LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập vào xu thế chung của thế giới, ngành du lịch ngày càng phát triển
nhanh, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và được coi là một
ngành kinh tế mũi nhọn.
Trong hoạt động kinh doanh du lịch thì hoạt động lữ hành, đặc biệt
hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế hết sức quan trọng. Trong những năm
qua do những chính sách mở cửa nền kinh tế cùng với những chính sách,
biện pháp của Đảng và Nhà nước nhằm thúc đẩy nền kinh tế đi lên đã tạo
điều kiện phát triển du lịch lữ hành quốc tế vào Việt Nam và lượng khách
Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Tuy nhiên, lượng khách quốc tế đến Việt
Nam còn quá thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Sự kém
phát triển này là do sản phẩm du lịch của Việt Nam còn nghèo nàn, chưa hấp
dẫn du khách, các công ty lữ hành quốc tế còn yếu về kinh nghiệm quản lý,
chưa xây dựng được sản phẩm đặc trưng, các chương trình du lịch chưa đa
dạng phong phú; đồng thời chưa đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường,
tổ chức quảng cáo khuếch trương sản phẩm còn hạn chế. Tình hình đó đã đặt
ra cho các công ty lữ hành quốc tế Việt Nam một loạt vấn đề cần giải quyết
cho sự tồn tại và phát triển của chính bản thân mình. Giống như các Công ty
lữ hành quốc tế khác, công ty lữ hành Hanoitourist cũng gặp những thách
thức lớn khi hoạt động trên thương trường.
Sau thời gian học tập và tìm hiểu tại công ty lữ hành Hanoitourist,
xuất phát từ những suy nghĩ và bằng kiến thức thu được trong quá trình học
tập và thực tế hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế của công ty lữ hành
Hanoitourist, em đã chọn đề tài "Đẩy mạnh hoạt động khai thác thị trường
khách du lịch Mỹ tại công ty lữ hành Hanoitourist" làm chuyên đề tốt
nghiệp, nhằm thử nghiệm phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp
nhằm góp phần đẩy mạnh hoạt động khai thác thị trường khách du lịch Mỹ
của công ty.
Kết cấu của chuyên đề ngoài lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, gồm
ba chương:
Chương I: Cơ cở lý luận và một số vấn đề có liên quan.
Vậy từ đó ta đặt ra câu hỏi du lịch là gì?
Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát
triển với tốc độ nhanh như vậy, song cho đến nay khái niệm “du lịch” được
hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa của Kuns, người Thụy Sỹ cho rằng: “Du lịch là hiện
tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi đến bằng các
phương tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch”.
Theo định nghĩa của hai vị giáo sư, tiến sỹ Hunziker và Krapf: “Du lịch
là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành
trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó
không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm
lời”.
Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa về Du lịch (Viện hàn lâm):
“Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện
một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu
cầu của khách du lịch…Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi
hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ làm
thỏa mãn các nhu cầu của họ”.
Định nghĩa của Đại học kinh tế Praha (Cộng hòa Séc):
“Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan
đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường
xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm
viếng có tổ chức thường kỳ”.
Ngược lại với những định nghĩa trên, ông Michael Coltman (Mỹ) đã đưa
ra một định nghĩa rất ngắn gọn về du lịch: “Du lịch là sự kết hợp và tương
tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: du
khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền địa
phương nơi đón khách du lịch”. Có thể thể hiện mối quan hệ đó bằng sơ đồ
sau:
Chính quyền địa phương nơi đón khách du lịch
lịch. Sau đây là một số định nghĩa về khách du lịch:
Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations) về khách du
lịch nước ngoài: “Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú
thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24h”.
Định nghĩa của Liên hiệp Quốc tế của các Tổ chức Chính thức về Du lịch
(IUOTO):
Năm 1950 IUOTO đưa ra định nghĩa về khách du lịch quốc tế có 2 điểm
khác với định nghĩa trên là: “Sinh viên và những người đến học ở các trường
cũng được coi là khách du lịch” và “Những người quá cảnh không được coi
là khách du lịch trong 2 trường hợp, hoặc là họ hành trình qua một nước
không dừng lại trong thời gian vượt quá 24h, hoặc là họ hành trình trong
khoảng thời gian dưới 24h và có dừng lại nhưng không với mục đích du
lịch”.
