Kết cấu vận luật của thể song thất lục bát trong tiến trình phát triển thể loại ngâm khúc - Pdf 86

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-------------------------

ĐỖ THỊ HƯỜNG
KẾT CẤU VẬN LUẬT CỦA THỂ SONG THẤT
LỤC BÁT TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN
THỂ LOẠI NGÂM KHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-------------------------


một thể tài hữu hiệu để diễn tả sâu sắc, tinh tế thế giới nội tâm của con ngƣời,
STLB đã trải qua hành trình mấy thế kỷ, với sự góp công của biết bao thế hệ
thi sĩ. Qua khảo sát tình hình nghiên cứu, chúng tôi thấy đã có một số bài viết,
công trình khoa học tìm hiểu những vấn đề về đặc trƣng, nguồn gốc và quá
trình hoàn thiện thể STLB. Hầu hết ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trƣớc
đều đã đƣợc biện giải khá thuyết phục. Tuy nhiên, vẫn còn có nhiều điểm cần
nhìn nhận lại và bàn thêm. Chẳng hạn, đành rằng, ngọn nguồn của thể STLB
là văn học dân gian. Nhƣng đó không phải là nguồn gốc duy nhất của thể thơ
này. Có thể thoát thai từ câu hát dân gian nhƣng chắc chắn phải nhờ sự “thi
công” của nhiều thế hệ thi sĩ tài hoa, tinh tế thì STLB mới trở thành một thể
thơ cách luật, mới có thể tỏa sáng với những tác phẩm Ngâm khúc ở thế kỷ
XVIII – XIX. Và nhƣ vậy, sẽ thấy rõ hơn công lao của nhiều thế hệ thi sĩ
trong việc tìm tòi và sáng tạo một lối thơ riêng cho dân tộc.
Nghiên cứu STLB về kết cấu vận luật và tiến trình phát triển từ những
dấu hiệu đầu tiên cho đến bƣớc hoàn tất với các khúc ngâm ở thể kỷ XVIII –
XIX, không những có dịp bàn thêm về đặc trƣng thể thơ STLB mà còn có thể
nhìn nhận quá trình vận động, phát triển của thể thơ STLB từ hình thức đến
nội dung nhƣ lẽ tất yếu, nhằm thỏa mãn nhu cầu phản ánh của thời đại.
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Kết cấu vận luật của thể
song thất lục bát trong tiến trình phát triển thể loại Ngâm khúc”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 2 -
1.2 Lý do thực tiễn
Hiện nay, các tác phẩm viết bằng thể thơ STLB (Chinh phụ ngâm, Cung
oán ngâm, Văn chiêu hồn, Khóc Dương Khuê...) chiếm số lƣợng đáng kể
trong chƣơng trình giảng dạy ở các cấp học … Vì vậy, việc tìm hiểu đặc trƣng
kết cấu vận luật và tiến trình phát triển thể loại là việc làm cần thiết và hữu
ích đối với những ngƣời làm công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học. Thực
hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ trau dồi thêm những kiến thức về thi
pháp thể loại, tạo cơ sở chắc chắn về một hƣớng tiếp cận tác phẩm văn

hoàn toàn chính xác.
Không dừng lại ở đó, Phan Diễm Phƣơng tiếp tục làm rõ nguồn gốc của
thể thơ này qua bài “Thử tìm hiểu những điều kiện hình thành hai thể thơ lục
bát và Song thất lục bát”. Từ những căn cứ đầy sức thuyết phục, tác giả thêm
một lần nữa khẳng định chắn chắn rằng “dân tộc Việt có đủ mọi điều kiện để
tạo nên thể thơ đó” [43, 33].
Về thời điểm xuất hiện những dòng STLB thành văn, tác giả Phan
Diễm Phƣơng, tác giả Ngô Văn Đức đều khẳng định những dòng STLB đầu
tiên đƣợc bắt đầu từ tác phẩm “Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn” của
Lê Đức Mao. Tác giả Phan Ngọc lại cho rằng “Bồ Đề thắng cảnh thi” tƣơng
truyền của Lê Thánh Tông mới là tác phẩm khởi thảo của thể STLB. Chính vì
vậy, thời điểm xuất hiện thể STLB cũng là vấn đề cần phải xem xét.
2.2 Về đặc trưng kết cấu vận luật của thể STLB
Tiếp theo những công trình nghiên cứu về nguồn gốc của thể STLB,
các nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu đặc trƣng của thể loại này. Một trong
những đặc trƣng đó là kết cấu vận luật.
Tác giả Dƣơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu ngoài việc
chỉ ra những đặc điểm hình thức của thể thơ, tác giả còn trình bày một số vấn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 4 -
đề cơ bản về vần luật bằng trắc trong cặp câu thất của thể STLB: “trừ chữ thứ
nhất không kể, muốn đặt tiếng gì cũng được, còn sáu chữ sau chia làm ba
đoạn mỗi đoạn hai chữ. Trong câu 7 thì có đoạn đầu trắc trắc; đến câu 7
dưới thì luật trái lại: đoạn đầu bằng bằng” [16, 206]. Những vấn đề mà ông
đã đề cập tới sẽ là sự gợi mở cho các tác giả ở giai đoạn sau khi nghiên cứu về
đặc trƣng kết cấu vần luật của thể STLB.
Viết về thể STLB, trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả
cũng đã chỉ ra một số đặc điểm về hình thức, cách gieo vần, nhịp điệu của thể
STLB. Nhƣng những nhận định này vẫn mang tính chất khái quát và hết sức
sơ lƣợc.

phát triển và đặc trưng thể loại cũng có nói đến thể thơ STLB trong tƣơng
quan so sánh với thể lục bát và Đƣờng luật. Từ đó, tác giả bƣớc đầu chỉ ra giá
trị của thể STLB trong việc diễn tả nội tâm con ngƣời và khẳng định thể thơ
này là hình thức tối ƣu của thể loại Ngâm khúc. Nhƣng những vấn đề này vẫn
còn rất chung chung, mới chỉ dừng lại ở mức độ đặt vấn đề. Đây là một trong
những tiền đề gợi mở để chúng tôi thực hiện đề tài này.
Trong những năm gần đây, giới chuyên môn đã quan tâm nhiều hơn tới
đặc trƣng kết cấu vận luật của thể STLB. Nhờ có sự quan tâm này, mà một số
vấn đề cơ bản của thể thơ này đã đƣợc giải quyết ở những mức độ khác nhau.
Từ đó giúp ta có thể nhận diện thể thơ STLB một cách dễ dàng.
2.3 Lịch sử nghiên cứu quá trình vận động và phát triển của thể
STLB trong Ngâm khúc
Vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá những giá trị nội dung và nghệ
thuật của các tác phẩm Ngâm khúc có một lịch sử khá lâu dài, nhƣng việc
nghiên cứu quá trình vận động và phát triển của thể STLB thì lại là vấn đề
khá mới mẻ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 6 -
Ở giai đoạn đầu (giữa thế kỷ XX), hầu nhƣ các tác giả mới chỉ tập trung
tới việc giới thiệu, khảo đính và giải thích điển cố mà chƣa chú ý đúng mức
tới quá trình vận động của thể STLB trong các tác phẩm Ngâm khúc. Có thể
kể đến các công trình nhƣ : Chinh phụ ngâm khảo thích và giới thiệu (Nhà
xuất bản văn hóa HN 1964) của Lại Ngọc Cang; Cung oán ngâm khúc khảo
thích chú giải (Hà Nội 1931) của Đinh Xuân Hội; Cung oán ngâm khúc dẫn
giải (Tân Việt Sài Gòn 1953) của Tôn Thất Lƣơng; Cung oán ngâm khúc dẫn
giải (Quốc học thƣ xã, HN 1953) của Lê Văn Hòe; Cung oán ngâm khúc hiệu
đính chú giải (Bộ giáo dục HN 1957) của Hoàng Ngọc Phách, Lê Thƣớc, Vũ
Đình Liên; Cung oán ngâm khúc khảo thích giới thiệu (Nxb văn hóa HN
1959) của Nguyễn Trác và Nguyễn Đăng Châu; Tự tình khúc và Trần tình
văn – chú thích và giới thiệu (Nxb văn hóa HN 1958) của Đái Xuân Minh,

