi có thể thấy được cơ quan tiêu hố, kích thước ấu
trùng 115,88 ± 3,13m x 96,28 ± 2,67m. Giai đoạn giữa Umbo (sau 4 ngày): ấu trùng
xuất hiện đỉnh vỏ với kích thước ấu trùng đạt 124,73 ± 2,06m x 104,73 ± 1,85m.
Giai đoạn cuối Umbo (8-9 ngày): Chân bị hình thành ở ngày thứ 9 đây là dấu hiệu kết
thúc giai đoạn bơi chuyển sang giai đoạn sống đáy của ấu trùng, kích thước đạt 158,83
± 4,64m x 129,4 ± 2,03m.
+ Ấu trùng Spat: Sau khi thụ tinh 9-12 ngày vành tiêm mao của ấu trùng thoái
hoá dần, hoạt động bơi giảm, ấu trùng chuyển sang sống bị dưới đáy với đặc trưng
hình thành chân, mang, màng áo, cơ khép vỏ. Ấu trùng chuyển hoàn toàn từ đời sống
10
bơi lội sang sống vùi. Kích thước ấu trùng tăng nhanh, đầu giai đoạn spat 203,13 ±
11
Tuy nhiên, hiện nay do gặp một số khó khăn trong q trình ni cấy tảo tươi, nhiều
nhà nghiên cứu đã tìm những loại thức ăn thay thế tảo tươi như sử dụng tảo khô
(Laiing và ctv, 1990; Gladue, 1991; Laing và Verdugo, 1991; Laing và Millican,
1992), tảo cô đặc bảo quản lạnh (Donalson, 1991; Connor và Nell, 1992) hay bổ sung
thức ăn nhân tạo như bột khoai tây [21]. Cho đến nay thì tảo vẫn đang là thức ăn
khơng thể thiếu trong q trình ương ni ấu trùng của các lồi ĐVTM.
Theo Hà Đức Thắng (2001) thì trên thế giới chưa tìm thấy cơng trình nào nghiên
cứu sản xuất giống nhân tạo nghêu Bến Tre (M. lyrata).
Nhìn chung những nghiên cứu về sản xuất giống thuộc họ nghêu trên thế giới
chưa nhiều. Do đó để có qui trình về vấn đề sản xuất giống nhân tạo nghêu Bến Tre thì
cần có nhiều nghiên cứu và sản xuất thực nghiệm từ đó để hồn thiện dần về sản xuất
đối tượng này.
1.2.2. Việt Nam
Việc nghiên cứu ĐVTM nói chung và nghêu nói riêng ở Việt Nam đã được tiến
hành từ đầu thế kỷ 20. Các cơng trình nghiên cứu tập trung vào điều tra thành phần
loài, đặc điểm khu hệ ĐVTM ở biển như cơng trình nghiên cứu của Serenne (1937)
cơng bố một danh mục gồm 610 loài Mollusca sống ở vùng triều và vùng đới triều của
biển Việt Nam, trong đó động vật 2 mảnh vỏ có 213 lồi. Các tác giả như Nguyễn Văn
Chung, Trần Đình Nam (1978), Nguyễn Xn Dục (1978), Nguyễn Chính (1980,
1990) đã xác định có 172 lồi Mollusca ở vùng biển Quảng Ninh, Hải Phịng; 25 loài
động vật chân đầu ở vịnh Bắc Bộ, 101 lồi ở đầm Thị Nại (Bình Định); 731 lồi ở
vùng biển nam Việt Nam (Nguyễn Xuân Thu, 2005). Nghiên cứu của Hylleberg J. và
Richard N. Kilburn (2003) đã xác định biển Việt Nam có khoảng 2.200 lồi động vật
than mềm [9].
Trong những năm gần đây nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu đặc điểm sinh học và
sinh thái những loài có giá trị kinh tế nhằm phục vụ cho khai thác bảo vệ nguồn lợi và
ni ĐVTM như: Nguyễn Chính (1996), Nguyễn Huy Yết và ctv (1998). Hiện nay người ta tập trung nghiên cứu các qui trình sản xuất giống, đặc điểm sinh hố và bệnh
của nghêu như cơng trình nghiên cứu hàm lượng kim loại nặng trong thịt một số loài
ngày. Tỷ lệ sống đến giai đoạn xuống đáy dao động ở các đợt là 8-25%, với số giống
thu được gồm 600.000 con giống 100 ngày tuổi (4mm), 2 triệu con giống 65 ngày tuổi
(1,8mm) và 20 triệu con giống nhỏ 35 ngày tuổi, ở điều kiện nhiệt độ 26,5-300C và độ
muối là 18-22%.
13
Khu vực miền Trung đã có một số nơi tiến hành sản xuất nhân tạo giống nghêu
như Trại nghiên cứu Hải Sản Bắc Trung Bộ (Cửa Hội, Cửa Lò), bắt đầu tiến hành các
thử nghiệm từ năm 2006 với sự hỗ trợ của dự án Card kết quả thu được khi ấu trùng
xuống đáy đạt (5-50%).
