1 Luận văn
Thúc đẩy xuất khẩu thuỷ
sản trong quá trình phát
triển kinh tế việt nam 2
Phần một
Tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản trong
quá trình phát triển kinh tế việt nam
I- Vai trò của ngành thuỷ sản đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam.
Chúng ta biết, từ "thuỷ sản" xuất hiện từ lâu, từ khi ông cha ta
mới sinh ra chưa biết là cái gì, nhưng nó có thể đánh bắt giúp con
người tồn tại, dù dưới hình thức này hay hình thức khác. Ngày nay,
nguồn thuỷ sản có vai trò rất quan trọng, không những phục vụ nhu
cầu sinh hoạt trong nước, mà chúng ta còn áp dụng công nghệ hiện
đại để chế biến xuất khẩu sang thị trường thế giới. Vì vậy, thuỷ sản
có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong
điều kiện nước ta có điều kiện tự nhiên phát triển thuỷ sản xuất
khẩu, thúc đẩy ngành khác phát triển, tạo động lực phát triển kinh tế
đất nước.
Thường chúng ta có cái nhìn khác nhau về xuất khẩu và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Một là: Do tiêu dùng trong nội địa những sản phẩm không hết
thì mang chúng ra thị trường nước ngoài bán, tạo điều kiện tiêu thụ
được sản phẩm trong nước. Nhưng ở nước ta, trong điều kiện ngành
kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển. Việc sản xuất để phục vụ bản
thân chưa đủ, nên chúng ta không nói gì việc thừa ra để xuất khẩu.
Hai là: Chính phủ mỗi nước có chiến lược hướng ngoại hay
hướng xuất khẩu là chủ yếu. Tạo điều kiện thông qua chất lượng
hướng ngoại thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Đó là
quan điểm tích cực nhiều nước NIC
s
đã áp dụng chiến lược này và
thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.
Cụ thể là: Chúng ta thực hiện việc xuất khẩu, nó tạo đà, động
lực cho các ngành khác phát triển. Như sự phát triển xuất khẩu thuỷ
sản thì công nghệ ngành này phát triển, trên cơ sở đó công nghệ
cũng được ưng dụng sang ngành khác như: gạo, ca phê
Xuất khẩu chúng ta ngày càng xu có xu hướng nâng cao hiệu
quả ngành xuất khẩu: như chất lượng, giá cả hay quan hệ kinh tế. 4
Xuất khẩu nâng cao khả năng cạnh tranh giữa các ngành trong
nước và trên thế giới, vì vậy tạo sự chuyển dịch giữa các ngành
nhanh hơn.
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần
cho sản xuất phát triển và ổn định. Khi xuất khẩu phát triển thì công
kiện xuất khẩu hàng hoá cạnh tranh, như vậy thúc đẩy các doanh
nghiệp trong nước luôn luôn đổi mới, luôn cải tiến máy móc sáng
tạo ra, nâng cao chất lượng. Những yếu tố đó đòi hỏi người lao động
nâng cao trình độ tay nghề phục vụ hoạt động sản xuất.
* Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng thị trường và thúc đẩy quan
hệ đối ngoại của ta.
Chúng ta thấy rõ rằng, xuất khẩu sẽ tạo mối ràng buộc lẫn nhau, về
kinh tế, tạo điều kiện chúng ta xích lại gần nhau hơn. Nâng cao địa
vị và vai trò của đất nước trên trường quốc tế, Mở rộng xuất khẩu
sẽ mở rộng hoạt động tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế.
Nhưng qua các quan hệ đối ngoại ấy sẽ tạo cho chúng ta quan hệ
đến việc mở rộng thị trường xuất khẩu, có nhiều ban hàng hơn.
Nói chung, xuất khẩu ngày càng trở lên có vai trò quan trọng
trong bất cứ nước nào trên thế giới khi muốn phát triển. Không
những tạo vốn, kỹ thuật, công nghệ, nâng cao trình độ tay nghề, mà
chúng ta còn mở rộng quan hệ, nâng cao vị thế của đất nước trên thị
trường thế giới. Trong giai đoạn hiện nay thì đất nước ta ngày càng
mở rộng cánh cửa, để hoạt động xuất khẩu phát triển, thúc đẩy phát
triển kinh tế đất nước trong giai đoạn trước trước mắt và lâu dài để
hoàn thành quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2- Vai trò ngành thuỷ sản với phát triển kinh tế.
2.1 Ngành thuỷ sản xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Từ lâu thuỷ sản đã được coi là hàng thiết yếu và nó là hàng
tiêu dùng được nhiều nươc ưa chuộng như; Nhật, Mỹ, Trung quốc
Trong khi đó ở nước ta ngành thuỷ sản có rất nhiều khả năng và
triển vọng phát triển. Với vị trí và điều kiện tự nhiên ưu đãi thuận
lợi nuôi trồng và khai thác. Nước ta có bờ biển kéo dài 3260 km, và
vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1triệu km
2
. Ngoài ra nước ta còn
tuc tăng đóng góp vào thu nhập cua đất nước. Năm 2002 giá trị
nghành thuỷ sản đạt được 2.021 triệu USD với giá trị đạt được như
vậy đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế đất nước và đã thu hút
khoảng 3-4 triệu lao độngtrong cả nước vào ngành thuỷ sản.
Chúng ta xuất khẩu thuỷ sản chủ yếu là tôm và một số lượng
lớn mực lang, mực đông và lương cá tra, cá baxa. Là ngành xuất
khẩu lớn thứ ba của Việt Nam (Sau dầu và hàng may mặc) vì vậy
với lượng xuất khẩu nó là lượng đóng góp rất lớn tăng trưởng kinh 7
tế. Và theo dự báo kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản sẽ còn tăng nữa
trong giai đoạn tới năm 2001 là 1,7 tỷ USD thì năm 2005 là 2,5 tỷ
USD. Vậy nó sẽ tiếp tục là bộ phận quan trọng xuất khẩu của Việt
Nam.
2.2. Ngành thuỷ sản xuất khẩu với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chúng ta hãy nhìn lại quá trình, lịch sử ngành thuỷ sản phát
triển ngày càng đa dạng của ngành thủy sản. Nó góp phần vào rất
lớn vào quá trình chuyển dịch cơ cấu của đất nước, với sự thay đổi
cả về chất và về lượng.
Từ chỗ nghề thuỷ sản từ tự cung tự cấp, phục vụ nhu cầu cuộc
sống hàng ngày của mỗi gia đình thì ngày nay nó trở thành ngành
nuôi trồng, khai thác tự nhiên với sản lượng lớn như (cá, tôm…)
phục vụ xuất khẩu phục vụ thị trường các nước trong khu vực và thế
giới và ngành thuỷ sản Việt Nam chiếm cơ cấu ngày càng thay đổi
trong GDP đất nước. Với năm 1991 - 1995 tăng với tốc độ
7,5%/năm; giai đoạn 1996 - 2000 tăng với tốc độ 9%/năm. Trong
khi đó mức tăng trưởng bình quân hàng năm của sản lượng thuỷ sản
xuất khẩu là 17,8%.
liên quan vấn đề xã hội sau:
- Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và mức sống của các
cộng đồng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.
- Góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao động trong
nước
- Tăng cường xuất khẩu thu ngoại tệ vào trong nước
- Tăng cường việc đóng góp của ngành thuỷ sản vào sự phát
triển kinh tế - xã hội trong nước,bao gồm ổn định xã hội và an ninh
quốc gia.
- Đẩy mạnh qúa trình hiện đại hoá trong ngành thuỷ sản.
Chúng ta dự định rằng số người sống bằng nghề thuỷ sản tăng
từ 6,2 triệu người năm 1995 đến năm 2003 là 8,1triệu người. Điều
đó phản ánh sự mở rộng không ngừng ngành thủy ngày càng tăng
lên trung bình tăng 16% một năm. Đó là điều đáng mừng cho một
ngành xuất khẩu phát triển
Chúng ta không thể quên được rằng ngành thuỷ sản ngoài việc
xuất khẩu, nó còn giúp cho mục tiêu dinh dưỡng của quốc gia tăng
lồng độ cá, tôm… trong khẩu phần thức ăn. Dự kiến cung cấp cá và
các sản phẩm thuỷ sản toàn nước sẽ tư mức hiện nay là khoảng 11,5 9
kg lên 13,5kg/đầu người vào năm 2005. Đó là điều thiết yếu, ngoài
việc xuất khẩu giúp giải quyết vấn đề đời sống xã hội người dân.
Bảo đảm phát triển kinh tế xã hội, phát triển bền vững hơn.