động phát triển của thể loại song thất lục bát” trên Tạp chí Văn học số 5 –
2000 đã chỉ ra đƣợc ba giai đoạn phát triển của thể thơ này dựa trên hai căn
cứ điều kiện lịch sử và quá trình vận động nội tại của thể thơ STLB. Khi tiến
hành nghiên cứu sự vận động của thể thơ ở giai đoạn thứ nhất (Giai đoạn thứ
nhất từ trƣớc nửa đầu thế kỷ XVIII), tác giả cũng có đề cập tới sự vận động
của thể STLB qua một số tác phẩm Ngâm khúc. Nhƣng tác giả mới chỉ ra sự
vận động về mặt hình thức còn sự vận động về mặt nội dung thì chƣa đƣợc
nhắc đến.
Có thể thấy, từ nửa cuối thế kỷ XX giới chuyên môn đã dành cho thể
STLB một sự quan tâm đặc biệt. Vấn đề nguồn gốc ra đời của thể thơ STLB
hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng đây là thể thơ của dân tộc Việt có
ngọn nguồn từ văn học dân gian. Song, theo chúng tôi thì thể thơ này có thể
còn có ngọn nguồn từ trong văn học viết. Trong lịch sử nghiên cứu về kết cấu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 8 -
vận luật của thể thơ STLB ta thấy đã có một số công trình đề cập đến, nhƣng
nghiên cứu về kết cấu vận luật của thể STLB trong tiến trình phát triển của thể
loại Ngâm khúc thì cho đến nay vẫn chƣa có công trình nào đề cập đến. Với
mong muốn làm sáng rõ bƣớc chuyển biến của thể STLB từ ngâm vịnh đến
diễn tả tâm tình của con ngƣời. Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Kết
cấu vận luật của thể STLB trong tiến trình phát triển của thể loại Ngâm khúc.”
Tất cả những công trình nghiên cứu trên đều là những cơ sở quan trọng,
những kiến thức quý báu giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề
tài này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Để làm rõ tiến trình lịch sử và kết cấu vận luật của thể thơ STLB,
chúng tôi tiến hành khảo sát một số khúc Ngâm chọn lọc và những tác phẩm:
Hạnh Thiên Trường hành cung của Trần Thánh Tông; Cư trần lạc đạo phú
của Trần Nhân Tông; Vịnh Hoa yên tự phú của Huyền Quang; Quốc âm thi
tập của Nguyễn Trãi; Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải; Đại nghĩ bát giáp

đầu có ý kiến về tiền lệ ra đời của thể song thất lục bát.
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: chúng tôi tiến hành so sánh tác phẩm
của các tác giả, đối chiếu giữa các tác phẩm để chỉ ra những bƣớc tiến hay lụi
tàn của nó.
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: phân tích đặc trƣng của thể STLB
và từ việc phân tích dẫn chứng để thấy đƣợc sự chuyển biến trong việc ngâm
vịnh đến “ngâm buồn” diễn tả nội tâm của con ngƣời.
- Phƣơng pháp lịch sử: sự xuất hiện của song thất lục bát gắn liền với một
hoàn cảnh xã hội văn hóa cụ thể. Việc vận dụng phƣơng pháp lịch sử để
nghiên cứu giúp chúng tôi xác định một cách đúng đắn vị trí, vai trò và những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 10 -
đóng góp của thể thơ STLB trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
6. Những đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn:
+ Bƣớc đầu chỉ ra những tiền lệ của việc hình thành thể thơ STLB
+ Làm rõ bƣớc chuyển biến của thể STLB từ ngâm vịnh đến diễn tả
tâm tình của con ngƣời.
+ Góp phần khẳng định công lao của nhiều thế hệ thi sĩ trong việc xây
đắp và hoàn thiện một thể thơ dân tộc.
+ Góp phần làm sáng tỏ thêm những đặc trƣng dân tộc của thể STLB
7. Cấu trúc luận văn
Luận văn baogồm 3 phần:
Phần mở đầu gồm 6 phần:
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4. Mục đích nghiên cứu
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của luận văn

loại (loại hình) và thể (hay chỉ thể tài)” [17, 9].
Dựa vào các phƣơng thức sáng tác mà ngƣời ta phân chia thành các loại
thể văn học khác nhau. Theo tác giả Trần Thanh Đạm: “tiêu chuẩn và căn cứ
hợp lí nhất để phân chia loại thể văn học chính là phương thức kết cấu tác
phẩm văn học, trước hết là kết cấu hình tượng hoặc hệ thống hình tượng của
tác phẩm” [17, 7]. Nhƣ vậy có nghĩa là muốn phân chia loại thể chúng ta cần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 12 -
chú ý tới sự cấu tạo bên trong và hình tƣợng văn học chứ không phải chỉ dựa
vào một số biểu hiện về hình thức bên ngoài.
Khi đi vào vấn đề loại thể, thế giới tầng bậc của nó và thiên về cấu trúc
hình thức thể hiện, ta có ba loại: tự sự, trữ tình, kịch và từng loại có từng thể
nhỏ. Cụ thể:
Loại tự sự: Là loại tác phẩm dùng lời kể tái hiện lại những việc làm,
biến cố nhằm dựng lại một dòng đời nhƣ đang diễn ra một cách khách quan,
qua đó bày tỏ một cách hiểu và một thái độ nhất định. Tác phẩm đó bao giờ
cũng phải có một sự kiện (một câu chuyện) làm nòng cốt, trong đó có những
sự việc đang diễn ra có sự tham gia của con ngƣời với những hoạt động ngôn
ngữ, tính cách… của họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh, xã hội và trong mối
quan hệ lẫn nhau. Loại tác phẩm tự sự bao gồm: thần thoại, sử thi, truyện cổ
tích, truyện cƣời, ngụ ngôn, truyện thơ, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn,
kí sự, bút kí…
Loại trữ tình: Là loại tác phẩm văn học thông qua sự bộc lộ tình cảm
của tác giả mà phản ánh hiện thực, đó là sự bộc lộ trực tiếp những tƣ tƣởng
cảm xúc của tâm hồn con ngƣời đối với thế giới. Loại tác phẩm trữ tình bao
gồm: thơ trữ tình, thơ trào phúng, ca dao trữ tình, các khúc ngâm, tùy bút,
trƣờng ca hiện đại. Phú, văn tế, thơ ca trù cũng có thể xem là dạng đặc biệt
của tác phẩm trữ tình.
Loại kịch: Là loại nghệ thuật sân khấu, mang tính chất tổng hợp của
nhiều loại hình nghệ thuật nhƣ: văn học, âm nhạc, hội họa…Kịch là phƣơng

khác nhau. Chẳng hạn, trong loại tự sự có tự sự dân gian và tự sự cổ trung đại
và hiện đại. Trong tự sự dân gian lại chia thành: thần thoại, truyền thuyết, cổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 14 -
tích, ngụ ngôn, truyện cƣời.
Thể loại văn học phản ánh những khuynh hƣớng lâu dài và hết sức
bền vững trong sự phát triển văn học.
Mỗi loại hình văn học đều có cách thức riêng để xây dựng hình tƣợng
phản ánh hiện thực đời sống và tâm tƣ tình cảm. Nhƣng nếu cùng một thể loại
thì những tác phẩm đó ngoài những điểm khác biệt sẽ có sự tƣơng đồng. Ví
nhƣ truyện ngắn của Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng… có thể có nội
dung truyện khác nhau nhƣng ý thức phản ánh khách quan chân thực cuộc
sống của con ngƣời bằng những chất liệu phong phú của cuộc sống xã hội,
cách kể chân thực những sự kiện của các tác giả…thì tƣơng đối giống nhau.
Nhà nghiên cứu văn học Nga Bakhtin đã nói: “Mỗi thể loại (nhất là những
thể loại lớn) thể hiện một thái độ thẩm mĩ đối với hiện thực, một cách cảm thụ
nhìn nhận, giải minh về thế giới và con người. Thể loại là vị trí nhớ siêu cá
nhân của nghệ thuật với tích lũy, đúc kết những kinh nghiệm nhận thức thẩm
mĩ thế giới” [1, 125].
Tác phẩm văn học là sự thống nhất và quy định lẫn nhau của các yếu tố
chủ đề, đề tài, tƣ tƣởng nhân vật, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức lời
văn và kết cấu. Sự thống nhất này bao giờ cũng phải đƣợc thực hiện theo
những quy luật nhất định. Trong quá trình sáng tác, tác giả dùng các phƣơng
thức chiếm lĩnh đời sống khác nhau để thể hiện quan điểm thẩm mĩ của mình
đối với hiện thực và mang những khả năng khác nhau để tái hiện đời sống. Từ
đó tác giả có những cách thức xây dựng hình tƣợng nghệ thuật phù hợp với
thể loại văn học mà mình đã chọn.
Sự xuất hiện các thể loại văn học trong lịch sử là cả một quá trình. Vì
vậy, thể loại văn học là một phạm trù mang tính lịch sử mà nó chỉ xuất hiện ở
những giai đoạn phát triển nhất định của văn học, sau đó thƣờng xuyên biến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 16 -
- Nhịp điệu: Hai câu thất có nhịp 3/4 hoặc 3/2/2. Câu sáu có nhịp 3/3
hoặc 2/2/2. Câu tám có nhịp 4/4 hoặc 2/2/2/2
- Cách gieo vần: Tiếng thứ 7 câu thất trên và tiếng thứ 5 câu thất dƣới
hiệp vần lƣng với nhau. Tiếng thứ 7 câu thất dƣới có vần chân với tiếng thứ 6
câu lục. Câu 8 chữ gieo vần nhƣ thơ lục bát.
- Thơ STLB có thể dùng lối bình đối ở hai câu 7 tiếng, tiểu đối trong câu
6 và trong câu 8. Song cách đối nhau không phải là bắt buộc nhƣ trong thơ
Đƣờng luật.
Tuy nhiên, tầm quan trọng của các tiêu chí có thể khác nhau ở những
dạng bài thơ khác nhau. Chẳng hạn, khi nhận diện thể thơ lục bát và song thất
lục bát thì tiêu chí về số lƣợng chữ trong một câu thơ, số câu thơ trong một
khổ là quan trọng nhất. Sau đó mới đến các tiêu chí về cách gieo vần và ngắt
nhịp. Ví nhƣ, thể STLB có quy định chặt chẽ về số câu thơ trong một khổ (4
câu) nhƣng thể lục bát lại không có quy định chặt chẽ nhƣ vậy. Hay trong thể
STLB ngoài câu lục và câu bát còn có hai câu thất mở đầu mỗi đoạn.
1.1.3 Khái niệm thể loại Ngâm khúc
Các thể tài Ngâm, Khúc, Ca, Hành, Thán, Vãn…có nguồn gốc từ Trung
Hoa đƣợc du nhập vào nƣớc ta từ bao giờ đến nay vẫn chƣa có tài liệu để xác
định một cách chính xác. Chúng ta chỉ biết rằng qua quá trình giao lƣu văn
hóa thì các thể tài trong văn học Trung Quốc đã du nhập vào Việt Nam.
Khoảng thế kỉ XV nƣớc ta có tác phẩm Cung oán ngâm của Thái Thuận làm
theo thể thất ngôn bát cú bằng chữ Hán. Đến khoảng đầu thế kỉ XVIII bên
cạnh những tác phẩm Khúc làm theo nguyên mẫu chuẩn mực của Trung Hoa
thì nƣớc ta đã có những tác phẩm trƣờng thiên với dung lƣợng hàng trăm câu
thơ nhƣ: Tứ thời khúc vịnh (340 câu thơ), Thiên Nam minh giám (940 câu
thơ). Nếu nhƣ những ngày đầu ta thấy Khúc kết hợp với Vịnh thì từ giữa thế
kỉ XVIII Khúc đã kết hợp với Ngâm làm thành thể loại Ngâm khúc. Với tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Các Ngâm khúc trong văn ta vẫn làm theo thể song thất lục bát” [15, 139].
Nhóm biên soạn Những khúc ngâm chọn lọc cho rằng: “Ngâm khúc là
những tác phẩm hoàn toàn trữ tình – có thể gọi là những trường thiên trữ tình
được viết bằng thể song thất lục bát” [12, 14].
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả cho rằng: “Ngâm
khúc: thể thơ trữ tình dài hơi thường được làm theo thể song thất lục bát để
ngâm nga than vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau
xót triền miên day dứt. Vì vậy thể Ngâm khúc thường được gọi là thán hay
vãn” [16, 137].
Tác giả Ngô Văn Đức trong đề tài cấp bộ Nghiên cứu đặc trưng thi
pháp của thể loại thơ trữ tình Ngâm khúc khẳng định: “Ngâm khúc là ca khúc
trữ tình dài hơi phản ánh tâm trạng bi kịch của con người đã có ý thức về cá
nhân trong một giai đoạn lịch sử nhất định được viết bằng ngôn ngữ dân tộc
(chữ nôm) và thể thơ song thất lục bát” [9, 17]. Có thể thấy đây là một định
nghĩa tƣơng đối đầy đủ và khá chặt chẽ về thể loại Ngâm khúc.
Nhìn chung ta có thể hiểu Ngâm khúc là những ca khúc trữ tình trƣờng
thiên phản ánh những bi kịch không thể giải quyết đƣợc trong đời sống nội
tâm của con ngƣời, trong một giai đoạn lịch sử nhất định đƣợc viết bằng thể
STLB và chủ yếu bằng ngôn ngữ dân tộc.
Qua khảo sát một số khúc ngâm ta thấy phạm vi cuộc sống mà Ngâm
khúc lựa chọn để phản ánh là thế giới tâm trạng của những số phận nhỏ bé
trong xã hội. Bao trùm lên toàn bộ khúc ngâm là âm hƣởng buồn bã về sự mất
mát tuyệt vọng đến chán chƣờng. Các nhân vật trữ tình tuy mỗi ngƣời một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 19 -
hoàn cảnh ngƣời thì nghèo, ngƣời thì cảnh oan khiên tù đày, ngƣời thì ở quê
ra…nhƣng tất cả đều đang trong cảnh ngộ hết sức thƣơng tâm.
1.1.4 Khái niệm vần luật
1.1.4.1 Khái niệm vần
“Vần là một phương tiện tổ chức văn bản thơ ca dựa trên cơ sở lặp lại

đƣợc gieo vần nhƣng trong đó bộ phận vần không lặp lại hoàn toàn mà có sự
khác biệt chút ít:
Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái,
Người thì sa nanh sói ngà voi.
(Văn chiêu hồn - Nguyễn Du)
Hoặc :
Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm
Mùi hoắc lê thanh đạm mà ngon.
(Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều)
+ Về vị trí của tiếng có vần trong câu thơ, ngƣời ta phân biệt vần chân
(tiếng có vần đứng cuối câu thơ, còn gọi là cƣớc vận) và vần lưng (tiếng có
vần đứng ở giữa câu thơ là yêu vận).
Vần chân đƣợc gieo vần ở cuối dòng thơ, có tác dụng đánh dấu sự kết
thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết với các dòng thơ tiếp theo, “vần chân
rất đa dạng: khi liên kết, khi gián cách, khi ôm nhau, khi hỗn hợp các loại
trên” [ 16, 363].Ví dụ:
Ai yêu như tôi yêu nàng
Họp nhau lại, họp thành làng cho xinh
Chung nhau dựng một trường đình
Thờ riêng một vị thần linh là Nàng.
(Lòng yêu đương – Nguyễn Bính)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 21 -
. Vần lưng là vần đƣợc gieo ở lƣng chừng dòng thơ.
Thu sang trên những cánh bàng,
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi.
Hôm qua đã rụng một rồi,
Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn.
(Cây bàng cuối thu – Nguyễn Bính)
+ Về mức độ trầm bổng, cao thấp của âm tiết mang vần, ta có vần bằng

tắc của thể loại đó.
Ví dụ: Khi làm thơ lục bát ta phải tuân thủ về những luật lệ của thể thơ
lục bát nhƣ luật: về “tiếng”, về cách hiệp vần, về nhịp và về thanh điệu.
+ Về tiếng: Câu trên có 6 “tiếng” (câu lục), câu dƣới có 8 “tiếng” (câu
bát), và cứ thế tiếp tục.
Ví dụ:
Xưa sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
+ Về hiệp vần: các tiếng trong từng đôi câu thơ hiệp vần nhƣ sau: tiếng
cuối câu lục vần với tiếng thứ 6 câu bát (vần lƣng ở câu bát); tiếng cuối câu
bát vần với tiếng cuối câu lục (vần chân ở câu lục).
Ví dụ:
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du )
Tài sắc của chị em Thúy Kiều đƣợc đại thi hào Nguyễn Du giới thiệu
một cách tự nhiên mà cũng rất sinh động. Vần chân và vần lƣng kết hợp tạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- 23 -
nên sự hài hòa gắn kết chặt chẽ giữa các câu thơ.
+ Về ngắt nhịp: Nhịp chẵn là chủ yếu, trong đó nhịp đôi là cơ sở cũng
có khi linh hoạt theo nhịp lẻ ví nhƣ: Làn thu thuỷ /nét xuân sơn
+ Về thanh điệu có thể chia thành ba loại “tiếng”:
. Thanh bằng ở các tiếng 2, 6, 8.
. Thanh trắc ở tiếng thứ 4.
. Các tiếng lẻ 1, 3, 5 thì tự do hay còn gọi là “nhất, tam, ngũ bất luận”
Nếu ở câu lục có tiểu đối (đối bên trong câu) thì có thể đối thanh:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status