Từ những tài liệu thu thập trên chúng tôi thấy những nghiên cứu về đặc điểm
phân bố, sinh trưởng, sinh sản,... Các tác giả đều đưa ra tương đối chi tiết cho loài
nghêu này riêng những nghiên cứu về thức ăn, mật độ các tác giả đưa ra các chỉ số
khác nhau. Để phục vụ cho nghề ni phát triển thì việc nghiên cứu các đặc điểm sinh
thái như thức ăn, mật độ đối với loại nghêu này là cần thiết nhằm xây dựng một quy
trình ổn định, chủ động con giống, đáp ứng nhu cầu hiện tại cũng như tương lai.
1.3. Hiện trạng nuôi nghêu ở Thái Bình
Nghề ni nghêu Thái Bình bắt đầu từ những năm 1990, đối tượng nuôi chủ yếu
là nghêu dầu (Meretrix meretrix) thương phẩm. Ban đầu nuôi nghêu mang tính tự phát,
khi thấy hiệu quả ni cao nhiều hộ đã bắt đầu quây vùng nuôi. Đến năm 2000, diện tích
ni nghêu bãi triều đã tăng lên 800 ha, sản lượng đạt 7.000 tấn. Năm 2001-2002, do
ảnh hưởng của các yếu tố mơi trường, nghêu dầu ni tại Thái Bình chết trên 80% diện
tích ni. Cùng năm đó, các hộ dân đã di nhập giống nghêu trắng Bến Tre (Meretrix
lyrata) về ni, kết quả nghêu thích ứng, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện
môi trường của miền Bắc nói chung, Thái Bình nói riêng. Đến năm 2008, nghêu tại Thái
Bình được Trung tâm Quản lý chất lượng nguồn lợi thủy sản vùng I kiểm tra giám sát,
cấp giấy chứng nhận xuất xứ để xuất khẩu vào thị trường EU và có tên thương hiệu là
nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata). Năm 2010, sản lượng ni nghêu của Thái Bình đạt
30.130 tấn/1.089 ha, chiếm trên 1/3 sản lượng nghêu nuôi trong cả nước.
dụng 1.002 tỷ đồng.
Với các giải pháp trên, toàn tỉnh phấn đấu đến năm 2015 tổng diện tích ni
nghêu thương phẩm đạt 3 nghìn ha, sản lượng 105 nghìn tấn, giá trị 2.100 tỷ đồng,
bình quân đạt 700 triệu đồng/ha; diện tích ương nghêu giống 750 ha, giá trị sản xuất
đạt 1.320 tỷ đồng, bình quân 1.760 triệu đồng/ha, giải quyết việc làm thường xuyên
cho 10 nghìn lao động.
Số lượng nghêu giống cung cấp cho nhu cầu nuôi nghêu thương phẩm bãi triều
năm 2011 của tỉnh là 6 tỷ con (7.500 tấn), trong đó 80% được nhập về từ các tỉnh Nam
Bộ. Do thời gian vận chuyển dài nên chi phí tăng cao, chất lượng con giống giảm,
không chủ động được mùa vụ, trong khi đó nguồn giống cung cấp tại chỗ có chất
lượng tốt nhưng số lượng hạn chế, chỉ đáp ứng được 15-20% nhu cầu. Nguyên nhân,
15
do các cơ sở sản xuất giống chưa làm chủ được công nghệ sinh sản nhân tạo nghêu
giống, bên cạnh đó diện tích có thể ương được nghêu giống bãi triều của tỉnh lại hạn
chế (chỉ khoảng 250 ha) nhưng chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng gió, mưa bão, nước
ngọt trong nội đồng đổ ra từ các cửa sông nên tỷ lệ sống của nghêu giống ương bãi
triều đạt thấp (40-60%).
Từ các báo cáo cho thấy, nếu không giải quyết được khâu con giống thì khơng
mở rộng được diện tích ni. Mà nguồn giống nghêu chủ yếu nhập từ các tỉnh miền
Nam về, nguồn giống này nhiều lúc không đáp ứng đúng mùa vụ để thả do quá trình
vận chuyển con giống ở xa. Vì vậy chủ động được nguồn giống nghêu tại tỉnhThái
Bình khơng những đáp ứng nhu cầu diện tích ni hiện nay, mà cịn mở rộng diện tích,
vùng ni mới phù hợp điều kiện mơi trường thích hợp. Việc nghiên cứu ni vỗ là cơ
sở khoa học cho công tác sản xuất giống nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) đáp ứng về
nhu cầu con giống cho người nuôi là việc làm rất thiết thực.
Những tồn tại trong nghiên cứu nuôi vỗ và sinh sản nhân tạo nghêu hiện nay là
chưa tìm được những loại vi tảo ni sinh khối phù hợp tại địa phương cũng như dinh
dưỡng cho từng giai đoạn nuôi vỗ nghêu bố mẹ và ấu trùng con non. Các nghiên cứu