SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI THCS
MƠN: LỊCH SỬ
VAI TRỊ CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ
CHÍ MINH ĐỐI VỚI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM NĂM 1945
Giáo viên: Nguyễn Thị Minh Hải
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc
Vĩnh Yên, tháng 3 năm 2013
1
BDHSG Lịch sử
VAI TRÒ CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI
THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỗi bước đi và thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với tên tuổi và sự
nghiệp của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Sau nhiều năm bơn ba tìm đường
cứu nước, Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc. Đầu năm 1941, Người về
nước, cùng với Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo quá trình chuẩn bị, tiến lên tổng khởi
nghĩa giành chính quyền tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong chương trình dạy học sinh giỏi lịch sử THCS, phần vai trị của Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với Cách mạng tháng Tám là phần nâng cao. Giáo
viên cần xác định, phân tích rõ cho học sinh hiểu những đóng góp to lớn của Người đối
với Cách mạng Việt Nam. Qua đó kích thích tư duy sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện
để các em có thể viết bài đạt kết quả cao nhất.
mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta
với bọn đế quốc phát xít Pháp-Nhật, bởi vì dưới hai tầng áp bức Nhật – Pháp, “quyền lợi
của tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng”.
“Pháp – Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông” mà là kẻ thù chung của
cả dân tộc.
Hội nghị khẳng định: "Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính
trị Đông Dương, lực lượng giai cấp Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách
cách mạng ở Đơng Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông
Dương…"Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật không phải riêng của của giai cấp vô sản và
dân cày, mà là nhiệm vụ chung của tồn thể nhân dân Đơng Dương". Hội nghị chủ
trương: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn
vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu khơng giải quyết được vấn đề giải
phóng dân tộc, khơng địi được độc lập tự do cho tồn thể dân tộc, thì chẳng những tồn
thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp
đến vạn năm cũng khơng địi lại được". Vì vậy, phải tạm gác khẩu hiệu "đánh đổ địa
chủ, chia ruộng đất cho dân cày". Quyền lợi của nơng dân được giải quyết ở một mức độ
thích hợp bằng việc thực hiện các khẩu hiệu: tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt
gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức.
Hội nghị chủ trương gải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông
Dương, nhằm thực hiện chính sách “dân tộc tự quyết”. “Các dân tộc sống trên cõi Đông
Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng
thành thành một dân tộc quốc gia tùy ý”. Cách giải quyết đó có tác dụng phát huy sức
mạnh của mỗi dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, đập tan những luận điệu
xun tạc của kẻ thù về vấn đề dân tộc, đồng thời tạo điều kiện đoàn kết ba dân tộc Việt
Nam, Lào, Campuchia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
4
BDHSG Lịch sử
Về phương pháp cách mạng, Hội nghị đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, nhấn
quân sự thuần túy.
Việt Minh là khối đại đồn kết dân tộc Việt Nam, tập hợp đơng đảo các tầng lớp
nhân dân, các đảng phái chính trị và tơn giáo u nước, có tác dụng cơ lập cao độ kẻ thù
6
BDHSG Lịch sử
là đế quốc và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng. Đó là nơi tổ chức, giác ngộ
và rèn luyện lực lượng chính trị cho cách mạng, một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa
quyết định trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
4. Chuẩn bị lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng
Ngay trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đào tạo
cán bộ quân sự, nghiên cứu lý luận quân sự, đặt nền móng cho sự ra đời lực lượng vũ
trang cách mạng Việt Nam.
Là một nhà hoạt động quốc tế, Hồ Chí Minh nghiên cứu nhiều vấn đề quân sự ở
các nước trên thế giới, tiếp thu có chọn lọc những nội dung tích cực, phù hợp của tinh
hoa quân sự thế giới. Nghiên cứu về quân đội ở Trung Quốc, Người ghi chép Những
hiểu bết cơ bản về quân sự. Người cũng quan tâm nghiên cứu, phổ biến kinh nghiệm tổ
chức, xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang ở cơ sở... Cách mạng phải có nơi
đứng chân để giải quyết vấn đề tiềm lực. Đầu năm 1941, khi mới về nước Người chọn
Cao Bằng làm nơi đứng chân đầu tiên vì đó là nơi "có phong trào tốt từ trước", "có hàng
rào quần chúng bảo vệ", lại là nơi có địa thế hiểm yếu, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”,
nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về xi thì cách mạng mới thắng lợi. Trong thời
kỳ kháng Nhật cứu nước, khi vùng giải phóng ở Việt Bắc được mở rộng, bao gồm các
tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hồ Chí
Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng và củng cố thành căn cứ địa cách mạng cho cả
nước.
Trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển mạnh ở Cao Bằng, các đội tự vệ cứu
quốc ra đời. Cuối năm 1944, Người ra Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân, xác định nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động và phương châm tác
Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng (5/1941) khẳng định:
“Cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Chúng ta
phải “luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà
đánh lại quân thù”. Hồ Chí Minh nêu ba điều kiện của thời cơ khởi nghĩa:
Một là, chính quyền thực dân đế quốc đã lung lay bối rối đến cao độ, chúng đã
cảm thấy không thể ngồi yên nắm giữ địa vị của chúng như trước.
Hai là, quần chúng đói khổ đã căm thù thực dân đế quốc đến cực điểm, đã thấy
cần phải đồng tâm hiệp lực, nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân, vì mọi
người hiểu rằng nếu ngồi yên cũng chết.
Ba là, đã có một chính đảng cách mạng đủ sức tổ chức, lãnh đạo quần chúng nổi
dậy khởi nghĩa theo một đường lối đúng đắn, một kế hoạch phù hợp, đảm bảo giành
thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa.
8
BDHSG Lịch sử
Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ muốn gây cuộc
khởi nghĩa bằng võ trang phải nhằm vào các điều kiện chủ quan:
“1- Mặt trận cứu quốc đã thống nhất được toàn quốc.
2- Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp – Nhật, mà đã
sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa.
3- Phe thống trị Đông Dương đã bước vào cuộc khủng hoảng phổ thông đến cực
điểm về kinh tế, chính trị lẫn quân sự.
4- Những điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương như
quân Tàu đại thắng quân Nhật, Cách mạng Pháp hay Cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân
chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xơ đại thắng, cách mạng các thuộc địa Pháp,
Nhật sôi nổi và nhất là quân Tàu hay quân Anh – Mỹ tràn vào Đông Dương”.
Đảng và Hồ Chí Minh ln dự đốn thời cơ, đánh giá chính xác xu thế phát triển
của thời cuộc. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng
minh không điều kiện, hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm;
cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần,
thế dân chúng mới được hạnh phúc”.
Người đã xem xét các mơ hình nhà nước ở Mĩ, Pháp, Liên Xô, Người chủ trương
“dựng ra chính phủ cơng nơng binh”. Đó là chính quyền nhà nước của quảng đại quần
chúng lao động. Đến năm 1941, Người chủ trương thay hình thức chính quyền cơng
nơng bằng hình thức dân cộng hịa dân chủ. “Chính quyền cách mạng của của nước dân
chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả tồn
thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp – Nhật và những bọn phản quốc,
những bọn thù, khơng được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt
Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ
lấy và bảo vệ chính quyền ấy”. “Khơng nên nói cơng nơng liên hiệp và lập chính quyền
Xơ viết mà phải nói tồn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hoà”.
“Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập chính phủ nhân dân của Việt
Nam Dân chủ Cộng hồ... Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra".
Từ mơ hình nhà nước cơng nơng binh chuyển sang mơ hình nhà nước đại biểu
cho khối đồn kết dân tộc là một quyết định sáng suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh được
nét đặc thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp với sự thay đổi chiến lược và sách lược của
cách mạng Việt Nam.
Khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Quốc
dân đại hội họp tại Tân trào (16 và 17-8-1945) đã cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng (tức
Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Cách mạng tháng Tám 1945 thành
10
BDHSG Lịch sử
công. Ngày 2-9-1945, Lễ Độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình.
Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc
Tun ngơn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 là thắng lợi của đường lối giải phóng
- Ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Trung ương
lần thứ VIII (10/5/1941) và thành lập Mặt trận Việt Minh (19/5/1941), trực tiếp lãnh
đạo cuộc vận động cho Cách mạng tháng Tám.
- Ngày 22/12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân.
- Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Pác Bó (Cao Bằng) về Tuyên Quang, xây dựng
Tân Trào thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước.
- Ngày 4/6/1945, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc.
- Ngày 16 đến 17 tháng 8/1945, Hồ Chí Minh triệu tập Đại hội quốc dân ở Tân
Trào và được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Dân Tộc Giải Phóng Việt Nam.
- Ngày 25/8/1945, Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội.
- Ngày 28/8/1945, Hồ Chí Minh cải tổ Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam thành
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong những ngày này, Hồ Chí
Minh soạn thảo bản Tun ngơn độc lập.
- Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc Tun ngơn độc lập khai sinh nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa.
Câu 3: (2 điểm).
Nêu vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5 - 1941).
- Sau hơn 30 năm bôn ba ở hải ngoại, ngày 28 - 1 - 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
trở về nước, cùng với Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người vận động
quần chúng các dân tộc ở Cao Bằng tham gia cách mạng, mở nhiều khóa huấn luyện
chính trị và quân sự cho các bộ và nhân dân; dịch và viết sách về quân sự, chính trị để
làm tài liệu học tập và tuyên truyền; chuẩn bị tiến tới Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Đông Dương.
12
- Người tổ chức và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở
- Cùng với Trung ương Đảng đánh giá chính xác thời cơ, chớp đúng thời cơ, kiên
quyết phát động và lãnh đạo toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng
lợi; lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2 - 9 - 1945).
Câu 5:
Chứng minh sự lãnh đạo kịp thời và sáng tạo của Đảng Cộng sản Đơng
Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng Tám (1945).
a) Xác định thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945:
- Đến đầu tháng 8/1945, sau khi trải qua một thời gian trực tiếp chuẩn bị chu đáo
về tất cả các mặt từ 1939 - 1945, những điều kiện chủ quan của một cuộc tổng khởi
nghĩa giành chính quyền đã chín muồi.
- Cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển đến đỉnh cao, chiến tranh du kích kết
hợp khởi nghĩa từng phần và đấu tranh chính trị diễn ra sơi nổi ở nơng thơn và thành thị.
Tháng 8/1945 khơng khí cách mạng đã tràn ngập trong cả nước,quân chúng nhân dân sôi
sục chuẩn bị khởi nghĩa, và sẵn sàng đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi có
lệnh của Đảng.
- Trưa 15/8/1945, Nhật hồng tuyên bố đầu hàng phe Đồng minh. Điều kiện khách
quan cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Quân đội Nhật ở Đơng Dương rệu rã. Chính phủ thân
Nhật Trần Trọng Kim hoang mang, tê liệt. Lực lượng trung gian đã ngả hẳn về phía cách
mạng. Những sự kiện trên làm cho những điều kiện (thời cơ) của cuộc Tổng khởi nghĩa
chín muồi trong toàn quốc.
b. Chỉ đạo kịp thời để giành thắng lợi:
- Ngay từ ngày 13/8/1945, khi được những thông tin về việc Nhật sắp đầu hàng,
Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc.
23 giờ cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa tồn quốc ra “Qn lệnh số 1”, chính thức phát
động Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
- Tiếp đó, ngày 14 và 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã thơng qua kế
hoạch lãnh đạo tồn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Từ ngày 16 đến 17/8/1945,
Quốc dân Đại hội được triệu tập tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của
Đảng, thơng qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng