Vấn đề 4: Chức năng và hoạt động của Rễ
1. Chức năng
- Rễ là cơ quan sinh dưỡng dưới đất của cây, có nhiệm vụ chủ yếu là hút
nước và muối khoáng hòa tan trong nước để chuyển lên các cơ quan trên mặt
đất (thân và lá).
- Rễ còn có chức năng cơ học: giữ chặt cây vào đất.
- Ở một số ít loài, rễ cũng tham gia vào việc sinh sản sinh dưỡng.
- Sinh trưởng???
- Ngoài ra, các biến dạng của rễ thực hiện các chức năng đặc biệt:
+ Rễ củ: ở một số cây, rễ phồng to và nạc, chứa chất dự trữ
+ Rễ chống: là hệ thống rễ phụ mọc ra từ thân tạo thành hệ thống
chống đỡ cho cây.
+ Rễ thở: thường gặp ở các cây ngập mặn hoặc đầm lầy: lấy oxy
cho các phần rễ ở dưới đất lầy.
+ Rễ cột
+ Rễ không khí
+ Rễ bám
+ Rễ mút
2. Hoạt động
a. Quá trình hút nước ở rễ
* Các động cơ hút nước:
- Động cơ trên của sự hút nước: do sự thoát hơi nước ở lá tạo ra.
- Động cơ dưới của sự hút nước: trong quá trình hoạt động, trao đổi chất ở
rễ đã tạo ra các chất (ví dụ như đường) làm tăng nồng độ dịch bào kéo theo sự
tăng áp suất thẩm thấu, do đó tăng sự hút nước.
* Cơ chế của quá trình hút nước:
Nước được rễ hút vào sau đó vận chuyển lên thân rồi lên lá theo một chiều.
Có hai cơ sở để giải thích quá trình hút nước ở thực vật:
- Do gradient nồng độ chất tan:
+ Khi có sự chênh lệch về nồng độ các chất hòa tan trong các tế bào rễ và
dung dịch đất, nước sẽ được hấp thụ vào rễ theo cơ chế khuyếch tán thẩm thấu.
trao đổi với nhau khi hút bám trên bề mặt rễ hoặc nằm trong các khoảng không
gian tự do của thành tế bào rễ.
- Quá trình phân phối theo cân bằng Donnan: các ion được phân phối cân
bằng giữa môi trường trong và ngoài tế bào rễ qua một màng ngăn cách.
* Cơ chế chủ động
- Sự hút chủ động các nguyên tố khoáng bởi hệ rễ liên quan đến quá trình
trao đổi chất của tế bào.
- Thuyết chất mang giải thích cơ chế hút chủ động các nguyên tố khoáng có
liên quan trực tiếp đến sự trao đổi chất của tế bào hút:
+ Thuyết này dựa trên quan niệm màng NS không thấm đối với các
ion tự do và không cho các ion đã xâm nhập vào tế bào tự khuyếch tán ra ngoài.
+ Trên bề mặt của màng chất nguyên sinh, có những chất có khả
năng vận chuyển các nguyên tố khoáng qua màng như phức hệ ion-chất mang.
Sau khi xâm nhập qua màng, phức hệ ấy được phân giải: ion giải phóng tham
gia tương tác với các phân tử của chất nguyên sinh, còn chất mang lại quay trở
lại bề mặt màng và lại thực hiện tiếp tục vận chuyển các nguyên tố khoáng.
+ Chất mang là phương tiện vận chuyển, nhờ đó mà ion chui qua
được màng ngăn cách giữa môi trường trong và ngoài, còn các ion tự do thì
không vượt qua được.
+ Về bản chất và cơ chế vận chuyển phức hệ ion – chất mang hiện
còn những quan điểm khác nhau. Theo nhiều tác giả, ion và chất mang tạo nên
một phức chất tan trong nước và có thể khuyếch tán qua màng lipoprotein theo
gradient nồng độ (chất mang khuyếch tán). Chất mang có thể quay trên màng và
chuyển ion từ mặt này sang mặt kia của màng (chất mang quay). Chất mang có
thể vận chuyển ion vào trong tế bào bằng cách trượt dọc thành các lỗ đầy nước
của màng (chất mang trượt). Cuối cùng chính các protein co duỗi giữ vai trò
chất mang. Sự vận chuyển ion được thực hiện bởi sự co và duỗi theo nhịp điệu
của mạch peptit (chất mang co duỗi). Theo giả thuyết chất mang, năng lượng
giải phóng trong quá trình hô hấp được sử dụng đầu tiên vào việc tổng hợp phân
tử chất mang, hình thành phức hệ ion – chất mang; vận chuyển phức hệ ion –