Định nghĩa về khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội
nghị Roma do Liên hợp quốc tổ chức vào năm 1963: “Khách du lịch quốc tế
là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường
xuyên của họ trong thời gian 24h hay hơn”
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách
du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích
tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3
tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau
thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”.
Định nghĩa về khách du lịch của Việt Nam:
Trong Pháp lệnh du lịch của Việt Nam ban hành năm 1999 có nói: “Khách du lịch là người đi du lịch
hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
1.1.2.2 Phân loại khách du lịch
Sau khi đã nhận thức về định nghĩa khách du lịch thì việc phân loại khách du lịch có ý nghĩa rất quan
trọng. Đó là điều kiện cho viẹc nghiên cứu, thống kê các chỉ tiêu về du lịch.
Ngày 4 - 3 – 1993 theo đề nghị của Tổ chức du lịch thế giới (WTO), Hội đồng thống kê Liên hợp quốc
(United Nations Statistical Commission) đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất việc soạn thảo
dịch vụ một cách tương ứng thích hợp khả năng chi trả của từng đối tượng
khách.
Trên đây chỉ là một số tiêu thức phân loại khách du lịch thường dùng.
Mỗi tiêu thức đều có ưu nhược điểm riêng vì vậy khi nghiên cứu khách du
lịch cần kết hợp nhiều cách phân loại. Việc phân loại khách du lịch một cách
đầy đủ, chính xác sẽ tạo tiền đề cho việc hoạch định các chiến lược, chính
sách kinh doanh từ đó việc kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hơn.
1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khách du lịch:
Trong sự phát triển không ngừng của nền sản xuất xã hội thì du lịch là
một đòi hỏi tất yếu của con người. Du lịch trở thành nh cầu của con người
khi trình độ kinh tế xã hội và dân trí ngày càng phát triển. Con người luôn
muốn tìm hiểu thế giới bên ngoài, muốn nâng cao tầm hiểu biết, muốn được
chiêm ngưỡng những cảnh đẹp, hoặc muốn được vui chơi giải trí… Từ đó
dẫn tới việc con người – khách du lịch đi du lịch với nhiều động cơ, mục
đích khác nhau:
+ Đi du lịch với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi tâm sinh lý, tiếp
cận gần gũi với thiên nhiên thay đổi môi trường sống.
+ Đi du lịch với mục đích thể thao.
+ Đi du lịch với mục đích văn hóa giáo dục.
+ Đi du lịch với mục đích kinh doanh kết hợp với giải trí.
+ Đi du lịch với mục đích thăm viếng, ngoại giao.
+ Đi du lịch với mục đích công tác.
+ Đi du lịch với mục đích nghỉ tuần trăng mật và điều dưỡng, chữa bệnh.
+ Đi du lịch để “khám phá”, tìm hiểu. Quá cảnh.
+ Đi du lịch do bắt chước, coi du lịch là “mốt”.
+ Đi du lịch là do sự “chơi trội” để tập trung sự chú ý của những người
xung quanh.
Khách du lịch có thể đi du lịch với những mục đích khác nhau, tuy nhiên
hoạt động đi du lịch của khách du lịch lại chịu ảnh hưởng của các nhân tố
sau:
triển của du lịch. Việc phát triển cả về số lượng và chất lượng của giao thông
vận tải giúp cho tăng tốc độ vận chuyển tiết kiệm thời gian đi lại và cho
phép kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch, cho phép khách du lịch đến những
nơi xa xôi; đảm bảo an toàn, tiện lợi trong vận chuyển… Có thể nói giao
thông vận tải tốt se làm hài lòng được khách du lịch, thúc đẩy nhiều hơn
hoạt động du lịch của khách.
+ Không khí chính trị hòa bình, ổn định trên thế giới:
Đây là điều kiện đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế -
chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới. Nếu
không khí chính trị là căng thẳng thì hoạt động đi du lịch cũng không có
điều kiện phát triển. Ngược lại nếu tình hình chính trị là hòa bình ổn định thì
khách du lịch sẽ đi du lịch nhiều hơn, họ cảm thấy an toàn hơn trong khi du
lịch.
1.1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguồn khách:
Đối với bất cứ một ngành sản xuất hàng hóa nào thì việc sản xuất ra hàng
hóa là để bán cho người tiêu dùng. Trong ngành du lịch cũng vậy việc bán
được nhiều sản phẩm, dịch vụ cho khách du lịch làm cho các doanh nghiệp
du lịch ngày càng phát triển, còn nếu ít khách hoặc không có khách thì hoạt
động của doanh nghiệp bị đình trệ thất thu. Vì vậy chứng tỏ khách du lịch là
nhân tố quyết định trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du
lịch. Muốn kinh doanh có hiệu quả các nhà kinh doanh phải chú trọng hơn
nữa đến khách du lịch, phải nghiên cứu một cách đầy đủ chính xác về các
đặc điểm của khách, thông tin về nguồn khách mà mình hướng tới, xác định
được vị trí của khách trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngày nay trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường để bán được nhiều
sản phẩm, dịch vụ các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu tìm hiểu rõ nguồn
khách, nắm bắt được nhu cầu, sở thích của khách du lịch, các đặc điểm về
giới tinh, độ tuổi, văn hóa, đực điểm tâm lý của khách… Qua đó doanh
nghiệp đề ra các chiến lược, chính sách cho phù hợp, đưa ra các sản phẩm
dịch vụ thỏa mãn được nhu cầu của khách du lịch.
+ Khả năng thanh toán cao.
+ Phí tổn du lịch giảm.
+ Mức độ giáo dục cao hơn.
+ Cơ cấu nghề nghiệp đa dạng.
+ Đô thị hóa.
+ Các chương trình bảo hiểm, phúc lợi lao động do chính phủ tài trợ, du
lịch trả góp.
+ Thời gian nhàn rỗi nhiều.
+ Du lịch vì mục đích kinh doanh.
+ Phụ nữ có điều kiện đi du lịch.
+ Du lịch là tiêu chuẩn của cuộc sống.
+ Mối quan hệ thân thiện – hòa bình giữa các quốc gia.
1.1.4.2 Phân loại nhu cầu du lịch:
Tổng quát lại từ việc nghiên cứu những nhu cầu nói chung và những mục
đích, động cơ đi du lịch nói riêng của con người các chuyên gia về lĩnh ực
du lịch đã phân chia nhu cầu du lịch thành 3 nhóm cơ bản sau:
- Nhu cầu cơ bản (thiết yếu) gồm: Đi lại, lưu trú, ăn uống.
- Nhu cầu đặc trưng: Nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu, thưởng thức
cái đẹp, tự khẳng định, giao tiếp…
- Nhu cầu bổ sung: Thẩm mỹ, làm đẹp, thông tin, giặt là…
Trên thực tế khó có thể xếp hạng phân thứ bậc các loại nhu cầu của khách
du lịch. Các nhu cầu đi lại, lưu trú, ăn uống là các nhu cầu thiết yếu và quan
trọng không thể thiếu được để con người cũng như khách du lịch tồn tại và
phát triển. Tuy nhiên nếu đi du lịch mà không có cái gì để gây ấn tượng, giải
trí tiêu khiển, không có dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu thì không thể gọi là
đang đi du lịch được. Trong cùng một chuyến đi ta thường kết hợp để đạt
được nhiều mục đích khác nhau, do vậy các nhu cầu cần được thỏa mãn
đồng thời.
Thỏa mãn nhu cầu thiết yếu để con người tồn tại và phát triển để tiếp tục
thỏa mãn các nhu cầu tiếp theo. Nhu cầu đặc trưng là nguyên nhân quan
Thứ nhất, cung du lịch mang tính chất cố định không thể di chuyển được,
còn cầu du lịch lại mang tính chất phân tán. Các tài nguyên du lịch và các
nhà kinh doanh cơ sở lưu trú không thể phục vụ đến tận nơi ở thường xuyên
của khách du lịch được. Ngược lại muốn tiêu dùng được các sản phẩm du
lịch thì khách du lịch phải rời nơi ở thường xuyên của họ để đến nơi có tài
nguyên, các cơ sở kinh doanh du lịch. Ngoài ra khách du lịch là nhân tố
quyết định sự tồn tại và hoạt động của các nhà kinh doanh du lịch.
Thứ hai, cầu du lịch mang tính tổng hợp đồng bộ cao trong khi mỗi đơn
vị kinh doanh du lịch chỉ đáp ứng được một phần của cầu. Trong khi du lịch
khách du lịch có nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm trong đó có loại là tiêu
dùng thông thường trong cuộc sống hàng ngày, nhưng có loại chỉ khi đi du
lịch con người mới cần đến nó. Đối lập với tính chất của cầu du lịch thì cung
du lịch lại có tính phân tán và độc lập của các thành phần trong cung, nó gây
ra khó khăn làm cản trở trong việc tự sắp xếp, bố trí các hoạt động để có một
chuyến du lịch như mong muốn của khách du lịch.
