2. Định giá và lựa chọn cổ phiếu
2.1. Nguyên tắc
Khi xem xét, đánh giá một công ty, trước hết phải đánh giá về chất lượng
công ty, bộ máy quản lý điều hành và xu hướng phát triển của công ty trong
tương lai. Tuy nhiên, phân tích đầu tư không chỉ đơn thuần là đánh giá công ty
mà còn phải xem xét giá trị cổ phiếu của công ty đó có đúng với giá nó đang
được mua bán hay không.
Khi lựa chọn đầu tư cổ phiếu, ta phải xem xét đánh giá công ty phát hành,
xác định mức độ rủi ro và lợi suất yêu cầu ứng với mức rủi ro đó; từ đó xác định
giá trị nội tại của công ty (mà nhà đầu tư có thể cho đó là giá trị thực theo đánh
giá của mình). Bước tiếp theo là cần so sánh giá trị cơ bản (nội tại) của cổ phiếu
với giá thị trường đang giao dịch của cổ phiếu đó rồi mới đưa ra quyết định đầu
tư.
Một công ty hoạt động rất tốt cùng với bộ máy quản lý hiệu quả, nhưng nếu
cổ phiếu của nó được định giá quá cao so với giá trị nội tại của nó thì hẳn người
đầu tư nghiêm túc không dám mua. Ngược lại, nếu một công ty hoạt động không
hiệu quả nhưng cổ phiếu của nó được định giá thấp hơn giá trị thực thì đó sẽ là
một cơ hội đầu tư tốt. Như vậy, rõ rang một công ty tốt không nhất thiết là một
cơ hội đầu tư tốt.
2.2. Các phương pháp định giá
Định giá cổ phiếu cũng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của việc định giá
tài sản nói chung, bao gồm việc định giá doanh nghiệp phát hành ra chính cổ
phiếu đó. Các phương pháp định giá cổ phiếu có thể được xếp thành 3 nhóm
chính sau đây:
- Nhóm phương pháp chiết khấu luồng cổ tức hoặc luồng tiền;
- Nhóm phương pháp dựa trên giá trị tài sản;
- Nhóm phương pháp dựa vào các hệ số.
Ngoài ra, còn có các phương pháp kết hợp hoặc so sánh căn cứ vào các
phương pháp cơ bản nói trên. Dưới đây sẽ giới thiệu những phương pháp thong
dụng nhất trong các nhóm nói trên.
2.2.1. Phương pháp định giá cổ phiếu theo luồng cổ tức
hiện. Nhiều người cho rằng thu nhập chắc chắn của người đầu tư là DIV
1
, còn
lãi vốn chưa thực hiện, nên không quan trọng. Điều này là không đúng, vì nếu
năm sau giá cổ phiếu giảm và các năm tiếp theo giá cổ phiếu vẫn giảm thì sao?
Nếu giá cổ phiếu liên tục giảm quá mức thì coi như người đầu tư bị mất vốn khá
lơn. Ví dụ, vào ngày 27-10-1997 khi chỉ số Dow Jones giảm 4% (554 điểm) thì
những người đầu tư trên thị trường chứng khoán Mỹ mất 600 tỷ USD.
Đây cũng là lý do vì sao trong thời kỳ suy thoái kinh tế, khi giá cổ phiếu
giảm mạnh thì có nhiều nhà đầu tư mất trắng tay. Vì vậy, khi tính lãi của người
đầu tư cổ phiếu phải tính đủ cả hai thành phần cổ tức và lãi vốn.
Như vậy tỷ suất lợi nhuận dự đoán khi năm nay bỏ vốn mua cổ phiếu giá P
0
là:
Tỷ suất lợi nhuận dự đoán:
( )
1 0
1
0
P P
DIV
r
P
+
=
DIV
1
cổ tức dự đoán năm sau (expected dividend)
P
1
DIV P
P
r
+
=
+
(1)
trong đó 1/(1 + r) là hệ số chiết khấu
r là tỷ lệ chiết khấu, mức chiết khấu này cao hay thấp phụ thuộc vào độ rủi
ro của mỗi cổ phiếu.
Ví dụ: DIV
1
= 5, P
1
= 110, r = 15%
thì
0
5 110
100
1,15
P
+
= =
Điều kiện cân bằng trong một thị trường vốn hoạt động hoàn hảo là tại mọi
thời điểm, tất cả các cổ phiếu có cùng độ rủi ro như nhau được định giá theo
cùng một tỷ lệ chiết khấu (hay còn gọi là tỷ suất vốn hoá thị trường).
- Tính giá cổ phiếu sau một số năm
Cũng lập luận tương tự như trên, nếu dự đoán được tổ tức DIV
2
năm thứ
r r
r r
= + + + +
+ +
+ +
( )
0
1
(1 )
1
H
t
H
H
t
t
DIV
P
P
r
r
=
= +
+
+
∑
(2)
Nói cách khác, giá cổ phiếu hiện tại chính là giá trị quy về hiện tại của toàn
bộ các luồng thu nhập trong tương lai.
- Khi kỳ đầu tư là vô hạn:
2
1
0 1 1 1
/ / ... / ...
1 1 1 1 1
H H
DIV
P DIV DIV DIV
r g r g r
r g
= + + + + =
+ + + + +
−
(4)
Lưu ý rằng công thức này chỉ đúng khi tốc độ tăng trưởng g nhỏ hơn tỷ
suất thu nhập dự tính. Trên thực tế người ta giả định rằng g < r vì điều này hoàn
toàn hợp lý.
Trên thực tế, các công ty thường có mức tăng trưởng cổ tức không đều
trong một số năm, trước khi có thể đạt đến giai đoạn ổn định. Trường hợp này,
chúng ta cần kết hợp công thức (2) và (4) để tính giá.
Nguyên tắc ước tính các thông số:
Để có thể dự tính một cách chính xác các thông số để đưa vào công thức
tính toán, người đầu tư phải tiến hành phân tích kỹ lưỡng tình hình tài chính của
doanh nghiệp để có thể dự báo triển vọng phát triển trong tương lai của doanh
nghiệp. Nguyên tắc chung được áp dụng như sau:
a) Tính DIV
1
: Thông thường, việc ước tính cổ tức năm đầu (DIV
1
) được
1
+ β(r
m
- r
1
)
Trong đó:
r
1
: Lãi suất tín phiếu phi rủi ro.
r
m
: Lợi suất danh mục thị trường
β: Mức độ rủi ro của công ty
Về mặt lý thuyết, công thức tính r như trên chỉ nên áp dụng trong trường
hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu. Nếu công ty phát hành cả cổ phiếu lẫn trái
phiếu thì r cần được xác định theo phương pháp chi phí vốn bình quân gia quyền
(WACC) như sau:
(1 )
a c d
E D
r r r t
D E D E
= × + × −
+ +
Trong đó: