MÔ HÌNH MẠNG OSI
Tác giả: Trần Văn Thành
I.Mô hình OSI
Cùng với sự phát triển rực rỡ của công nghệ vi mạch tích hợp là động lực không
nhỏ vào sự phát triển của các hệ thống mạng máy tính. Nhưng có một bất cập là
mỗi hệ thống lại sử dụng những chuẩn phần cứng và phần mềm riêng của mình.
Những điều đó khiến cho việc kết nối giữa những hệ thống này với nhau gặp rất
nhiều khó khăn. Trước tình hình đó tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO đã đề xuất ra
một mô hình mà các nhà thiết kế mạng có thể dựa vào đó để thiết lập các hệ thống
có khả năng tưng thích với nhau, đó chính là mô hình tham chiếu OSI.
Mô hình tham chiếu hệ thống mở OSI (Open System Interconnection Reference
Mode) là mô hình kiến trúc gồm 7 lớp, mỗi lớp đều có chức năng mạng xác định
như: gán địa chỉ, điều khiển luồng, điều khiển lỗi, đóng gói và truyền gói tin một
cách tin cậy trên mạng.
Các nguyên lý được áp dụng cho 7 tầng như sau:
(1) Mỗi lớp cần thiết phi tạo ở mức độ khác nhau của khái niệm trừu tượng.
(2) Mỗi lớp phi thực hiện một chức năng xác định rõ ràng.
(3) chức năng của mỗi lớp phi được chọn theo quan điểm hướng tới các giao
thức chuẩn quốc tế đ• được định nghĩa.
(4) Ranh giới giữa các lớp phi được chọn để tối thiểu luồng thông tin đi qua
các giao diện
Một số ưu điểm của việc sử dụng mô hình phân lớp đó là:
• Tách hoạt động thông tin trên mạng thành những phần nhỏ hơn, đơn giản
hơn.
• Nó chuẩn hóa các thành phần mạng để cho phép phát triển một mạng từ
nhiều nhà cung cấp sn phẩm.
• Cho phép các loại phần cứng phần mềm khác nhau thông tin được với
nhau.
Lớp mạng được các nhà chuyên gia đánh giá lớp phức tạp nhất trong tất c các lớp
trong mô hình OSI. Lớp mạng cung cấp phưng tiện để truyền các đn vị dữ liệu
qua mạng hay liên mạng. Bởi vậy, nó phi đáp ứng nhiều kiểu cấu hình mạng và
nhiều dich vụ cung cấp bởi các mạng khác nhau. Các dịch vụ và giao thức cho
lớp mạng phi phn ánh được tính phức tạp đó. Hai chức năng chủ yếu của lớp
mạng đó là:
+Định tuyến (Routing).
+Chuyển tiếp (Relaying).
Mỗi node trong mạng đều phi thực hiện các chức năng này, do đó, chúng phi ở
trên lớp liên kết dữ liệu để cung cấp một dịch vụ “trong suốt” đối với lớp giao
vận. Chức năng định tuyến em sẽ giới thiệu trong phần giao thức TCP/IP.
Công nghệ IP là một công nghệ tiêu biểu và ưu việt nhất của lớp mạng cho nên,
hiện tại và tưng lai các công nghệ ở các lớp khác đều phi tiến tới ci tiến để tối ưu
trong sự liên lạc với IP.
I.4. Lớp giao vận (Transport Layer)
Trong mô hình OSI, 4 lớp thấp quan tâm đến việc truyền dữ liệu qua hệ thống đầu
cuối (end systems) qua các phưng tiện truyền thông còn 3 lớp cao tập trung đáp
ứng các yêu cầu và các ứng dụng của người sử dụng. Lớp giao vận là lớp cao nhất
của 4 lớp thấp, nhiệm vụ của nó la cung cấp dịch vụ truyền dữ liệu sao cho các
chi tiết cụ thể của các phưng tiện truyền thông được sử dụng ở dên dưới trở nên
“trong suốt” đối với các lớp cao. Do đó nhiệm vụ của lớp giao vận rất phức tạp.
Nó phi được tính đến kh năng thích ứng với một phạm vi rất rộng các đặc trưng
mạng. Chẳng hạn, một mạng có thể là “connection-oriented” hay
“connectionless”, có thể là đáng tin cậy (reliable) hay không đáng tin cậy
(unreliale). Nó phi biết được yêu cầu về chất lượng dịch vụ của người sử dụng
đồng thời, cũng phi biết được kh năng cung cấp dịch vụ của mạng bên dưới.
I.5. Lớp phiên (Session Layer)
Nhiệm vụ của lớp phiên là cung cấp cho người sử dụng các chức năng cần thiết
để qun trị các “phiên” ứng dụng của họ, cụ thể như sau:
Điều phối việc trao đổi dữ liệu giữa giữa các ứng dụng bằng cách thiếp lập