Tài liệu Tiểu luận triết học P47 doc - Pdf 86

1
Đề tài: Phép biện chứng về mối hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối
liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế

Chương I:
Hội nhập kinh tế một xu hướng tất yếu của nước ta trên con
đường tiến lên CNXH
1.
Xu hướng hội nhập thế giới xu hướng của thời đại:
Như chúng ta đã biết, cách đây hàng nghìn năm đã có sự trao đổi hàng hoá
trong từng quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Tuy nhiên, suốt thời gian
dài dưới thời kì chiếm hữu nô lệ và thời kì phong kiến quan hệ trao đổi hàng
hoá phát triển không đáng kể. Về mặt cơ bản, nền kinh tế của từng quốc gia
vẫn mang tính tự cung tự cấp. Với sự xuất hiện của chủ nghĩa tư
bản, quan hệ
trao đổi hàng hoá đã có sự thay đổi về chất. Trong từng quốc gia, nền kinh tế
với một thị trường thống nhất được hình thành, các loại hàng hoá và số lượng
hàng hoá trao đổi được tăng lên rất nhiều, đặc biệt sức lao động cũng trở thành
hàng hoá. Chủng loại hàng hoá và số lượng hàng trao đổi giữa các quốc gia
cũng tăng lên nhanh chóng. Chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triể
n thì lượng
hàng hoá trao đổi giữa các quốc gia càng lớn, chính vì vậy sự phụ thuộc về
mặt kinh tế giữa các quốc gia càng chặt chẽ hơn.
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão,
con người đang dùng khối óc vĩ đại mà tự nhiên ban cho để khám phá và
chinh phục thế giới. Chính nhờ sự phát triển như vậy của khoa học kĩ thuật mà
s
ự giao lưu giữa các nước, các cá nhân, các nhà kinh doanh với nhau trở nên
dễ dàng. Các nước có thể học tập, trao đổi với nhau tạo nên sự đan xen đa
chiều, vừa ảnh hưởng, vừa tuỳ thuộc vào nhau. Dần dần, trên thế giới hình
thành một xu thế đó là: xu thế “Toàn Cầu Hoá”. Hiện nay, xu thế này đang


Chương II
: Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến

1. Triết học Mac- LêNin:

3
Triết học Mac- LêNin cũng như toàn bộ chủ nghĩa Mac- LêNin ra đời vào
những năm 40 của thế kỉ XIX do C.Mac và Ph.Ăngghen sáng lập ra. Sau đó,
V.I.LêNin phát triển nó cao hơn.
Triết học Mac- LeNin ra đời không phải chỉ do sự suy tư cá nhân, sự tưởng
tượng của C.Mac và Ph.Ăngghen mà do những nguyên nhân kinh tế, xã hội và
sự phát triển của nhân loại trước đó quy định. Triết học Mac- LêNin ra đời
dựa trên 3 cơ sở cơ
bản sau:
(a) Cơ sở về kinh tế và xã hội: Vào những năm đầu của thế kỉ XIX
các cuộc cách mạng công nghiệp đã đem lại cho các nước TBCN sự phát triển
mạnh mẽ. Để nhận xét về điều này C.Mac đã nói: “ Giai cấp tư sản trong quá
trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỉ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất
nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước cộng
lại”. Sự phát triển ấy đã chứng minh tính chất tiến bộ của phương thức sản
xuất TBCN hơn hẳn các chế độ khác trước đó. Tuy nhiên, sự phát triển đó
ngày càng làm hằn sâu thêm sự mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô
sản. Giai c
ấp vô sản ngày càng lớn mạnh và đứng lên đấu tranh giành quyền
lợi. Chính vì vậy họ cần một thứ vũ khí lý luận sắc bén và triết học Mac-
LêNin ra đời đã thoả mãn được yêu cầu đó.
(b) Cơ sở lý luận: Triết học Mac- LêNin dựa trên phép biện chứng
của Hêghen và quan điểm duy vật triệt để của Phoi-ơ-băc. Hai ông C.Mac và
Ph.Ăngghen đã dựa và đó sáng lập ra phép biệnch

+ Nếu chúng tồn tại trong sự liên hệ qua lại, thì nhân tố gì quy định
sự liên hệ đó?
Để trả lời câu hỏi thứ nhất, các nhà triết học theo quan điểm biên
chứng cho rằng thế giới là một chỉnh thể
thống nhất. Các sự vật, hiện tượng và
các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua
lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau. Khi trả lời câu hỏi thứ hai, những
người theo quan điểm biện chứng cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa
các sự vật và hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới. Theo quan
điểm này các dự vật, các hiện tượng đa dạng trên thế giới chỉ là những dạng
5
tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Ngay cả tư
tưởng của con người cũng là một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người,
nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất
khách quan. Ngoài ra, theo quan điểm duy vật biên chứng còn thừa nhận tính
đa dạng của sự liên hệ: có mối liên hệ bên ngoài, m
ối liên hệ bên trong; có
mối liên hệ thứ yếu và mối liên hệ chủ yếu... Các loại liên hệ khác nhau có vai
trò khác nhau đối với sự vận động vầ phát triển của các sự vật hiện tượng.
Trong đó, mối liên hệ bên trong giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vân
động, phảttiển của sự vật. Mối kiên hệ bên ngoài, nói chung, không có ý nghĩa
quyết định và thường phải thông qua m
ối liên hệ bên trong mà phát huy tác
dụng.Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa
nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ. Các mối liên hệ khác
nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau. Trong tính đa dạng của hình thức và các loại
liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội và tư duy con người, phép biện
chứng duy vật tập trung nghiên cứu những loại liên h
ệ chung mang tính phổ
biến.

ch sử cụ thể:
Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong thời gian, không gian
nhất định và mang dấu ấn của thời gian, không gian đó. Việc vận dụng quan
điểm đó đòi hỏi phải chú ý đúng mức tới hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã làm phải
tính vấn đề, tới sự ra đời và phát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực – cả
khách quan và ch
ủ quan – quy định những giải pháp, những phượng tiện để
giải quyết vấn đế nảy sinh.
3. Vậy tại sao khi nghiên cứu vấn đề này chúng ta phải dùng mối
liên hệ phổ biến:
Toàn cầu hoá và việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vững
mạnh là hai việc nhìn bề ngoài là hai việc tách biệt. Thế nhưng, chúng lại là
hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau. Chính vì vậy, muốn hiểu được chúng
liên quan với nhau như thế nào thì chúng ta phải đi sâu vào nghiên cứu. Trong
khi nghiên cứu chúng ta không thể chỉ nhìn từ một phía mà cần có cái nhìn
7
toàn diện. Như trong mối liên hệ phổ biến đã khẳng định, chúng ta phải nhìn
vào cái bản chất nhất của sự vật. Mà giữa Toàn cầu hoá và việc xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ lại có mối liên hệ bản chất, cái này thúc đẩy giúp cái kia
trở nên vững mạnh hơn. Nếu chúng ta không dùng mối liên hệ phổ biến để
xem xét sẽ dễ dẫn đến chỉ nhìn thấ
y sự liên quan bên ngoài một cách sơ xài.
Chương III:
Toàn cầu hoá
1. Toàn cầu hoá kinh tế là gì? Những đặc điểm của toàn cầu hoá

kinh tế:

Con người là một loài sinh vật đặc biệt, chúng ta có trí thông minh và
có trình độ tổ chức xã hội cao. Con người sống với nhau dựa trên rất nhiều

+ Đó là do sự tác động của các tổ chức phi chính phủ, họ đang
thành lập ngày càng đông đảo, đa dạng và hoạt động ngày càng có hiệu quả
trong quá trình toàn cầu hoá.
+ Đó là các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại khu vực.
+ Đó là các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại quốc tế như
WTO, IMF...
f) Toàn cầu hoá phải đi đôi với hội nhập khu vực và các quan hệ
song phương
g) Toàn cầu hoá, theo các nhà nghiên cứu thì đây là một quá trình
“mở” đang còn vân động và sẽ còn trải qua nhiều giai đoạn.
2.Bản chất của toàn cầu hoá:

Hiện nay, nói đến vấn đề này trên thế giới đang có hai thái cực tranh cãi
nhau rất gay gắt:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng: toàn cầu hoá là một điều tất yếu phải
xảy ra. Mọi quốc gia không thể tránh khỏi, chính sách hợp lý nhất mà các
quốc gia phải theo là tham gia và làm theo các quy tắc của cuộc chơi. Tuy
nhiên quan điểm này lại biến con người thành kẻ bị lệ thuộc vào chính sản
phẩm mà họ
tạo ra.
9
+ Quan điểm thứ hai cho rằng: toàn cầu hoá là một bước trong kế hoạch
làm bá chủ thế giới của Mỹ. Tuy nhiên, quan điểm này thì người ta lại quá đè
cao sức mạnh của Mỹ, mà trên thực tế không phải vậy.
Vậy đúng ra bản chất của toàn cầu hoá kinh tế là gì? Toàn cầu hoá kinh
tế là một xu hướng lớn của thời đại, nhưng dù nó khách quan đến mấy cũng do
con người t
ạo ra. Nó là kết quả của sự kết hợp giữa nhiều yếu tố, mà các yếu
tố ấy đều do con người tạo ra. Trong đó có 3 yếu tố chính:
- Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật.

s
ớm tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Điều này, giúp các
nước chậm phát triển hình thành một cơ cấu kinh tế – xã hội hiệu quả, đẩy
nhanh, rút ngắn tiến trình hiện đại hoá nền kinh tế.
+ Thứ ba, toàn cầu hoá phát triển tạo điều kiện cho các nước tiếp cận
với những nguồn vốn và công nghệ kĩ thuật cao cũng như học tập công nghệ
quản lý.
+ Thứ tư, toàn cầu hoá phát triển làm cho các nước liên hiệp với
nhau thành những khu vực tự do thương mại. Điều này giúp dỡ bỏ hàng rào
thuế quan đối với các nước thành viên, dẫn đến hàng hoá có thể nhanh chóng
tiếp cần với thị trường thế giới. Hơn nữa, với các nước đang phát triển thì việc
hội nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới cũng chính là tham gia vào các diễn
đàn kinh tế th
ế giới cho phép mình quyền bình đẳng bày tỏ quan điểm, bảo vệ
lợi ích của mình.
+ Thứ năm, toàn cầu hoá thực chất là quá trình mở cửa hội nhập của
các quốc gia. Tuy nhiên, không chỉ hội nhập riêng về kinh tế mà còn về nhiều
vấn đề khác nữa. Điều ấy giúp cho các quốc gia nhanh chóng tiếp cận được
các thông tin, tri thức khoa học mới nhất. Nó góp phần nâng cao trình độ dân
trí, tạo cơ sở
cho nền tảng cho dân chủ phát triển.
+ Thứ sáu, toàn cầu hoá mở ra khả năng phối hợp nguồn lực của các
quốc gia trên thế giới để giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu như: môi
trường,dân số, chiến tranh và hoà bình...
(b) Những thách thức của toàn cầu hoá:

11
+ Thứ nhất, do tính bất đối xứng của toàn cầu hoá, nó phân chia
thành quả rất bất công. Chính vì thế, toàn cầu hoá không phân chia công bằng
các cơ hội và lợi ích giữa các khu vực, quốc gia và trong môi quốc gia và từng

1. Nền kinh tế như thế nào được gọi là một nền kinh tế độc lập
tự chủ:
Thực ra, khái niệm nền kinh tế độc lập tự chủ đã không ít lần được nhắc
tới. Tuy nhiên, quan niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ trước đây và hiện nay
có những nét khác nhau. Vậy thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ?:
+ Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc
vào nước khác, hoặ
c một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát
triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài chính, thương mại,
viện trợ... để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ
bản của dân tộc.
+ Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của
thị trường, trước sự khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả
năng cơ bản duy trì sự ổn định và phát triển; trước sự bao vây, cô lập và chống
phá của các thế lực thù địch, nó vẫn có khả năng đứng vững, không bị sụp đổ,
không bị rối loạn.
+ Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, nói tới độc lập tự chủ về kinh tế
không ai hiểu đ
ó là nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà đặt trong mối liên
hệ biện chứng với mở cửa, hội nhập, chủ động tham gia sự giao lưu, hợp tác
và cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh
quốc gia, từng bước xây dựng một cơ cấu sản xuấtđáp ứng được cơ bản nhu
cầu thiết yếu v
ề đời sống của nhân dân và có khả năng trang bị lại ở mức cần
thiết cho nhu cầu phát triển kinh tế , củng cố quốc phòng – an ninh.
2. Vì sao chúng ta phải xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ

vững mạnh:

Theo như trên ta đã thấy một nền kinh tế độc lập tự chủ là như thế nào.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status