SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ
---���---
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Rèn luyện kĩ năng cảm nhận một đoạn trích
văn xi qua truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi)
Người thực hiện: Cao Thị Phương Lan
Môn: Ngữ văn - Mã môn: 02.51
Trường THPT Trần Phú
1
1
Vĩnh Phúc, năm 2020
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Rèn luyện kĩ năng cảm nhận một đoạn trích
văn xi qua truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi)
Người thực hiện: Cao Thị Phương Lan
Môn: Ngữ văn - Mã môn: 02.51
Trường THPT Trần Phú
2
2
7
VI. Những thông tin cần được bảo mật
VII. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
VIII. Đánh giá lợi ích thu được
IX. Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc
áp dụng sáng kiến lần đầu
X. Kết luận và kiến nghị
27
27
28
32
8
32
3
3
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
I. Lời giới thiệu
1. Lí do chọn đề tài
-Trước hết do những thay đổi của kì thi THPT QG: Đổi mới thi là bước
quan trọng trong đổi mới giáo dục. Song những thay đổi gần đây của Bộ trong
việc tổ chức thi THPT quốc gia ln ln có sự đổi mới trên nhiều phương diện
từ hình thức thi, cách thức ra đề thi, thời gian thi,… Trong đó, sự điều chỉnh
II. Tên sáng kiến
Rèn luyện kĩ năng cảm nhận một đoạn trích văn xi qua truyện ngắn
Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi)
III. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Thuộc lĩnh vực giáo dục, bộ môn Ngữ văn 12.
IV. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Bắt đầu từ tháng 1 năm học 2017 - 2018 đến tháng 1 năm 2020.
V. Mô tả bản chất của sáng kiến
1. Về nội dung của sáng kiến
1.1. Xác định mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp và giới hạn đề
tài
1.1.1. Mục đích nghiên cứu
- Hướng dẫn học sinh cách thức rèn luyện dạng đề cảm nhận một đoạn trích
văn xi qua truyện ngắn Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi).
- Cung cấp thêm cho các đồng nghiệp, đặc biệt các em học sinh cùng những
người quan tâm những dạng đề thi cảm nhận một đoạn trích văn xi trong tác
phẩm Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi) và các bài đọc - hiểu văn bản truyện ngắn và
bài làm văn phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự nói chung.
1.1.2. Đối tượng nghiên cứu
- Tác phẩm Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi).
- Các dạng bài tập cảm nhận một đoạn trích văn xi.
1.1.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp khảo sát, điều tra
- Phương pháp đọc sáng tạo
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
1.1.4. Giới hạn đề tài
- Từ mục tiêu nghiên cứu tôi đã lựa chọn tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của
Tơ Hồi. Đây là tác phẩm tiêu biểu và có vị trí quan trọng trong chương trình
một lát cắt của cuộc sống, qua đó khám phá, phát hiện, giải mã cuộc sống.
- Dung lượng ngắn: Không đơn thuần là chữ nghĩa ngắn mà cái chính là cách
nắm bắt, thể hiện cuộc sống theo đặc trưng truyện ngắn: nhà văn nắm lấy một
hiện tượng, một nét bản chất của cuộc sống, thể hiện nó một cách cơ đọng, đầy
tính nghệ thuật và mang ấn tượng sâu đậm.
- Tình huống: Vì truyện ngắn khơng có sức mạnh như tiểu thuyết hay truyện dài
nên nhà văn phải tìm một lát cắt của cuộc sống. Lát cắt đó là tình huống truyện.
Tình huống truyện hồn cảnh xảy cụ thể xảy ra câu chuyện, được làm nên bởi
một sự kiện mà ở đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và chủ đề của truyện, tư
tưởng của tác giả cũng được thể hiện rõ nét nhất. Nhà văn Nguyễn Minh Châu
đã gọi tình huống là cái khoảnh khắc chứa đựng cả đời người.
- Có 3 loại tình huống:
+ Tình huống hành động.
+ Tình huống tâm trạng.
+ Tình huống nhận thức.
Các tình huống kể trên chỉ là sự phân chia tương đối. Một truyện ngắn có thể có
một hoặc nhiều tình huống.
- Truyện ngắn cịn có đặc trưng là chất thơ.
- Nhân vật và đặc điểm của nhân vật trong truyện ngắn: Trong truyện ngắn
thường ít nhân vật. Hình tượng nhân vật trong truyện hiện lên dần dần qua các
chi tiết cụ thể trong suốt quá trình đọc tác phẩm. Nhìn chung đặc điểm tính cách
của nhân vật được thể hiện qua các khía cạnh hình dáng bên ngồi, gương mặt,
dáng dấp; lời nói, cách nói, cử chỉ; thế giới nội tâm; quan hệ của nhân vật với
các nhân vật khác; cảnh bên ngồi, mơi trường sống.
6
6
1.2.3. Ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng cảm nhận một đoạn trích văn xi
qua Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi).
tưởng của nhà văn. Bản thân tác giả với những tài năng nổi trội, trái tim giàu
tình thương, những xúc cảm,… sẽ ảnh hưởng đến tư tưởng của tác giả và thai
nghén, hình thành trong tác phẩm.
- Nắm vững những kiến thức về tác phẩm:
+ Hoàn cảnh sáng tác
+ Xuất xứ
+ Giai đoạn văn học
- Đọc diễn cảm.
- Nắm khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật
- Xác định được các đoạn trích tiêu biểu, trọng tâm.
- Tìm hiểu nhân vật (lai lịch, biến cố, số phận, vẻ đẹp,…)
7
7
* Kĩ năng viết bài nghị luận về đoạn trích văn xuôi
- Kết cấu: 3 phần (Mở bài, thân bài với những luận điểm nào? Kết bài,..)
- Mở bài:
+ Giới thiệu tác giả/tác phẩm.
+ Nêu vấn đề cần nghị luận: Giới thiệu đoạn trích.
- Thân bài:
Bước 1. Khái quát tác phẩm trước đoạn trích đó (phân tích qua khoảng 7-8
dịng). Nếu là đoạn đầu thì bỏ qua.
(Ví dụ 1: cảm nhận đoạn văn về cảnh vượt thác trong Người lái đị Sơng Đà thì
phải khái qt, giới thiệu đoạn trước đó với nội dung: sơng Đà hung bạo, hùng
vĩ, tính cách nham hiểm, độc dữ của loài thuỷ quái). Sau đó chúng ta nêu vị trí
đoạn trích cũng như nêu nội dung đoạn văn ta sắp cảm nhận (nêu khái qt nhất
- khoảng 3 - 4 dịng)
(Ví dụ 2: Diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xuân thì phải khái quát về
cuộc đời Mị, sau đó mới dẫn vào đêm tình mùa xuân Mị hồi sinh sức sống như
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
- Tơ Hồi là nhà văn lớn, có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại.
- Là nhà văn có quan niệm văn học tiến bộ và độc đáo, thậm chí quyết liệt. Theo
ơng: “Viết văn là một q trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì
khơng tầm thường, cho dù phải đập vỡ thần tượng trong lịng bạn đọc”.
- Là nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về con người, phong tục tập
quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta.
- Văn Tơ Hồi ln hấp dẫn người đọc bởi vốn sống và vốn từ vựng giàu có.
2. Tác phẩm
a.Hồn cảnh sáng tác
- Cuối năm 1952, Tơ Hồi có chuyến đi thực tế cùng bộ đợi trong chiến dịch
Tây Bắc. Ông quyết định đi sâu vào khu du kích của đồng bào các dân tộc thiểu
số trên vùng núi cao sau khi tìm hiểu về tình hình. Chuyến đi kéo dài 8 tháng đã
để lại những ấn tượng sâu sắc và tình cảm tốt đẹp cho nhà văn. Nhà văn đã từng
tâm sự: “Cái kết quả lớn nhất và trước nhất của chuyến đi 8 tháng ấy là đất
nước và con người miền Tây đã để thương, để nhớ cho tôi nhiều q, tơi khơng
thê bao giờ qn”.
=> Hình ảnh Tây Bắc đau thương và dũng cảm đã ám ảnh và thai nghén cho tơ
Hồi viết “Vợ chồng A Phủ”.
b. Xuất xứ: Thuộc tập “Truyện Tây Bắc”.
c. Vị trí: Là tác phẩm đặc sắc nhất của tập “Truyện Tây Bắc” và đạt giải Nhất
hội Văn nghệ Việt Nam năm 1954 - 1955.
d. Bố cục: Tác phẩm chia làm 2 phần:
+ Phần 1: Viết về cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài.
+ Phần 2: Mị và A Phủ trốn đến Phiềng Sa, nên duyên vợ chồng, thao A Châu
làm cách mạng.
=> Đoạn trích thuộc phần 1 của tác phẩm.
Tơ Hồi
Đề 1: Mị khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra đã có những suy nghĩ khác nhau.
Những suy nghĩ ấy được thể hiện qua hai đoạn trích sau:
Lần thứ nhất : “Mỗi ngày Mị càng khơng nói lùi lũi như con rùa chui trong xó
cửa. Ở cái buồng Mị nằm kín mít, có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn
tay. Lúc nào Mị trông ra cũng thấy trăng trắng không biết sương hay nắng. Mị
nghĩ rằng cứ ngồi trong cái lỗ vuông ấy bao giờ đến chết thì thơi.”
Lần thứ 2: “Bấy giờ Mị ngồi xuống giường trông ra cái ô của mờ mờ trăng
trắng ấy. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại trong lòng đột nhiên vui sướng
như những đêm Tết ngày trước. Mị còn trẻ, Mị vẫn trẻ lắm, Mị muốn đi chơi…
ứa ra.”
Phân tích diễn biến tâm trạng của Mị trong hai lần miêu tả trên. Từ đó,
anh/chị nhận xét về sức sống tiềm tàng của Mị.
A.Mở bài
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nhìn lại tồn bộ cuộc đời văn học của nhà văn Tơ
Hồi, Giáo sư Phong Lê khẳng định: “Ông thuộc thế hệ vàng của văn chương
hiện đại, làm nên mùa gặt ngoạn mục nhất của văn học thế kỉ 20”. Thành quả
của mùa vàng đó phải kể đến “Vợ chồng A Phủ”.
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Nhân vật Mị là nhân vật tiêu biểu, nhân vật trung
tâm của tác phẩm, trở thành biểu tượng đẹp của người phụ nữ miền núi bị áp
bức, bất cơng nhưng vẫn có sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Sức sống ấy đã được
thể hiện ở nhiều hoàn cảnh khác nhau với những chi tiết đặc sắc. Một trong
những chi tiết đó là hình ảnh căn buồng của Mị ở nhà thống lí Pá Tra với ơ của
sổ trăng trắng. Tại căn buồng này, Mị đã thấy những thay đổi và chuyển biến
trong nhận thức: Nếu lần đầu tiên Mị bế tắc: “Mỗi ngày…thì thơi” thì lần thứ
hai đã thay đổi: “Bấy giờ…muốn đi chơi.”
B.Thân bài
1. Khái quát chung
Nhân vật Mị được nhà văn Tơ Hồi giới thiệu một cách ấn tượng. Mị xuất
hiện ngay ở đầu tác phẩm qua giọng kể chầm chậm, đượm buồn của nhà văn.
họa thật rõ nét: Mị sống câm lặng như đá núi “khơng nói”, lầm lụi, chậm chạp
trơ lì như “con rùa” quẩn quanh nơi xó cửa. Nếu ở trên, Mị có lúc tưởng mình
là “con trâu con ngựa” - nhưng hình ảnh đó mới chỉ gợi nỗi khổ cực vì lao động
vất vả thì hình ảnh “con rùa” có sức ám ảnh mang ý nghĩa về thân phận bị đè
nén, bị bỏ quên. Sự vô cảm ấy ngày càng nguy hiểm hơn, tăng dần qua cụm từ
mỗi ngày.
- Hình ảnh căn buồng: Để miêu tả thêm sự tù túng, bế tắccủa cuộc đời Mị, Tơ
Hồi đã khắc sâu ấn tượng qua hình ảnh ơ cửa sổ kín mít là kín như bưng, kín
khơng có ánh sáng mà chỉ có “một lỗ vng chỉ bằng bàn tay” q nhỏ bé,
trơng ra ngồi khơng biết là sương hay là nắng. Ở miền núi, sương xuất hiện
vào buổi sáng và chiều, và thường thấy nắng ở buổi trưa mà Mị không biết là
sương hay nắng có nghĩa là khơng xác định được thời gian trôi chảy, không xác
định được cuộc sống ở bên ngồi. Mị mất hết ý niệm về khơng gian, thời gian,
cuộc sống ấy khơng có sắc màu, âm thanh, khơng có cả ngắn dài thời gian,
khơng chia biệt đêm ngày.Cụm từ “lúc nào trông ra cũng chỉ thấy” diễn tả thời
gian dài với cuộc sống không thay đổi, mn đời như thế, từ lúc làm dâu nhà
thống lí cuộc đời Mị vẫn diễn ra mịt mờ. Hình ảnh căn buồng thật giàu sức gợi,
khiến người ta liên tưởng đến nhà tù, một thứ ngục thất đang giam cầm tuổi
xn của Mị. Đó là một khơng gian nhỏ bé, trơ trọi đối lập với cái mênh mông,
11
11
rộng lớn của đất trời Tây Bắc. Cái ngột ngạt, tù túng trong căn buồng Mị nằm
đối lập với một thế giới bên ngồi lồng lộng của mây trời, gió núi, của hương
hoa rừng Tây Bắc, nó đối lập với cái giàu có, tấp nập của nhà thống Lí Pá Tra.
Nó khơng phải là căn buồng của cơ con dâu nhà giàu có nhiều tiền nhiều thuốc
phiện nhất vùng mà đó là chỗ ở của con ở, thậm chí khơng bằng con ở. Căn
buồng ấy giống như một miền đời bị quên lãng.
- Ý nghĩ của Mị: Mị từng muốn chết mà khơng được, vì cơ vẫn cịn đó món nợ
Mị uống rượu và có sự đổi thay trong suy nghĩ.
- Cũng tại căn buồng quen thuộc Mị năm, tuy nhiên ý nghĩ lần này của Mị đã
thay đổi. Mị thấy niềm vui trở lại, có ý thức được về tuổi trẻ, về sức sống, giá trị
của bản thân. Sức sống của Mị đã hồi sinh, vào thời khắc đêm tình mùa xuân ở
Hồng Ngài.
- Mùa xuân ở Hồng Ngài, thiên nhiên năm ấy có sức làm say lịng nguời: “Gió
12
12
thổi vào cỏ gianh vàng ửng”, “Gió và rét rất dữ dội”. Sự xuất hiện của những
chiếc váy ở nhiều làng Mèo đỏ:“Trong các làng Mèo đỏ, những chiếc váy hoa
đã đem ra phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ” gợi một thanh xuân tươi
trẻ. Cuộc sống tràn đầy màu sắc, âm thanh: “Đám trẻ đợi Tết chơi quay, cười
ầm trên sân chơi trước nhà, đặc biệt là tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha từ xa vọng
lại.
* Phân tích diễn biến tâm trạng Mị
- Tiếng sáo có một vị trí quan trọng trong tâm hồn Mị và chắc chắn tiếng sáo đã
lưu giữ những kỉ nệm đẹp đẽ nhất của tuổi thanh xuân nên nó mới có khả năng
đánh thức Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ. Ngồi nhẩm thầm bài hát của người
đang thổi, Mị bắt đầu phản kháng:“Cứ uống từng bát”, như nuốt hờn, nuốt tủi
quên đi hiện tại phũ phàng hướng về qua khứ tươi đẹp.
- Mị say rượu như một người mộng du hồn tồn khơng ý thức được hành động
của mình. Tâm trạng Mị hồn tồn thay đổi: “Bấy giờ Mị ngồi xuống giường
trông ra cái ô của mờ mờ trăng trắng ấy. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại
trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị còn trẻ, Mị
vẫn trẻ lắm, Mị muốn đi chơi.”
+ Hành động quen thuộc: Không biết bao nhiêu lần mị đã hành động một cách
vô thức như vậy nhưng trong tác phẩm đây là lần thứ hai Tơ Hồi nhắc đến hành
động của Mị ngồi xuống giường trông ra cái ô của mờ mờ trăng trắng.
yêu và hạnh phúc.
+ Mị nhận thức được sự vơ lí trong cuộc hơn nhân của mình:“Bao nhiêu người
có vợ cịn đi chơi ngày Tết huống chi Mị với A Sử chẳng có lòng với nhau mà
vẫn phải ở với nhau”.
+ Mị đã phản ứng dữ dội. “Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho
chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra” .Thái
độ của Mị dứt khoát mạnh mẽ được thể hiện qua các giả thiết, giọng điệu mạnh,
cách nói phủ định “nếu có…”, “lúc này…”, “ăn cho chết ngay chứ không buồn
nhớ”. Hai từ “chết ngay” thể hiện sự phản kháng mãnh liệt, không chần chừ,
không do dự, không đắn đo. Mị muốn chết giống như lần thứ nhất Mị về quỳ lạy
cha về ăn lá ngón tự tử. Đó là thái độ chối bỏ thực tại, khơng cam tâm làm con
trâu, con ngựa chỉ quen với cuộc sống nô lệ “biết nhai cỏ”, chỉ quen với thân
phận phụ thuộc “đổi tàu ngựa”. Mị muốn chét ngay để không phải nhớ lại quá
khứ với những ước mơ, khát khao của mình. Mị đã từ cõi quên đã trở về cõi
nhớ, chỉ có điều “khơng buồn nhớ” phải chăng vì Mị thấy mình khổ quá, thấy
những tháng ngày dằng dặc đã qua là một giấc mơ hãi hùng bấy lâu nay? Nhớ
lại chỉ thấy nước mắt ứa ra. Giọt nước mắt một lần nữa lại sơi lên nóng bỏng
trên khn mặt Mị tưởng như dịng suối đã cạn khơ bấy lâu nay. Nước mắt của
nuối tiếc quá khứ, của đắng cay trước thực tại và hãi hùng nghĩ đến tương lai.
=> Tâm trạng Mị lúc này đã có sự thay đổi. Từ một con người tê liệt về ý thức
phản kháng, Mị đã bắt đầu hồi sinh, từ đó chứng tỏ sức sống tiềm tàng trong Mị
vô cùng mãnh liệt.
3. Nhận xét
a. So sánh đoạn 1 với đoạn 2
- Khắc họa tâm trạng Mị trong tình huống Mị làm con dâu gạt nợ ở nhà thống lí
Pá Tra. Những suy nghĩ của Mị đều diễn ra ở căn buồng kín mít, tối tăm thiếu
ánh sáng và sự sống. Tuy nhiên, ở mỗi thời điểm trong Mị có những suy nghĩ
khác nhau. Ở đoạn trích thứ nhất cho thấy suy nghĩ của nhân vật hồn tồn tuyệt
vọng, bng xi sự sống, phó mặc cho sóng gió cuộc đời xơ đẩy, định đoạt.
Cịn ở đoạn trích thứ hai, Tơ Hồi đã cho ta thấy Mị từ một con người âm thầm,
Tơ Hồi đã thể hiện được tư tưởng nhân đạo sức sống của mình: đó là lịng cảm
thơng đối với những số phận bất hạnh, đó chính là nhân vật Mị với thân phận
con sâu cái kiến, thân phận con tằm rút ruột nhả tơ, bị đè nén làm thui chột sức
sống. Tuy nhiên trong hồn cảnh đó, nhà văn phát hiện, nâng niu và ngợi ca vẻ
đẹp nhân vật đó là sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị: ý thức được giá trị của
bản thân, khát khao cuộc sống lứa đơi và đặc biệt Tơ Hồi đã đem đến một tiếng
nói nhân đạo mới mẻ đó là sự vận động của cốt truyện từ ánh sáng ra bóng tối,
từ nỗi buồn đến niềm vui cũng như Chế Lan Viên đã từng nói: “Từ thung lũng
đau thương đến với cánh đồng vui”. Đồng thời Tơ Hồi tố cáo xã hội thực dân
nửa phong kiến cũng với những thế lực thần quyền, pháp quyền, gia quyền đã
đẩy con người vào vịng lao khổ. Từ đó gióng lên một hồi chng địi quyền
sống chính đáng của con người.
* Lí giải: Sở dĩ đoạn trích nói riêng và tác phẩm Vợ chồng A Phủ nói chung
thấm đẫm tư tưởng nhân đạo của nhà văn Tơ Hồi bởi lẽ, trước hết Tơ Hồi là
nhà văn nhân đạo chủ nghĩa, ơng đã kế thừa tinh thần nhân đạo thấm nhuần
trong dòng chảy của văn học dân tộc. Tơ Hồi là thuộc thế hệ những nhà văn
trưởng thành trong Cách mạng vì thế nhà văn sớm được giác ngộ Cách mạng,
thấy được tương lai của con người và tiền đồ của dân tộc như nhà thơ Chế Lan
Viên đã chia sẻ: Ánh sáng đã soi đường cho tôi và phù sa đã bồi đắp tâm hồn
tôi. Tác phẩm thuộc giai đoạn văn học 1945 - 1975 với cảm hứng lãng mạn tràn
đầy nên sự vận động của cuộc đời nhân vật và cốt truyện là tất yếu.
* Đánh giá: Nhà văn Tơ Hồi góp thêm cho văn học dân tộc một tiếng nói nhân
đạo vừa sâu sắc vừa mới mẻ. Nếu văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945 nội
dung nhân đạo chỉ dừng lại ở sự cảm thông, ý nghĩa tố cáo, sự bênh vực, phát
hiện, nâng niu và trân trọng vẻ đẹp của con người thì văn học sau 1945 - 1975
cịn mở ra cho nhân vật của mình một con đường sống mà tiêu biểu đó là sức
sống tiềm tàng của nhân vật Mị.
15
15
sức sống ấy được ví như hạt mầm nằm sâu trong lòng đất chỉ chờ giọt mưa xuân
là tách vỏ, nảy mầm non tươi xanh. Giọt mưa xuân ấy chính là dịp tết ở Hồng
Ngài. Mị không chỉ thay đổi trong tâm trạng: bồi hồi, nhớ về ngày trước, thấy
mình cịn trẻ, muốn đi chơi mà Mị còn nổi loạn trong hành động:
* Cảm nhận đoạn trích:
- Mị phản kháng trước A Sử: “Bây giờ Mị cũng khơng nói” (Đã học)
- Mị thức tỉnh. “Mị đến góc nhà…cho sáng”: Mị thắp đèn là thắp lên ánh sáng
để xua tan bóng tối đang bao phủ căn buồng mình, đem đến một nguồn ấm
nóng. Tuy nhiên, ánh sáng đó khơng chỉ dừng lại ở ánh sáng vật lí mà nó cịn là
biểu tượng cho sự sống, Mị thắp lên ngọn đèn là thắp lên ánh sáng cho cuộc đời
mình. Có thể nói hành động Mị thắp đèn là một bước chuyển quan trọng đánh
dấu sự thức tỉnh trong tâm hồn Mị, nhân vật đang thắp lên ánh sáng của tin của
hi vọng. Đúng như dân gian đã từng nói: “Sống có dầu đèn, chết có kèn trống”.
16
16
Ánh sáng ở đây chính là biểu tượng cho sự hồi sinh, là con đường Mị đã lựa
chọn. Đó là tín hiệu của sự đổi đời, sự vận động trong tư tưởng của nhân vật. Mị
đã không chấp nhận cuộc sống tăm tối, tù túng, ngột ngạt, bế tắc ở cái căn buồng
kín mít kia. Hình ảnh này khiến cho ta liên tưởng đến “hai hào dầu” trong
truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, khi Tràng có vợ, anh đã quyết định táo bạo
mua “hai hào dầu” thắp lên cho sáng giữa lúc ánh sáng của xóm ngụ cư đã tắt
lịm từ chiều rồi. Ánh sáng ấy chính là hạnh phúc dù rất mong manh bên bờ vực
thẳm của cái chết nhưng nó khẳng định hạnh phúc phải được thơng báo và con
người có quyền hi vọng. Vậy, hành động của Mị chứng tỏ sự phản kháng mạnh
mẽ, quyết liệt chống lại cuộc sống tù ngục nhà thống lí.
- Mị ý thức được giá trị của mình và khao khát về hạnh phúc lứa đôi, về cuộc
sống tự do:
+ Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo: Tiếng sáo vấn vít lấy tâm hồn Mị, trở đi
17
17
khơng cịn sức phản kháng giờ đay khát vọng sống ấy đã trỗi dậy. Tâm hồn Mị
đã được hồi sinh trong đêm tình mùa xn.
III. Nhận xét
- Hai đoạn trích thể hiện diễn biến tâm trạng Mị ở nhà thống lí Pá Tra, tuy nhiên
có sự khác nhau ở mỗi đoạn trích. Đoạn trích thứ nhất là sự bằng lịng, chấp
nhận số phận cho thấy Mị bị thui chột về ý thức phản kháng, trở thành một công
cụ lao động, ngày càng chết dần chết mịn. Cịn ở đoạn trích thứ hai, Tơ Hồi đã
diễn tả sự vận động trong tâm lí của nhân vật, ở Mị đã tiềm tàng một sức sống
mãnh liệt, không chỉ thể hiện qua suy nghĩ mà cịn thể hiện ở hành động dứt
khốt, kiên quyết. Cả hai đoạn trích đều xây dựng tình huống độc đáo để làm nổi
bật tính cách nhận vật Mị và chủ đề của tác phẩm. Cả hai đoạn trích đều lấy bối
cảnh khơng gian ở nhà thống lí, tuy nhiên ở đoạn trích thứ hai thời gian được
nhắc đến cụ thể hơn đó là đêm tình mùa xn. Ở đoạn trích thứ nhất, nhà văn sử
dụng bút pháp hiện thực, hình ảnh biểu tượng là căn buồng thì ở đoạn trích thứ
hai sử dụng bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, biện pháp tu từ ẩn dụ (ánh
sáng - cuộc sống tự do, sức sống), đảo ngữ: “rập rờn tiếng sáo”. Nhịp điệu câu
văn cũng có sự khác nhau để diễn tả kiếp sống lầm than đoạn trích thứ nhất đã
sử dụng câu văn dài cịn đoạn thứ hai, câu văn ngắn diễn tả khơng khí dồn dập,
náo nức, khao khát đi chơi của Mị.
- Nhận xét về Mị (Tham khảo đề 1, nhận xét khác ở chỗ suy nghĩ đã biến thành
hành động).
- Nhận xét về tác phẩm và tác giả Tơ Hồi (Tham khảo đề 1)
- Lí giải (Tham khảo đề 1).
C. Kết bài: Khái quát lại vấn đề cần nghị luận.
Đề 3:Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tơ Hồi, hình ảnh
chiếc lá ngón ba lần xuất hiện trong tác phẩm.
* Phân tích chi tiết:
- Những ngày ở nhà thống lí Pá Tra “Có mấy tháng rịng, đêm nào Mị cũng
khóc”.Thời gian đêm tối là lúc con người được nghỉ ngơi sau một ngày làm việc
vất vả, lẽ ra được hưởng cuộc sống êm đềm, tuy nhiên Mị đã khóc “mấy tháng
rịng”. Đêm tối đã trở thành một tín hiệu nghệ thuật trong văn học bởi lúc đó
con người đối diện với lịng mình và nhận ra cuộc sống bi kịch của bản thân.
Nỗi lịng đó, ta đã từng gặp trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:
“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
Giật mình, nình lại thương mình xót xa
Khi xưa phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”
Đó là giọt nước mắt âm thầm, lặng lẽ, tức tưởi, tủi phận. Thời gian đau khổ kéo
dài “có đến hàng mấy tháng” và dường như nỗi đau khơn cùng khiến Mị phải
tìm đến lá ngón. “Một hơm, Mị trốn về nhà, hai trịng mắt cịn đỏ hoe, trơng
thấy bố, Mị quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở”.
- Hai tròng mắt đỏ hoe gợi biết bao đau đớn, dường như sau mấy tháng rịng,
đêm nào Mị cũng khóc đã dâng lên đến đỉnh điểm, quá sức chịu đựng của Mị.
- Mị đã phải quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở giống như một hành động xin
lỗi, cũng có thể đó là lời tạ từ bởi Mị quyết định tìm đến “lá ngón”.
- Cha Mị biết con có ý định tự tử: “Mày về lạy … con ơi!”. Trước tình thế đó,
“Mị chỉ biết … áo”.
* Ý nghĩa của hành động:
- Phản ánh một hiện thực: Hành động tìm đến lá ngón của Mị thể hiện tinh thần
phản kháng mạnh mẽ, Mị đã không chấp nhận kiếp sống vô nghĩa ở nhà thống lí
Pá Tra: Cuộc sống khơng tình u, khơng có ý nghĩa,… Tuy nhiên, Mị muốn ăn
lá ngón để tự kết liễu đời mình nhưng khơng đủ khả năng thốt khỏi xiềng gơng
vơ hình của nhà thống lí đó là món nợ truyền kiếp. Mị chết rời, mỗi năm cha mị
vẫn phải trả lãi một nương ngô. Chi tiết ấy đã phản ánh một hiện thực tàn nhẫn
về số phận của người lao động vùng cao Tây Bắc: “Trở đi mắc núi, trở về mắc
sông”. Họ đúng là thân phận con sâu cái kiến trước sự đọa đày của giai cấp
+ Phơi bày hiện thực khốc liệt của vùng cao Tây Bắc. Giai cấp thống trị cùng
với những hủ tục lạc hậu đã đè nén sự phản kháng sức sống của Mị từ mạnh mẽ,
khao khát được sống đến mức tê liệt, khơng cịn ý thức, khơng có hành động
phản kháng mà an phận thủ thường.
+“Mị khơng cịn tưởng đến việc ăn lá ngón” bởi tâm hồn cơ dường như đã chết.
Tơ Hồi thương xót cho số phận người lao động cùng cực không lối thốt phải
chấp nhận cuộc sống.
3. Đối tượng 3
* Hồn cảnh xuất hiện chi tiết:
Ai đó đã từng cho rằng nếu có một hồn cảnh khiến cho người ta bị tê liệt
thì chắc chắn sẽ xuất hiện một hồn cảnh khiến cho con người ta hồi sinh. Ý
kiến đó thật đúng với nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ”. Mị có sức sống
tiềm tàng mãnh liệt ngỡ như bị thui chột khơ héo đã bừng thức trong đêm tình
mùa xn ở Hồng Ngài. Mùa xuân năm ấy có sức làm say lịng người lắm: gió
rét dữ dội khơng làm giảm đi khơng khí tưng bừng đón Tết ở vùng cao này, trái
tim Mị như bầu nhựa đặc quánh đã tan chảy khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình.
Tiếng sáo đã lay thức Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ, Mị biết so sánh cuộc sống
hiện tại với một thanh xuân trong quá khứ, hạnh phúc đẹp đẽ và ấm êm. Hơn
nữa, Mị nhận thức được sự vơ lí trong nhận thức của mình:“Bao … với nhau”.
Mị ý thức được mình cịn trẻ, trái tim mình lại sơi nổi say mê như ngày nào:
20
20
“Mị muốn đi chơi”. Mị đã phản ứng dữ dội. “Nếu … ứa ra.”
* Phân tích chi tiết:
Hình ảnh lá ngón xuất hiện trong một câu văn ngắn, thái độ của Mị dứt
khoát mạnh mẽ được thể hiện qua các giả thiết, giọng điệu mạnh, cách nói phủ
định “nếu có…”, “lúc này…”, “ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ”. Hai từ
“chết ngay” thể hiện sự phản kháng mãnh liệt, không chần chừ, không do dự,
đó, nhà văn phát hiện, nâng niu, trân trọng và ngợi ca vẻ đẹp nhân vật Mị tiêu
biểu cho vẻ đẹp của người lao động Tây Bắc trước giải phóng với sức sống tiềm
tàng mãnh liệt. Tơ Hồi đã đem đến “Vợ chồng A Phủ” một nhân đạo mới mẻ:
Vẻ đẹp trong cốt truyện, trong đời sống nội tâm nhân vật: Mị từng khao khát
một cuộc sống tự do, vì thế muốn ăn lá ngón tự tử, khơng muốn chấp nhận cuộc
sống nhà thống lí: lá ngón xuất hiện lần thứ hai là sự cam chịu số phận, lá ngón
xuất hiện lần thứ nhất và lần thứ ba thể hiện sự phản ứng dữ dội của Mị cho thấy
21
21
cuộc đời Mị đã đi từ bóng tối hướng đến ánh sáng, từ buồn sang vui, từ chấp
nhận cuộc sống nơ lệ đến khát vọng giải phóng như lời nhà thơ Chế Lan Viên đã
từng diễn tả:“Đi từ thung lũng đau thương đến với cánh đồng vui.”
- Lí giải: Những chi tiết trên đã góp phần làm nên giá trị nhân đạo sâu sắc và
mới mẻ. Sở dĩ có được điều đó bởi TH là nhà văn nhân đạo chủ nghĩa, ông đã
kế thừa tinh thần nhân đạo thấm nhuần trong dòng chảy của văn học dân tộc, am
hiểu phong tục tập quán vùng cao Tây Bắc. TH là thuộc thế hệ những nhà văn
trưởng thành trong Cách mạng vì thế nhà văn sớm được giác ngộ Cách mạng,
thấy được tương lai của con người và tiền đồ của dân tộc như nhà thơ Chế Lan
Viên đã chia sẻ: “Ánh sáng đã soi đường cho tôi và phù sa đã bồi đắp tâm hồn
tôi”. Tác phẩm thuộc giai đoạn văn học 1945 - 1975 với cảm hứng lãng mạn
tràn đầy nên sự vận động của cuộc đời nhân vật và cốt truyện là tất yếu như
chính nhà văn đã từng chia sẻ “Nhưng điều kì diệu là dẫu trong cùng cực đến
thế, mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt,
đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt”.
( Nhà văn Nguyễn Khải đã khẳng định:“Trên đời này không có con đường
cùng, chỉ có những ranh giới. Điều cốt yếu là phải có sức mạnh để vượt qua
những ranh giới ấy”)
C. Kết bài
- Vị trí của tiếng sáo: Tiếng sáo có một vị trí quan trọng trong đời sống của
người vùng cao Tây Bắc nói chung và cuộc đời Mị nói riêng. Tiếng sáo gắn bó
với Mị và trở thành những kỉ niệm đẹp đẽ, lưu giữ kí ức thanh xuân về những
tháng ngày tự do mà Mị được sống trong hạnh phúc lứa đôi. Có lẽ vì thế mà
trong tác phẩm, Tơ Hồi đã sáu lần miêu tả tiếng sáo. Tiếng sáo cất lên đã đánh
thức sức sống tiềm tàng của Mị cũng như chi tiết tiếng chim hót ngồi kia vui vẻ
q trong Chí Phèo của Nam Cao đã đánh thức nhân tính, khao khát hồn
lương của nhân vật Chí Phèo vậy.
2. Tiếng sáo xuất hiện trong đoạn trích 1:
- Đó là tiếng sáo lần thứ nhất, nó báo hiệu những đêm tình mùa xuân đang đến.
Trước hết, đây là chi tiết có ý nghĩa tả thực về nét đẹp văn hóa của miền núi cao
Tây Bắc, khiến người ta liên tưởng đến âm thanh quen thuộc, gần gũi của núi
rừng trong những đêm xuân ở Hồng Ngài. Nếu Tây Nguyên có tiếng cồng, tiếng
chiêng âm vang khắp bản làng, rừng núi, nếu miền quê đồng bằng Bắc Bộ có
tiếng trống chèo, tiếng hát giao dun, tiếng đàn bầu thánh thót thì với những
người dân Tây Bắc, họ vốn ít nói, kiệm lời, họ gửi lịng mình vào tiếng khèn,
tiếng sáo, tiếng kèn mơi, thổi lá để trao gửi tâm tình, để mời gọi bạn yêu.
- Tiếng sáo được miêu tả: Tiếng sáo được miêu tả từ xa đến gần, lấp ló ngồi đầu
núi, thậm chí cịn chưa xác định rõ ràng:“Tiếng ai thổi sáo”. Tuy nhiên, tiếng
sáo có khả năng diệu kì đánh thức Mị từ cõi quên trở về cõi nhớ.
- Tâm trạng Mị khi nghe tiếng sáo:
+ Tiếng sáo vọng lại, trái tim Mị vốn dĩ chai sạn bấy lâu nay như bầu nhựa đặc
quánh đang tan chảy, trái tim đã thổn thức nhịp đập như thuở ban đầu biết yêu:
“Thiết tha, bổi hổi”. Trạng thái ấy, Mị đã từng có ở những mùa xuân trước: “Mị
hồi hộp, lặng lẽ” khi nghe tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu. Nay trái tim ấy
lại rung lên những nhịp đập thổn thức. Thiết tha là cảm xúc muốn gắn bó, bịn
rịn, không nỡ rời xa. Khi diễn tả cuộc chia tay ra về giữa người miền xuôi và
người miền ngược. Cảm xúc “bồi hồi” là trạng thái xao xuyến, bâng khuâng cịn
“bổi hổi” là trạng thái nóng bỏng, rạo rực như ca dao đã viết:
“Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
…Ta đi tìm người yêu…”.
- Ý nghĩa:
+ Tiếng sáo mang đến chất thơ, làm dịu mát cuộc sống trăm đắng ngàn cay với
nỗi đời cơ cực của con người nơi đây, khiến mảnh đất Tây Bắc vốn xa lạ, hoang
vu trở nên gần gũi, thơ mộng.
+ Không dừng lại ở ý nghĩa tả thực, chi tiết tiếng sáo góp phần diễn tả vẻ đẹp
tâm hồn Mị trong đêm tình mùa xuân. Tiếng sáo lay thức tâm hồn Mị, khiến
lòng Mị thiết tha, bổi hồi, nhẩm thầm bài hát của người đang thổi và những kí ức
đẹp đẽ nồng nàn của người con gái đã trở về. Để rồi sau đó Mị bừng lên khát
vọng sống, Mị ý thức hiện tại mình vẫn còn trẻ, Mị ý thức về quyền hạnh phúc “
Mị muốn đi chơi”, Mị sửa soạn vào nhà để chuẩn bị đi chơi…
2. Tiếng sáo xuất hiện trong đoạn trích 2:
- Hoàn cảnh xuất hiện chi tiết: Đây cũng là tiếng sáo giống như ở đoạn trích thứ
nhất xuất hiện trong đêm tình mùa xuân. Tuy nhiên, nếu tiếng sáo ở đoạn thứ
nhất xuất hiện lúc đầu là tiếng sáo lần đầu tiên Mị nghe thấy trong đêm tình mùa
xuân sau bao nhiêu năm Mị đã quên. Lúc này Mị đang tự do về thể xác còn tiếng
sáo trong đoạn trích thứ hai khi Mị đang bị A Sử trói.
- Phân tích chi tiết:
+ A Sử - đại diện cho giai cấp thống trị có thể trói Mị về thể xác nhưng không
thể giam hãm tâm hồn Mị. Mặc dù thể xác ở hiện tại nhưng tâm hồn Mị sống về
ngày trước, vẫn vấn vương tiếng sáo. Trong bóng tối, Mị đứng im lặng như
khơng biết mình bị trói, hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi
theo những cuộc chơi, những đám chơi. Nếu căn buồng Mị nằm biểu tượng cho
thứ ngục thất tinh thần giam hãm đời Mị, thì hình tượng tiếng sáo trở thành biểu
tượng đẹp đẽ cho khát vọng tự do, khát vọng sống, khát vọng tình u trong tâm
hồn Mị.
+ Có thể khẳng định sức mạnh tiềm tàng của Mị thật mãnh liệt, bởi lẽ Mị bị trói
24
24
khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra. Tuy nhiên bấy nhiêu năm, bị vùi dập nhưng
ta vẫn thấy vẻ đẹp của sức sống, của niềm tin mãnh liệt trong Mị. Mị vẫn khao
khát được đổi đời, được lựa chọn và nói lên tiếng u đích thực từ trái tim mình:
Em yêu người nào, em bắt pao nào…”
=> Tiếng sáo gọi bạn tình tha thiết khơng chỉ là tiếng sáo vang vọng trong khơng
gian mà cịn tồn tại trong chính tâm hồn Mị. Đó là tiếng sáo của khát vọng, của
sức sống trào dâng.
- Hiện thực đã dập tắt khát vọng sống của Mị: “Mị vùng bước đi nhưng tay chân
đau không cựa được”. Tiếng sáo của những đôi lứa yêu nhau và của cả những
người lỡ duyên đã có sự tác động lớn lao tới tâm hồn Mị. Nó thơi thúc Mị khiến
Mị vùng bước đi để quên đi thực tại đau khổ trước mắt. Tuy nhiên, hiện thực
tàn nhẫn đã đưa Mị trở về thực tại: “Mị vùng bước đi”. Động từ vùng là một
động từ mạnh, diễn tả động thái mạnh mẽ, dứt khoát, hành động đó chỉ có thể có
ở một con người có sức sống mãnh liệt. Câu văn chia làm hai vế, gãy gập bởi từ
25
25