Nói tóm lại, chúng ta ngày nay đẩy mạnh việc xuất khẩu thuỷ
sản có vai trò rất lớn trong việc phát triển đất nước trong giai đoạn
hiện nay. Ngành thuỷ sản - Không những thúc đẩy phát triển kinh tế
tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà nó còn góp phần rất lớn vào
0
N trở lên phía Bắc là một
vịnh nông, đáy hình lòng chảo, độ dốc đáy biển nhỏ, độ sâu trung
bình 38,5m, nơi sâu nhất của vịnh không quá 100m
- Vùng biển trung bộ: Giới hạn từ vĩ độ 11
0
30N đến 17+0
N
đáy
biển có độ dốc.
Ngoài ra với sự ưu đãi của tài nguyên thiên nhiên thì đất nước
Việt Nam còn có nhiều môi trường nước, nó tạo thêm phong phú
thuỷ, hải sản phong phú gồm:
* Môi trường nước lợ:
Bao gồm ùng nước cửa sông, ven biển và rừng ngập mặn đầm
phá. Đây là môi trường, cư trú sinh sản, sinh trưởng của nhiều loại
tôm, và cá giá trị kinh tế cao và nhiều loại khác cũng tăng trưởng
phát triển cao.
Các vùng nước lợ nước ta đặc biệt là những vùng rừng ngập
mặn ven biển, đã được khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế đạt
được thành tựu, nhưng bên cạnh đó là nó bị lạm dụng nhiều quá mức
cho việc nuôi trồng thuỷ sản, cao nhất như việc nuôi tôm ven vùng.
Chúng ta biết Việt Nam tổng diện tích nước lợ khoảng 619
nghìn ha với diện tích này hàng năm nhân dân Việt Nam đã nuôi
trồng và đánh bắt nhiều loại thuỷ sản đặc sản có giá trị kinh tế cao
như: tôm, rong , cá mặn, lợ…Đặc biệt khu rừng ngập mặn là nơi
nuôi dưỡng chính cho ấu trùng giống hải sản,… Tuy nhiên, theo
FAO (1978) thì diện tích rừng ngập mặn ven biển Việt Nam giảm từ
400 nghìn ha xuống 250 nghìn ha do ảnh hưởng lớn của điều kiện tự
nhiên Việt Nam
trung khai thác chế biến công nghiệp, chế biến đông lạnh xuất khẩu
cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Chúng ta khai thác chủ yếu mang tính
tự phát của một số ngư dân hoặc một nhóm người tự chế tạo thuyền
máy đánh bắt xa bờ. Vì vậy việc khai thác nước mặn xa bờ của Việt
Nam là kém. Khí hậu thủy văn của vùng này rất khắc nghiệt, hay
sóng, dông, bão nên khai thác là rất khó, rất nguy hiểm trong quá
trình khai thác. Vì vậy chúng ta tăng thêm chi phí về vật chất,
phương tiện kỹ thuật cho việc khai thác xa bờ vùng nước mặn xa bờ
là cần thiết.
*Môi trường nước mặn gần bờ: 12
Môi trường nước mặn gần bờ ở Việt Nam, rất quan trọng hàng
năm cho khai thác lượng rất lớn. Cho khối lượng thuỷ sản nước mặn
cao. Như vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ thuộc vùng sinh
thái này có sản lượng khai thác cao nhất, có khả năng đạt 67% tổng
lượng hải sản khai thác của Việt Nam.
Khi nghiên cứu về bờ biển Việt Nam có nhiều vùng vịnh kín,
đặc biệt là vùng Vịnh Bắc bộ, bờ biển, Kiên Giang với 4.000 hòn
đảo tạo nên nhiều bãi biển được che chắn và có dòng chảy thích hợp
có thể nuôi các giống loài hải sản có giá trị cao như các loại cá, các
loại nhuyễn thể, giáp xác, cầu gai, hải sâm,…
Nguồn lợi hải sản Việt Nam có thể ước tính như sau: Cá có
trên 2.100 loài, trong đó hơn 100 loài có giá trị kinh tế. Vịnh Bắc bộ
có thành phần khu hệ cá nghèo nhưng đến 10,7% số loài mang tính
ổn đới thích nước ấm. Tôm có 75loài mực, 650 loài dong biển, 12
loài rắn biển, 4 loài rùa biển. Ngoài ra còn có nhiều loài đặc sản quý
hiếm như: Yến sào, sò huyết, ngọc trai, diệp, san hô đỏ,…
Đặc tính nguồn lợi này cũng gây khó khăn cho các nhà khai
Nhưng những người lao động này đa số không làm chuyên canh
trong khai thuỷ sản mà nhiều người lao động sen canh với lao động
đồng ruộng. Chúng ta tính toàn ngành hiện nay: hiện có 90 tiến sỹ
,4200 cán bộ đại học, 14000 cán bộ kỹ thuật chuyên ngành, 5000
cán bộ trung cấp. Nhưng giá lao động kỹ thuật cũng rất thấp so với
khu vực và thế giới.