Thứ ba, thị trường du lịch mang tính toàn cầu hóa cao. Các nhà kinh
doanh du lịch gặp khó khăn trong việc xác định địa chỉ, khả năng tài chính,
thông tin, quảng cáo. Khách du lịch thì không có đủ thời gian, thông tin và
khả năng để tự tổ chức chuyến du lịch có chất lượng cao như họ mong đợi.
Sản phẩm du lịch đa phần là dịch vụ, thời gian và không gian sản xuất là
trùng nhau Các dịch vụ du lịch cần có sự tiếp xúc giữa người tiêu dùng
(khách du lịch) và người sản xuất (nhà cung cấp). Thêm vào đó khách du
lịch quốc tế gặp khó khăn trong hoạt động du lịch do sự bất đồng ngôn ngữ,
phong tục tập quán, tiền tệ, văn hóa, khẩu vị ăn uống, khí hậu, luật pháp thủ
tục hành chính… Ở nơi đến du lịch khách du lịch thường có tâm lý cảm
nhận rủi ro trong việc tiêu dùng gây ra hàng rào ngăn cản giữa cung và cầu
du lịch.
Thứ tư, khi trình độ sản xuất xã hội càng phát triển, các mối quan hệ xã
hội ngày càng hoàn thiện, trình độ dân trí được nâng cao, thu nhập của nhân
dân tăng lên thì càng có xu hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất
cầu của khách.
- Chức năng tổ chức: Doanh nghiệp phải thực hiện các hoạt động tổ chức
nghiên cứu thị trường, tổ chức sản xuất và tổ chức tiêu dùng. Tổ chức nghiên
cứu thị trường gồm cả nghiên cứu thị trường cầu và nghiên cứu thị trường
cung du lịch. Tổ chức sản xuất bao gồm việc sắp đặt trước các dịch vụ hay
liên kết các dịch vụ đơn lẻ thành một chương trình du lịch. Tổ chức dtiêu
dùng gồm tổ chức cho khách đi lẻ thành từng nhóm, định hướng và giúp đỡ
khách trong khi du lịch.
- Chức năng thực hiện: Doanh nghiệp lữ hành thực hiện công đoạn cuối
cùng của quá trình kinh doanh lữ hành. Bao gồm hoạt động vận chuyển
khách du lịch theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng, thực hiện các
hoạt động hướng dẫn tham quan, kiểm tra, giám sát các dịch vụ của các nhà
cung cẩptong quá trình du lịch. Mặt khác thực hiện hoạt động làm gia tăng
giá trị sử dụng và giá trị của chương trình du lịch thông qua lao động của
hướng dẫn viên.
1.2. Các hoạt động nhằm khai thác khách du lịch của công
ty lữ hành:
1.2.1 Hoạt động nghiên cứu thị trường:
Đứng trên giác độ kinh doanh du lịch thì thị trường du lịch được hiểu là
một nhóm khách hàng hay một tập hợp khách hàng đang tiêu dùng hay đang
có nhu cầu, có sức mua sản phẩm nhưng chưa được đáp ứng. Các doanh
nghiêph kinh doanh lữ hành cần luôn phải quan tâm đến hoạt động nghiên
cứu thị trường từ đó đề ra những chính sách cho phù hợp với thị trường. Để
làm được điều đó doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường ở cả hai mặt:
cung du lịch và cầu du lịch.
Nghiên cứu cầu trong du lịch tức là nghiên cứu các mặt: thói quen tiêu
dùng, đặc điểm tâm lý, tính cách sở thích, văn hóa, khẩu vị ăn uống… của
các đối tượng khách khác nhau. Vì đây là những nhân tố có tác động đến
nhu cầu đi du lịch của khách du lịch, từ đó là cơ sở để hình thành các
chương trình du lịch thu hút được nhiều khách. Khi nghiên cứu thị trường
chủ yếu như tính khả thi, phù hợp với nhu cầu của thị trường, đáp ứng
những mục tiêu của công ty lữ hành có sức lôi cuốn khách du lịch quyết định
mua chương trình. Để đạt được những yêu cầu đó chương trình du lịch được
xây dựng theo quy trình gồm các bước sau đây:
- Nghiên cứu nhu cầu của thị trường (khách du lịch).
- Nghiên cứu khả năng đáp ứng. Tài nguyên, các nhà cung cấp du lịch,
mức độ cạnh tranh trên thị trường…
- Xác định khả năng và vị trí của doanh nghiệp lữ hành.
- Xây dựng mục đích ý tưởng của chương trình du lịch.
- Giới hạn quỹ thời gian và mức giá tối đa.
- Xây dựng tuyến hành trình cơ bản, bao gồm những điểm du lịch chủ
yếu, bắt buộc của chương trình.
- Xây dựng phương án vận chuyển.
- Xây dựng phương án lưu trú, ăn uống.
- Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung tuyến hành trình. Chi tiết hóa chương
trình với những hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giải trí.
- Xác định giá thành, giá bán của chương trình.
- Xây dựng những quy định của chương trình du lịch.
Tuy nhiên không phải bất cứ khi nào xây dựng một chương trình du lịch
trọn gói phải lần lượt trải qua tất cả các bước nói trên.
Xác định giá thành của chương trình du lịch:
Giá thành của chương trình du lịch bao gồm toàn bộ những chi phí thực
sự mà công ty lữ hành phải chi trả để tiến hành thực hiện các chương trình
du lịch. Nếu các chi phí này tính cho một khách thì gọi là giá thành cho một
lần thực hiện chương trình. Nếu các chi phí này tính cho cả đoàn khách thì
gọi là tổng chi phí cho một lần thực hiện chương trình du lịch.
Giá thành cho một lần thực hiện chương trình du lịch dù là xác định cho
một khách cũng phụ thuộc vào số lượng khách du lịch trong đoàn. Vì vậy
người ta nhóm toàn bộ các chi phí vào hai loại cơ bản: chi phí cố định và chi
phí biến đổi.
4 Phương tiện tham quan (tàu thủy, ô tô) *
5 Vé tham quan *
6 Phí hướng dẫn *
7 Visa – hộ chiếu *
8 Các chi phí thuê bao khác (văn nghệ) *
9 Tổng chi phí VC FC
Phương pháp 2: Xác định giá thành theo lịch trình. Về cơ bản phương
pháp này không có gì khác biệt so với phương pháp 1.
Tuy nhiên các chi phí ở đây được liệt kê cụ thể và chi tiết lần lượt theo
từng ngày của lịch trình.Có thể hình dung phương pháp này dựa trên bảng
sau:
Bảng: Xác định giá thành của một chương trình du lịch theo lịch trình.
Chương trình du lịch Số khách (Q)
Mã số Đơn vị tính
Thời gian
lịch trình
Số TT Nội dung chi phí Phí biến đổi Phí cố định
Ngày 1 1 Vận chuyển *
Ngày 2 2 Khách sạn *
Ngày 3 5 Vé tham quan *
6 Khách sạn *
17 Vận chuyển *
19
Tổng số VC FC
Xác định giá bán của một chương trình du lịch
Giá bán của một chương trình du lịch phụ thuộc vào những yếu tố sau:
+ Mức giá phổ biến trên thị trường.
+ Vai trò, vị thế, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường.
+ Mục tiêu của doanh nghiệp.
+ Giá thành của chương trình.
) = Z/(1 - Σβi)
Trong đó:
β
Cb
, β
Ck
, β
P
, β
T
là các hệ số tương ứng của các khoản mục tính theo giá
bán và Σ là tổng các hệ số β.
Ngoài ra còn có nhiều phương pháp tính giá bán khác song ở đây chỉ nêu
ra hai phương pháp cơ bản nhất.
1.2.3 Hoạt động quảng cáo:
Tất cả các hoạt động quảng cáo đều nhằm khơi dậy nhu cầu của khách du
lịch với các sản phẩm của công ty lữ hành. Các sản phẩm quảng cáo phải tạo
ra sự phù hợp giữa các chương trình du lịch với nhu cầu, mong muốn,
nguyện vọng của khách du lịch.
Các công ty lữ hành thường áp dụng các hình thức quảng cáo sau:
+ Quảng cáo bằng các ấn phẩm: tập gấp, áp phích…
+ Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo, truyền hình,
radio, thư điện tử, website…
+ Các hoạt động khuếch trương: tổ chức các buổi tối quảng cáo, các hội
chợ…
+ Quảng cáo trực tiếp: gửi các sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng.
+ Các hình thức khác.
Đối với kinh doanh lữ hành quốc tế thì có các hình thức quảng cáo sau để
thu hút nhiều khách du lịch: