Một số biện pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho
trẻ 3-4 tuổi đạt hiệu quả
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, trường học mần non là tr ường h ọc đ ầu tiên ở
đó có điều kiện cơ hội lớn để giáo dục, phát triển ngơn ngữ ,rèn luyện
thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ” Có sức khỏe là có t ất c ả” . Ở đây s ức
khỏe được coi là tài sản quý giá của mỗi con người. Vì v ậy cơng tác chăm
sóc và giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ mầm non nói chung là 1 việc làm
rất quan trọng và cần thiết giúp cơ thể trẻ phát triển tốt ,ch ống đ ỡ đ ược
mọi bệnh tật và hình thành những thói quen vệ sinh cá nhân c ơ bản đ ể
giúp trẻ có nhiều nề nếp thói quen tốt.
Chăm sóc sức khỏe trẻ thơ là cơng việc của toàn xã hội. Tr ẻ em n ếu
được chăm sóc ni dưỡng đầy đủ sẽ ít ốm đau bệnh tật và phát triển tốt.
Cơng tác chăm sóc giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ trong độ tuổi m ầm non là
việc làm thiết thực nhằm giúp trẻ có nề nếp thói quen v ệ sinh, phịng
tránh bệnh tật, tăng cường sức khỏe, hình thành những kĩ năng sống c ơ
bản đầu tiên, góp phần tạo nguồn nhân lực có chất lượng trong tương lai.
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người. Ngoài yếu tố di truyền, chăm sóc
sức khỏe chế độ dinh dưỡng hợp lí thì phần lớn s ức khỏe ph ụ thu ộc vào
yếu tố chăm sóc vệ sinh. Bao gồm vệ sinh mơi trường và vệ sinh cá nhân.
Đối với trẻ mầm non việc giáo dục ý thức vệ sinh cá nhân nh ằm giúp tr ẻ
khỏe mạnh, có thói quen vệ sinh có hành vi văn minh và phòng ch ống
bệnh tật. Việc làm này cần có sự kiên trì, tỉ mỉ của cơ giáo, sự phối h ợp rèn
luyện thói quen cho trẻ của gia đình- nhà trường, sự đầu tư trang bị chăm
sóc vệ sinh và các điều kiện thuận tiện cho hoạt động vệ sinh của trẻ.
Khơng phải trẻ nhỏ nào cũng có thói quen biết rửa tay lúc bẩn, tr ước khi
ăn và sau khi đi vệ sinh, biết đánh răng, r ửa mặt đúng quy trình…mu ốn t ạo
được thói quen cho trẻ thì nhiệm vụ của cô giáo là hết sức quan tr ọng. Cơ
từ lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “ Một số biện pháp giáo dục vệ
sinh cá nhân cho trẻ 3-4 tuổi đạt hiệu quả ”
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1.Cơ sở lý luận
Vệ sinh là biểu hiện của nếp sống văn minh, một biện pháp khoa học
nhằm mục đích bảo vệ, nâng cao sức khỏe của con người. Đ ể v ệ sinh tr ở
thành thói quen văn hóa mỗi người cần phải có m ột q trình t ập luy ện,
rèn luyện và đấu tranh với bản thân. Giáo dục thói quen văn hóa v ệ sinh
cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một trong nh ững nhi ệm v ụ giáo d ục
toàn diện có ý nghĩa lớn đối với sự hình hành và phát triển nhân cách của
trẻ sau này. Bởi đây là giai đoạn đánh dấu sự tự lập d ần d ần trong sinh
hoạt hàng ngày của trẻ, giai đoạn định hình nhân cách. Giáo d ục thói quen
văn hóa vệ sinh là rèn luyện cho trẻ những thói quen của nếp sống văn
minh như: tính sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng… Đồng th ời cung c ấp cho tr ẻ
những kiến thức cơ bản, khoa học về vệ sinh cá nhân. Bồi d ưỡng cho trẻ
những tình cảm, thái độ tích cực đối với việc thực hiện nh ững hành vi văn
hoá, tổ chức cho trẻ thực hiện các thói quen văn hố vệ sinh trong sinh
hoạt hàng ngày, giúp trẻ biết tự kiểm tra, đánh giá hành động v ệ sinh c ủa
mình, của bạn… Từ đó hình thành cho trẻ thói quen th ực hi ện hành vi văn
hố vệ sinh, để trẻ có thể tự bảo vệ mình, được sống thoải mái về thể
chất và tinh thần - sống khỏe mạnh.
Trẻ mầm non nói chung, trẻ 3-4 tuổi nói riêng có nhu cầu phát tri ển
về thể chất cũng như trí tuệ, trẻ thích làm theo những công việc của người
lớn, đặc biệt là những việc vừa sức trẻ, tuy nhiên khả năng của trẻ còn
nhiều hạn chế nên các kỹ năng và thói quen của trẻ phụ thuộc vào ng ừơi
lớn( bố , mẹ và cơ giáo). Vì vậy rèn luyện cho trẻ có một số kỹ năng và thói
quen vệ sinh là đã góp phần rèn luyện kỹ năng t ự ph ục v ụ cho tr ẻ, hình
rửa mặt, rửa
tay....nhưng lại rất cần thiết trong đời sống con người.
Làm tốt việc vệ sinh cá nhân không chỉ giúp tạo ấn tượng tốt v ới nh ững
người xung quanh mà còn giúp con người chúng ta duy trì m ột s ức kh ỏe
tốt. Vệ sinh đúng cách cịn có tác dụng phịng bệnh r ất t ốt. Hi ện nay r ất
nhiều căn bệnh truyền nhiễm vẫn chưa có vắc-xin phịng bệnh, do vậy
việc vệ sinh cá nhân được đánh giá có tác dụng tương đương với v ắc-xin
phòng bệnh là việc làm cần thiết của tất cả mọi người.
Khảo sát thực trạng trẻ
Sau khi nghiên cứu và định hình được một số biện pháp dạy trẻ biết
vệ sinh cá nhân của trẻ, tôi bắt tay ngay vào công việc v ới việc làm đ ầu
tiên là khảo sát thực trạng vệ sinh cá nhân của trẻ ngay từ đầu năm
học. Qua khảo sát tôi nhận thấy đa số trẻ trong lớp đều là trẻ mới đến
trường nên chưa có nề nếp vệ sinh cá nhân. Dựa trên một số tiêu chí cần
đạt, tơi thống kê thành bảng khảo sát thực trạng trẻ dưới đây:
BẢNG KHẢO SÁT THỰC TRẠNG TRẺ
Trước khi áp dụng
Số
trẻ
Chỉ tiêu
đạt
%
8
20
* Khó khăn:
- Trẻ cịn q nhỏ chưa nhận thức được tầm quan trọng của giữ gì vệ sinh
cá
nhân, trẻ hay quên, hay đòi nghịch với xà phòng và n ước khi ra nhà v ệ sinh.
- Mặt khác do nhận thức của phụ huynh còn h ạn chế trong vi ệc “v ệ sinh
cá nhân cho trẻ” phụ huynh khơng hiểu rõ các bệnh có thể lây nhiễm do
vệ sinh kém.
- Một số bé còn nhút nhát, một số bé đi học ch ưa đều, do s ức khoẻ hoặc
hạn chế về thể chất như bé: Mai, Thanh Loan, Trang
- Đứng trước tình hình như vậy, tơi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp v ới
mong muốn tạo cho trẻ có thói quen rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ
sinh, biết cách rửa mặt đúng cách,biết lấy giấy hoặc dùng cánh tay che
miệng khi ho hoặc hắt hơi.
3. Các biện phát thực hiện
Ngay từ đầu năm học, sau khi nhận lớp tôi đã bắt tay vào nghiên c ứu
chuyên đề về: “ Giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ Mầm non” do vụ giáo d ục
mầm non ban hành, các nội dung tuy không mới lạ nhưng đi vào chiều sâu,
với tầm quan trọng và yêu cầu nhiệm vụ của Trường Mầm non trong giai
đoạn phát triển kinh tế thời kì đổi mới của đất nước, sự đầu t ư trang bị c ơ
sở vật chất và đào tạo con người đáp ứng thời kì cơng nghi ệp hóa- hi ện
đại hóa đất nước…Địi hỏi trường Mầm non có sự đầu t ư rèn luy ện kĩ
năng tự chăm sóc phục vụ cho bản thân trẻ để trẻ có m ột sức kh ỏe tồn
diện về thể chất - tinh thần - xã hội từ lứa tuổi Mầm non. Đó là m ột u
cầu khơng đơn giản mà cần có sự chỉ đạo của BGH và sự phối h ợp c ủa các
giáo viên, hội đồng sư phạm để thống nhất một số biện pháp sau:
3.1Biện pháp 1: Xây dựng môi trường và điều kiện vật ch ất tối thiểu
cần thiết cho hoạt động vệ sinh.
* Môi trường xã hội:
Ví dụ: Cơ dạy các cháu úp ca cốc thì lớp phải có giá đ ể c ốc và c ốc cho tr ẻ
thực hiện úp, có phương tiện lại được thực hiện thường xuyên ở lớp cũng
như ở nhà, cháu sẽ nhanh chóng hình thành được thói quen vệ sinh đó.
Để đảm bảo đồ dùng phục vụ cho hoạt động vệ sinh cho trẻ ngay t ừ đầu
năm học tôi đã thống kê đồ dùng, dụng cụ của l ớp đ ể k ịp th ời tham m ưu
với nhà trường bổ sung thêm đồ dùng, dụng cụ vệ sinh đảm bảo cho tr ẻ
hoạt động.
3.2Biện pháp 2: Tự học tập, bồi dưỡng về kỹ năng thực hành thao tác
chăm sóc - vệ sinh cho trẻ.
Bản thân tôi luôn xác định muốn rèn luy ện cho trẻ mẫu giáo bé có
thói quen trong việc giữ gìn vệ sinh cá nhân thì việc làm đầu tiên là cơ giáo
phải có kiến thức chuẩn xác về kĩ năng thực hành , chính vì điều đó mà
bản thân tơi ln tìm tịi học hỏi các tài liệu có liên quan đ ến v ấn đ ề v ệ
sinh để áp dụng vào dạy trẻ. Giáo viên phải nắm được yêu cầu rèn luyện
và kỹ năng thực hành cho trẻ.
Thói quen vệ sinh cần rèn luyện. Ngồi những thói quen vệ sinh ở lớp ,
giáo viên cần rèn luyện thêm cho các cháu những thói quen v ệ sinh sau:
Trẻ tự rửa mặt, rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, đánh răng.
Có ý thức giữ vệ sinh nơi công cộng, tôn trọng người khác nh ư:
không nhổ bậy, không vứt rác ra lớp học, nơi công cộng, biết sử dụng
nước sạch..
Trẻ tự mặc quần áo, biết địi hỏi người lớn phải cho mình ăn m ặc
Bản thân tích cực sưu tầm, nắm vững nội dung và nguyên tắc h ướng
dẫn thực hành thao tác vệ sinh: Rửa tay, rửa mặt...
Ví dụ: Khi hướng dẫn trẻ cách rửa tay bằng xà phòng phải h ướng d ẫn tr ẻ
thực hiện theo đúng quy trình 6 bước: ( Hình ảnh 1,2: trẻ xếp hàng rửa
tay , 6 bước rửa tay)
Bản thân ln tìm tài liệu liên quan để nghiên cứu sau đó trao đ ổi v ới
hiệu phó phụ trách chun mơn, các tổ trưởng và giáo viên cùng th ực hiện.
Manh dạn đăng kí hoạt động vệ sinh cho buổi hội giảng của trường đ ể
BGH, giáo viên góp ý kiến, xếp loại. Đây là một cách làm tạo đ ộng l ực cho
bản thân chú ý đến cơng tác chăm sóc- giáo dục vệ sinh cho tr ẻ.
Đặc điểm của trẻ là hay bắt chước, có thể bắt ch ước cái đúng, cái t ốt,
nhưng cũng có thể bắt chước cái sai, cái xấu. Vì v ậy cơ giáo và m ọi ng ười
xung quanh cần phải tự rèn bản thân và tuân thủ nh ững yêu cầu v ệ sinh
của nhà trường, thực hiện triệt để lời nói phải đi đôi với việc làm để th ực
sự là tấm gương sáng cho các cháu noi theo.
3.3 Biện pháp 3:Sưu tầm,vận dụng các bài thơ, truy ện, bài hát và trò
chơi vào hoạt động vệ sinh.
Tổ chức các hoạt động vui chơi chứa đựng nội dung giáo d ục thói
quen văn hố vệ sinh: Chơi là q trình trẻ học làm người, trải nghiệm
những xúc cảm, tình cảm, hành vi của con người qua các vai khác nhau. V ới
các chủ đề chơi về “gia đình”, “cửa hàng bách hoá”, “trường mầm non”, “Bác
sỹ”… Khi trẻ tham gia vào trị chơi cũng chính là q trình trẻ tiếp nhận tri
thức, kỹ năng, hình thành xúc cảm, tình cảm một cách t ự nhiên khơng ép
buộc… Ví dụ trong chủ đề “gia đình” giáo viên có th ể tiến hành cho tr ẻ
chơi các trò chơi với búp bê, kết hợp với các dụng c ụ v ệ sinh, ho ặc s ử
Cơm rơi, cơm vãi.
Hay với bài thơ “Bé ơi”
“Bé ơi nhớ nhé
Bạn ơi nhớ nhé
Giờ ăn đến rồi
Quay ra đằng sau
Rửa tay sạch sẽ
Tay che miệng mũi
Trước khi ăn cơm
Nếu không như thế
Bé ngồi ngay ngắn
Sẽ mất vệ sinh
Mời cô, mời bạn
Bạn bè cười chê
Cùng bé xơi cơm
( Hình ảnh: 5. các bước đánh răng)
Nhắc nhở các cháu thực hiện thường xun. Muốn hình thành một
thói quen vệ sinh ngoài việc làm cho trẻ hiểu được ý nghĩa có kỹ năng c ần
phải làm cho trẻ được thực hành thường xuyên, có như vậy mới ăn sâu vào
nếp sống của trẻ. Hành động sẽ trở thành thói quen khi đứa trẻ có nhu c ầu
từ bên trong.
Ví dụ: Cháu Thu Trang sau khi ăn xong nếu cháu khơng đánh răng cháu
thấy rất khó chịu và khơng chịu đi ngủ.
Lồng ghép vào các hoạt động học có chủ đích: Trong q trình tổ chức
các hoạt động học tập cho trẻ, thông qua những môn học, bài h ọc c ụ th ể
như: nhận biết tập nói, nhận biết phân biệt; Làm quen với tác phẩm văn
học… Giáo viên có thể tiến hành tích hợp nội dung giáo dục thói quen văn
hố vệ sinh cho trẻ. Tuy nhiên khi tiến hành lồng ghép giáo viên cần chú ý
đảm bảo tính tự nhiên, hợp lý, khách quan của tri th ức mơn học; đảm b ảo
tính hệ thống, trọn vẹn của nội dung hoạt động học tập; đảm bảo tính
vừa sức cho trẻ. Để lồng ghép nội dung giáo dục hành vi văn hố cho tr ẻ
thơng qua các hoạt động học tập có hiệu quả, khi ti ến hành tích h ợp giáo
viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bài học, lựa chọn ph ương pháp, ph ương
tiện dạy học phù hợp, từ đó xác định nội dung giáo d ục thói quen hành vi
văn hố cụ thể cần lồng ghép, thời điểm lồng ghép và yêu cầu cần đạt
được.
Ví dụ: Qua giờ làm quen văn học với đề tài: Truy ện “Gấu con bị đau răng”
cô giáo dục trẻ biết vệ sinh răng miệng sạch sẽ vào buổi sáng sau khi ng ủ
dậy và buổi tối trước khi đi ngủ.
Hoặc kể chuyện theo tranh “Mẹ tắm cho em bé”.
Mục đích: Củng cố cho trẻ biết cách giữ gìn vệ sinh các bộ phận c ơ th ể:
mắt, mũi, miệng, tay, chân..
Chuẩn bị:Tranh to và màu sắc đẹp “ Mẹ đang tắm cho em bé”
đánh giá, động viên khen ngợi kịp thời những trẻ làm đúng, làm t ốt, h ướng
dẫn, uốn nắn, điều chỉnh những trẻ làm chưa đúng. Thông qua vi ệc luy ện
tập thường xuyên, hàng ngày, với sự giúp đỡ và giám sát chặt chẽ của giáo
viên, trẻ sẽ có được những kỹ năng thực hiện hành động có văn hố v ệ
sinh, dần dần những kỹ năng đó sẽ trở thành thói quen, thành nhu cầu bên
trong của trẻ. Rèn trẻ thông qua các hoạt động của lớp trong ngày.
Ví dụ: Lúc đón trẻ vào lớp phải chào cơ, cơ hướng dẫn trẻ xếp mũ nón vào
giá, cất ba lô vào tủ ,chải đầu, để dép lên giá.
( hình ảnh 6: Trẻ cất dép và ba lơ)
Trong giờ trị chuyện cơ có thể gợi hỏi: “Mỗi sáng th ức dậy các con th ường
làm gì?
+ Khi đánh răng các con cầm bàn chải bằng tay nào?
+ Chải răng xong các con làm gì?
+ Sau khi chải răng, rửa mặt xong các con làm gì?
+ Khi ăn các con có làm rơi vãi cơm khơng?
- Giờ ăn trưa: Dạy trẻ rửa tay lau mặt, mời cô, các bạn, c ầm thìa đúng tay.
+ Ăn nhai từ tốn, khơng nhai nhồm nhồm và nuốt v ội.
+ Khơng ngậm thức ăn lâu trong miệng - không v ừa ăn v ừa ch ơi, v ừa nói
chuyện, đi lại lung tung.
+Khơng xúc qua đầu, không bỏ dở suất ăn, biết nhặt cơm rơi vào đĩa riêng
- ăn xong lau miệng.
+Uống nước từ từ, không làm đổ, không làm vỡ cốc, khơng rót n ước q
đầy, thị tay vào bình nước, không uống nước lã.
- Mặc: Trang phục quần áo gọn gàng sạch sẽ - không mặc quần áo bẩn,
rách, đứt cúc, không ngồi lê trên sàn đất hoặc bôi bẩn vào quần áo thường xuyên tắm rửa, thay quần áo.
-Với bạn bè: Biết nhường nhịn bạn khi ch ơi và cùng ch ơi không đánh cãi
nhau gây gổ bắt nạt bạn yếu.
-Với thiên nhiên môi trường:
chức giáo dục, linh hoạt và sáng tạo trong tổ chức các hoạt động chăm sóc
giáo dục trẻ. Biết cách tạo cho trẻ sự hứng thú, tích cực tham gia vào các
hoạt động. Để làm được điều đó người giáo viên phải có lịng yêu trẻ, n ắm
vững đặc điểm của trẻ, có sự kiên trì, nhẫn lại trong khi rèn luy ện cho tr ẻ.
Luôn gương mẫu trước trẻ trong việc thực hiện các hành vi văn hoá,
vệ sinh. Thường xuyên trao đổi, kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trong quá
trình giáo dục trẻ. Làm tốt được điều này sẽ là biện pháp h ữu hiệu góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Nếu hàng ngày cô th ực hi ện
nghiêm túc thời gian biểu cháu sẽ thực hiện đúng giờ nào việc đó. Vì
những việc làm tốt được lặp đi lặp lại nhiều lần thì sẽ thành thói quen t ốt.
Phối hợp với gia đình trong quá trình giáo dục trẻ. Hàng ngày tr ẻ ch ỉ
sinh hoạt ở trường mầm non với thời gian nhất định, còn lại trẻ sống ở gia
đình, chịu sự giáo dục của gia đình. Vì thế, nếu có sự kết h ợp ch ặt chẽ gi ữa
gia đình và nhà trường để thống nhất về nội dung, ph ương pháp, hình
thức tổ chức giáo dục tác động đến trẻ một cách đồng bộ, sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển, hình thành hành vi văn hoá vệ sinh cho trẻ.
Muốn trẻ hình thành được các thói quen vệ sinh thì nhà trường và gia
đình phải thống nhất yêu cầu giáo dục vệ sinh đối v ới trẻ. Nhà tr ường và
giáo viên thông báo, yêu cầu biện pháp giáo dục vệ sinh cho ph ụ huynh
biết, yêu cầu phụ huynh cần theo dõi giúp đỡ và cho bi ết tình hình th ực
hiện ở nhà để cùng phối hợp giáo dục rèn luyện cho trẻ.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi áp dụng một số biện pháp rèn luyện thói quen vệ sinh cho tr ẻ
tôi thấy đạt một số kết quả như sau:
*Đối với trẻ
Đa số các cháu đã thực hiện được những kỹ năng như: Tự rửa mặt, rửa tay,
chải đầu, thay quần áo sử dụng thành thạo dụng cụ vệ sinh.
Biết giữ trường lớp, đồ dùng, đồ chơi sạch sẽ.
%
sinh
8
2. Kỹ năng lau mặt và lau
20
33
94
miệng trước và sau khi 12
30
32
91
trẻ khi ăn và sau khi đi vệ
35
ăn
áp
3. Trẻ ho, hắt hơi và có
mũi dùng giấy hoặc khăn
Trau dồi kiến thức vệ sinh và hành vi văn minh cần thiết.
Cơ giáo phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, m ẫu m ực, ch ịu khó,
kiên trì tìm tịi học hỏi, ln có biện pháp sáng tạo mới trong gi ảng d ạy và
chăm sóc giáo dục trẻ. Cô giáo dành thời gian, chú ý nhiều hơn đến nh ững
cháu cá biệt để có biện pháp giáo dục phù hợp, ph ải đ ộng viên khen
thưởng sửa lại kịp thời cho trẻ nhằm kích thích những việc làm tốt, và h ạn
chế những hành vi xấu của trẻ. Cơ giáo phải hết lịng u th ương các cháu,
với tinh thần là người mẹ thứ hai của các cháu, cô giáo ph ải nh ạy bén
trước những diễn biến của các cháu, hiểu được đặc điểm tâm sinh lý c ủa
các cháu, hiểu được hoàn cảnh sống của từng gia đình. Gia đình ph ải th ật
sự là mái ấm tình thương của trẻ, bố mẹ phải là tấm gương sáng đ ể tr ẻ
noi theo, phải quan tâm, yêu thương trẻ, có trách nhiệm giáo d ục trẻ ngay
từ khi mới chào đời.
Tuyên truyền với phụ huynh về công tác giáo dục rèn luy ện vệ sinh văn
minh cho trẻ. Do đó muốn giáo dục chăm sóc trẻ đạt kết quả t ốt thì ph ải
có sự thống nhất phương pháp giáo dục của các cô giáo trong lớp cũng nh ư
phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã h ội.
2.Kiến nghị
Đề nghị Bộ giáo dục và đào tạo xuất bản thêm nhiều sách v ề v ấn đ ề
vệ sinh để giáo viên có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu bồi dưỡng thêm đ ể
nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh cho trẻ.
Đề nghị Phòng GD-ĐT, nhà trường tổ chức nhiều buổi tập huấn, h ội gi ảng
về chuyên đề vệ sinh giúp giáo viên đặc biệt là nh ững giáo viên tr ẻ m ới
vào ngành bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao năng lực tổ ch ức các ho ạt
động vệ sinh.
Trên đây là một vài kinh nghiệm trong việc dạy trẻ có những thói quen vệ
sinh cho trẻ nhà, bản thân tôi đã áp dụng tại trường mầm non Đa T ốn.
Đa Tốn,ngày 18 tháng 2 năm