Như vậy nguồn lao động thông minh, năng động, giá rẻ với các
nước trong khu vực và thế giới. Nó là lợi thế lớn nhất cho Việt Nam
cạnh tranh xuất khẩu thuỷ sản với thế giới. Tuy vậy thu nhập ngành
thuỷ sản hiện nay tương đối ổn định và tăng cao đó là điều kiện để
ngành thuỷ sản thu hút lao động từ ngành khác tạo điều kiện ổn định
xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế.
1.3. Lợi thế các ngư cu và tàu thuyền
Chúng ta biết Việt Nam điều kiện về đánh bắt vãn còn thô sơ
lạc hậu. Chủ yếu vẫn là ngư cư và tàu thuyền có khả năng khai thác,
nhỏ thô sơ. Vì vậy nó là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác gần
bờ đó là lợi thế dựa trên sức lao động Việt Nam . Trong giai đoạn
1991 - 2000 số lượng tàu thuyền máy nhỏ tăng nhanh, thuyền thủ
công có xu hướng giảm đi. Năm 1991 tàu thuyền máy có 44.347
chiếc, chiếm 59,6%; thuyền thủ công 30.284 chiếc, chiếm 40,4% 14
đến năm 2002, tổng số thuyền máy là 78978 chiếc chiếm đại bộ
phận tàu thuyền khai thác hải sản của Việt Nam. Trong giai đoạn
1991 - 2002 bình quân hàng năm tàu thuyền tăng 8% tốc độ tăng về
các loại tàu thuyền máy có xu hướng chậm đi nhưng tổng công xuất
tăng nhanh. Năm 2002 tổng công suất đã đạt tới 3.722.577 CV lớn
gấp trên 4 lần so năm 1991. Ước tính năm 2003 số lượng tàu có xu
hướng giảm xuống tổng công suất toàn đối tàu là 3202453 CV. Tốc
Tóm lại, Việt Nam là một nước không những có điều kiện tự
nhiên thuận lợi cho việc phát triển ngành thuỷ sản xuất khẩu mà còn
người Việt Nam và điều kiện đánh bắt nước ta hiện nay cũng là điều
kiện rất thuận lợi cho việc phát triển ngành thuỷ sản xuất
khẩu.Nhưng với tiềm năng của đất nước ta hiện nay cũng là điều
kiện rất thuận lợi cho việc phát triển ngành xuất khẩu. Nhưng với
tiềm năng của đất nước hiện nay thì chúng ta còn phải nỗ lực hơn rất
nhiều để khai thác nguồn tự nhiên thiên nhiên này.
2. Thị trường thuỷ sản thế giới
2.1. Đặc điểm thị trường thế giới
Đánh giá sơ bộ tình hình thuỷ sản thế giới: Theo thống kê của
FAO, hiện nay toàn thế giới có 179 quốc gia ở đó nhân dân sử dụng
thuỷ sản làm thực phẩm. Do điều kiện tự nhên, tình hình kinh tế,
phong tục tập quán hay tôn giáo mà mức độ sử dụng thủy sản làm
thực phẩm của các quốc gia, các dân tốc là khác nhau. Lượng tiêu
thụ thuỷ sản được tính trung bình của người dân trên thế giới giai
đoạn 1991 - 1997 là 14 - 15 kg thuỷ sản/người/năm. Nhưng nhu cầu
này sẽ tăng lên 18 - 19kg/ người/năm 2015 - 2020 trên toàn thế giới.
Trong thập niên 90 tổng sản lượng thuỷ sản thế giới tăng rất chậm
trung bình 0,23%/năm thấp hơn so mức bình quân 3% của năm trong
thập niên 80%. Nhưng theo đánh giá sang đầu thập niên này lượng
thuỷ sản sẽ tăng lên, nhu cầu người dân trên thế giới ngày càng
cao.Đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển của ngành thủy sản
Việt Nam.
Nhưnghiện nay, trên thế giới thuỷ sản vẫn chủ yếu khai thác tự
biên. Năm 1993 hải sản chiếm 80,9% còn thủy sản nội địa chỉ chiếm
19,1%, năm1991. Khai thác 85% hải sản biển và 15% thuỷ sản nội 16
17
các nước đứng dưới, tới năm 1990, Trung Quốc đạt 12 triệu tấn,
trong khi đó họ giám mạnh dạn đưa ra kế hoạch 1991 - 2000 là mục
tiêu 20 triệu tấn thủy sản, điều bất ngờ 4 năm sau họ đã đạt 20,7
triệu tấn 1994. Với mức tăng quá nhanh của khai thác thủy sản
Trung Quốc, trong khi đó các cường quốc lớn mạnh khác lại giảm
xút nhanh
Như vậy tình hình thủy sản thế giới đã có rất nhiều thay đổi kể
cả điều kiện đánh bắt và khả năng khai thác. Về ngôi thứ về khai
thác thủy sản có nhiều thay đổi đáng kể hiện nay Trung Quốc và
Peru đagn là nước đứng đầu thế giới về khai thác thủy sản. Đó là
những biến động lớn về tình hình thủy sản hiện nay
2.2. Tình hình nhu cầu thủy sản trên thị trường thế giới.
Theo nghiên cứu khoa học cho thấy đạm từ thủy sản không
những đảm bảo lượng calori cao mà còn có lợi cho sức khoẻ, tránh
được bệnh tật thường thấy do dùng quá nhiều đạm và mỡ từ động
vật cạn như thịt, chứng, sữa Thêm vào đó công nghệ bảo quản chế
biến đã làm cho hương vị thực phẩm thủy sản ngày càng cao thu
nhập bình quân đầu người ngày càng tăng chính những lý do đó dẫn
đến nhu cầu thủy sản tăng mạnh. Nhu cầu thủy sản thế giới ngày
càng tăng trên phạm vi toàn cầu còn do nguyên nhân sau:
- Dân số tăng nhanh. Theo tổ chức dân số thế giới, thì dân sóo
thế giới hiện nay tăng trung bình 2%/năm. Đặc biệt dân số tăng
nhanh ở các nước chậm và đang phát triển (LDCs). Với dân số thế
giới hiện nay khoảng trên 6 tỷ người thì nhu cầu thủy sản của thế
giới ngày càng tăng nhanh
- Thu nhập bình quân đầu người tăng: thu nhập bình quân của
người dân thế giới tăng dẫn đến tiêu dùng cho thực phẩm thủy sản
Bảng 2. Dự tính dân số và tiêu thụ thủy sản ở các châu lục
năm 2002
Châu lục Dân số Tiêu thụ hải sản
Triệu
người
% so
thế giới
kg/đầu
người
Triệu tấn
Nam á 2.100 33,8 31,4 30,0
Đông á 4.470 24,0 32,6 21,8
Trung Quốc 1.260 20,6 20 11,5
Ấn Độ 962 15,7 7,0 3,1 19
Nhật Bản 128 2,1 140,0 8,1
Nơi khác ở châu á 82 1,3 50,0 2,2
Châu Phi 877 14,3 31,9 12,7
Châu Âu 513 8,4 42,9 10,0
Nga 315 5,1 60,0 8,6
Bắc Mỹ 298 4,9 47,2 6,4
Châu đại dương 330 <0,1 73,3 1,0
Nguồn: Thông tin ngoại thương thủy sản
Như vậy xét các châu lục thì châu á là nơi có mức tiêu thụ
thủy sản lớn nhất thế giới, đặc biệt là thủy sản, với ví dụ điển hình
là Nhật Bản và Trung Quốc dẫn đầu thế giới và nhập khẩu thủy sản.
2.3.1. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản thế giới
xuất khẩu thuỷ sản của thế giới qua các năm từ năm 1980 trở
về đây. Đặc biệt trong tình hình hiện nay khi điều kiện khai thác và
chế biến ngày càng hiện đại hoá thì thuỷ sản qua các khâu chế biến,
ướp lạnh ngày càng được các nước quan tâm và xu hướng xuất
khẩu các nước trong khu vực và thế giới ngày càng tăng lên thể hiện
qua bảng sau: 21
Bảng 3. Xuất khẩu thuỷ sản thế giới.
Khu vực/năm 1980 1985 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Thế giới 15098
17249
31820
32031
3571 38917
40215
41501
47418
52034
15599
17730
18558
20320
23782% trong tổng số 43,9 43.9 45.8 46.5 43.7 456 46.2 49.0 50.6
Mỹ 993 1162 2441 25324
3019 3281 3582 3179 3229 3383 3100 2800 2400
Thái Lan 358 675 1631 1959 2264 2901 3071 3404 4190 4949 4100 4300 4400
Nauy 974 922 1608 1563 2059 2282 2436 2302 2718 3122
Canada 1088 1356 2219 2051 2269 2168 2085 2056 2782 2314 2300 2400 2900
Đài Loan - 1067 1311 1591 1517 1524 1803 2369 2213 2326 1700 1800 1600
Trung Quốc 308 445 1023 1039 1301 1182 1560 1542 2320 2854 2800 2900 2600
Hàn Quốc 677 797 1784 1538 1363 1500 1365 1335 1411 1564
Anh 56,2 362,3
718,2
794,2
962 1121 1147 868 1180 1195
Pháp 320.3
Cũng qua bảng trên thì tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản của các
nước phát triển bao giờ cũng cao hơn so các nước phát triển. Đó là
điều dễ hiểu bởi do điều kiện đánh bắt ở các nước đang phát triển
khó khăn hơn rất nhiều so các nước phát triển. Mặt khác do điều
kiện công ghệ chế biến ở các nước đang phát triển rất khó khăn.
Hiện nay trong nước đang phát triển cố gắng thúc đẩy việc xuất
khẩu hàng của họ cao hơn.
Thực tế tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản của các nước đang phát
triển ngày càng cao, từ chỗ chỉ khoảng 40-45 những năm đầu thập 22
kỷ 80, đầu năm 90 là 45-55 và xu hướng vẫn tiếp tục tăng trên thế
giới. Và sự đột phá về xuất khẩu lần đầu tiên vào năm 1994, đã vượt
so với các nước phát triển 50,6/49,4. Vào đầo thế kỷ này xu hướng
xuất khẩu vẫn tăng hơn so nước, phát triển.
Nhưng không thể đánh giá thấp các nước, phát triển được. Với
15 nước đứng ở tốp đầu về xuất khẩu thuỷ sản thế giới thì có hơn
một nửa là các nước phát triển. Hoa kỳ vẫn là nước xuất khẩu thủy
sản đứng hàng đầu thế giới đầu năm 1980 đạt 993 triệu USD và đến
năm 1998 là 2400 triệu USD, tuy có giảm với lượng đáng kể so số
năm về trước. Sau đó là Thái Lan đứng đầu năm 1980 là 358 nhưng
đến nam 1998 đã tăng vọt lên và đứng đầu thế giới là 4400triệu
USD. Và hiện nay nhịp độ vẫn tang và Thái Lan vẫn là nước đứng
đầu thế giới về xuất khẩu thuỷ sản, các nước xuất khẩu lớn tiếp theo
là Na Uy, Đan Mạch, Trung Quốc, Canada, Đài Loan
Nhìn chung các nước đều tăng trưởng về xuất khẩu thuỷ sản
thời gian qua và đóng gó rất lớn vào tăng trưởng nền kinh tế thế
giới, tuy vậy mức tăng khu vực khác nhau và mỗi nước khác nhau.
2.3.2. Tình hình nhập khẩu thuỷ sản thế giới.
57000
56.500
55000% tăng giảm
15,21 92,75 1,59 10,25 10,06 3,57 -1,10 15,71
DCS
13519
16202
30554
30705
34224
37358
38606
37903
43730
% trong số
19,6 25,9 30,2 28,2 27,0 27,8 28,5 312,8 31,3 31,9
Bắc Mỹ
2934 4407 5982 6416 6193 6674 6710 7111 7956 8175
% trong TG
18,4 24,1 16,9 17,9 15,7 15,3 14,9 15,9 15,4 14,6
Hoa Kỳ
2366 4052 5389 5756 5573 5999 6024 6290 7043 7141 7000 8100 8500
EC
5251 5502 11584
11087
14974
16211
16499
14312
16834
18600Châu Âu
8786 6418 12811
301,6 355,9 593,3 659,2 620,3 675,5 686,9 822 913.4 1034
Nguồn: FAO Fishery yearbook hàng năm
Vậy nhập khẩu thuỷ sản thế giới thời gian qua tăng nhanh từ
15,908 tỷ USD (năm 1980) tăng lên 51,200 tỷ USD (1998) tăng gấp
3,218 lần. Nhưng nhập khẩu ấy chủ yếu tăng ở các nước phát triển
(khoảng 85%), từ 13,519 tỷ USD năm 1980 đến năm 1995 là 43,730
tỷ USD. Còn các nước đang phát triển thì nhập khẩu nhỏ, bé.
Các nước trên thế giới thì đất nước Nhật Bản vẫn là nước
truyền thống nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới từ trước tới nay.
Mức nhập khẩu tăng từ 4,7 tỷ USD, mức tăng trung bình hàng năm
là hơn 13%, lớn hơn mức nhập khẩu trung bình thế giới (12%).
Nhập khẩu thuỷ sản đứng thứ hai và trên thế giới là Hoa Kỳ. Hoa Kỳ
từ 2,366 tỷ USD (1992) đến năm 1995 là 7,41 tỷ USD (1995) và
tăng lên 8,500 tỷ USD (1998) chiếm khoảng 14% nhập khẩu của thế
giới. Ngoài ra các nước tuyền thống nhập khẩu thuỷ sản, như các
nước ở khu vực Châu Ây, EC, Bắc Mỹ. Sau Hoa Kỳ còn có các nước
thường xuyên nhập khảu thuỷ sản Pháp, Anh, Hồng Kông, Thái Lan,
Đan Mạch 24
Các nước nhập khẩu thủy sản trên thế giới chủ yếu nhập các
mặt hàng thuỷ sản tươi và đông lạnh chiếm tỷ trọng áp đảo và ngày
càng tăng (73,6%) voà năm 1995 sau đó là đồ hộp thuỷ sản (15,9%)
thủy sản khô, muối, hun khói chỉ chiếm 5,4% ngoài ra còn laọi khác
diễn ra hoạt động nhập khẩu trên toàn thế giới.
2.3.3. Kim ngạch xuất khẩu, thuỷ sản thế giới.
Hoạt động kim ngạch xuất khẩu của thế giới diễn biến tăng
khá nhanh, do sản lượng thuỷ sản tăng. Nhưng theo đánh giá hiện
nay thì kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng do sản lượng giai đoạn trước
nhiều yếu tố tác động gián tiếp tới nó. Có thể nói là vô cùng phức
tạp như gồm:
- Giá cả trên thị trường thủy sản thế giới tăng liên tục theo chu
kỳ, sở dĩ do cung thuỷ sản phụ thuộc nhiều yếu tố tự nhiên điều kiện
thời tiết bão, gió đánh bắt ở biển cả. Có mùa tăng rất cao có mùa
tăng thấp.
- Ngoài ra còn phục thuộc vào nước nhập khẩu thuỷ sản có nền
kinh tế ổn định hay không nếu nền kinh tế suy thoái thì tiêu thụ
giảm mạnh dẫn đến giá giảm.
- Năng lực côg nghệ chế biến có phát triển không hay chỉ chế
ở dạng thô thì giá tất yếu sẽ rất rẻ mạt.
- Ngoài ra giá còn chi phố bởi điều kiện chính trị, văn hoá, hay
sự áp đặt kinh tế của nước lớn.
Nhưng diễn biến giá thuỷ sản thể hiện rất rõ qua chỉ số giá
tổng hợp của FAO là chỉ số giá xuất khẩu (export price indices of
fish). Từ năm 1993 tới nay, giá xuất khẩu thủ sản diễn biến khá hợp
lý thuật lợi cho các nước xuất khẩu thuỷ sản. Hàng năm, giá tăng
xấp xỉ 6% trong khi nhu cầu thị trường thế giới là không giảm. Nếu
coi giá thuỷ sản xuất khẩu 1993 là 100, giá xuất khẩu thuỷ sản của
các năm sẽ như sau.
Bảng 6: Chỉ số giá thuỷ sản xuất khẩu.
Năm 1993
1994
1995
1996
1997