(Sáng kiến kinh nghiệm) một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học giải toán có lời văn lớp một - Pdf 86

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC GIẢI
TỐN CĨ LỜI VĂN LỚP MỘT"

Lệ Thuỷ, tháng 4 năm 2020
1


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC GIẢI
TỐN CĨ LỜI VĂN LỚP MỘT"

Họ và tên:

Trần Thị Sương

Chức vụ:

Tổ phó chuyên môn

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phú Thuỷ

Lệ Thuỷ, tháng 4 năm 2020
2


trực tiếp đứng lớp ln phải tự tìm tịi, nghiên cứu và sáng tạo để không ngừng cải
tiến phương pháp dạy – học sao cho vừa phải phù hợp với đối tượng học sinh ơ
từng vùng miền, từng lớp, từng thời điểm…, vừa phải đạt được những yêu cầu
3


chung được đặt ra về mặt kiến thức. Việc cải tiến phương pháp dạy học càng đặc
biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Là một người giáo viên, bản thân tơi cũng
ln mong muốn góp những kinh nghiệm nhỏ bé của mình về kiến thức về phương
pháp dạy – học của nền giáo dục nước nhà. Trong phạm vi nhỏ hẹp của đề tài này,
tôi muốn đưa ra để trao đổi với các đồng nghiệp một số kinh nghiệm về “Một số
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học giải tốn có lời văn lớp một”
nhằm nâng cao chất lượng dạy học mơn Tốn trong nhà trường.
2. Điểm mới của sáng kiến
Qua đề tài này, tôi muốn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
dạy học giải tốn có lời văn lớp 1, góp phần nhỏ vào việc tìm ra phương pháp giúp
giáo viên dạy mơn Tốn cho học sinh lớp 1 được tốt hơn.
Học sinh dễ dàng nhận biết về cấu tạo của một bài tốn có lời văn lớp 1. Cách
thực hiện các bước giải bài tốn có lời văn: Đọc hiểu - phân tích - tóm tắt bài tốn.
Cách giải tốn đơn về thêm (bớt) bằng một phép tính cộng (trừ). Trình bày bài giải
gồm câu lời giải, phép tính, đáp số. Tìm lời giải phù hợp cho bài tốn bằng nhiều
cách khác nhau.

II. PHẦN NỘI DUNG
1. Thực trạng việc dạy học giải tốn có lời văn lớp một:
4


Trong chất lượng mơn Tốn ở lớp do tơi phụ trách nói riêng và trong tồn
khối Một nói chung cịn nhiều hạn chế. Các em thường xuyên sai ở một số điểm

học sinh lớp 1.
5


Trong q trình nghiên cứu, tơi có dự giờ của các giáo viên trong khối và
tham khảo ý kiến của ban giám hiệu cho thấy: Trong giờ dạy Toán : Bài tốn có lời
văn, giáo viên thường ngại cho học sinh lấy đồ dùng học mơn Tốn khơng tập
trung ngay vào việc sử dụng vì trong bộ thực hành học Tốn có rất nhiều hình ảnh
minh hoạ như cam, táo, chim, cá, . . . màu sắc đẹp nên học sinh rất thích dẫn đến
hay nghịch đồ dùng. Phải mất nhiều thời gian ổn định tổ chức lớp giáo viên mới có
thể tiếp tục bài giảng của mình hoặc có sử dụng nhưng sơ sài trong việc hướng dẫn
học sinh đọc đề bài, tìm hiểu đề bài, quan sát hình minh hoạ, hướng dẫn tóm tắt bài
tốn. Giáo viên chỉ chú trọng đi sâu vào phần hướng dẫn học sinh trình bày và giải
bài tốn. Bên cạnh đó học sinh luyện giải toán trong bảng con chưa nhiều ,chưa
nhận xét kĩ những lỗi sai của học sinh. Giáo viên chưa giúp đỡ kịp thời những học
sinh học chậm tiến bộ.
Tôi đã đưa ra một số các câu hỏi sau:
- Trong tiết dạy giải Tốn có lời văn thường chú trọng những bước nào? Vì sao?
- Thường sử dụng phương pháp nào trong tiết dạy Tốn đó?
- Trong q trình dạy giải Tốn có lời văn thường gặp những khó khăn gì?
- Học sinh thường mắc những lỗi gì trong bài khi học giải Tốn có lời văn?
- Cần có cách nào để đổi mới phương pháp dạy học Toán?
Biện pháp 2. Khảo sát kĩ năng học giải Tốn có lời văn của học sinh lớp 1.
Tơi đã tìm hiểu và quyết định yêu cầu học sinh làm 1 số yêu cầu sau:
Trả lời các câu hỏi sau:
- Em có thích học giải Tốn có lời văn khơng?
- Sau khi thầy cơ hướng dẫn giải tốn có lời văn em thấy mình có thể làm được bài
khơng?
- Khi giải bài tốn có lời văn em thường mắc những lỗi gì?
Kết quả:

toán quan sát tranh nêu phép tính thích hợp. Tơi hiểu đó chính là u cầu: tập biểu
thị tình huống trong tranh bằng 1 phép tính thích hợp.
Bài đầu tiên rất quan trọng nên tơi cho học sinh quan sát kĩ tranh trên màn
hình hoặc vật thật để học sinh biết được” Có mấy quả bóng? Thêm mấy quả bóng?
Hỏi có tất cả mấy quả bóng?”. Sau đó tơi giúp học sinh nêu thành bài tốn đơn với
1 phép tính cộng: “ Hà có 1 quả bóng. Bình có 2 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy
quả bóng?”. Cho nhiều học sinh nêu lại bài tốn theo ý hiểu của mình, khơng bắt
buộc phải giống y ngun bài tốn mẫu của cơ.
Tơi nhấn mạnh vào từ: “có, thêm, có tất cả” để học sinh dần hiểu được: “
thêm” có nghĩa là: “cộng” và cụm từ: “ có tất cả” để chắc chắn rằng chúng ta sẽ
thực hiện viết phép tính cộng vào ơ trống đó. Tôi cũng không áp đặt học sinh cứ
phải nêu phép tính theo ý giáo viên mà có thể nêu:
1 + 2 = 3 hoặc 2 + 1 = 3
1

+

2

=

3

Tôi đã hướng dẫn học sinh làm theo đúng mục tiêu của dạng bài tập này là:
Giúp học sinh hình thành kĩ năng biểu thị một tình huống của bài tốn bằng một
phép tính tương ứng với mỗi tranh vẽ.
VD: Bài 5( b) . Viết phép tính thích hợp.
Cho học sinh xem tranh, nêu bài tốn: Có 1 con thỏ, 1 con thỏ nữa đi đến.
Hỏi tất cả có mấy con thỏ?
Học sinh có thể nêu:

“bớt đi” và từ “còn” là chúng ta phải thực hiện phép tính trừ vào ơ trống.
7-2=5
Như vậy ở giai đoạn này học sinh đã quen dần với cách nêu bài toán, câu trả
lời bằng miệng. Rèn luyện thành thạo kĩ năng này sẽ rất thuận lợi khi học sinh bước
vào giai đoạn học: “ giải toán có lời văn”
Giai đoạn 3: Từ (tiết 84: bài tốn có lời văn) trang 115 đến cuối năm học sinh
chính thức học, rèn luyện giải bài tốn có lời văn.
Nhận biết cấu tạo bài tốn có lời văn.
Tiết 84: Bài tốn có lời văn. Học sinh được học với đề tốn chưa hồn thiện. Tiếp
tục sử dụng kĩ năng quan sát tranh, học sinh đã rất thành thạo ở giai đoạn 1 vậy nên
hồn thiện nốt đề bài tốn là điều khơng khó đối với học sinh lớp tơi. Tiếp tục tơi
giảng để học sinh nắm chắc một bài tốn có lời văn ở lớp 1 gồm 2 phần:
+ Phần cho biết ( Phần cho biết gồm 2 ý: Có . . .bạn, có thêm ….bạn đang đi tới.
Phần hỏi: Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn?)
Bài tốn có lời văn còn thiếu số và câu hỏi: ( cái đã cho, cái cần tìm)
Gồm 4 bài tốn có u cầu khác nhau.
VD: Bài 1 ( trang 115).Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài tốn.
8


Bài tốn : Có …bạn, có thêm… bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu
bạn ?
Bài 2:
Bài tốn : Có … con thỏ , có thêm … con thỏ đang chạy tới. Hỏi có tất cả bao
nhiêu con thỏ ?
* Bài tốn cịn thiếu câu hỏi ( cái cần tìm)
Bài 3 Viết tiếp câu hỏi để có bài tốn.
Bài tốn : Có 1 gà mẹ và có 7 gà con.
Hỏi ………………………………………………….?
* Bài tốn cịn thiếu cả số cả câu hỏi ( cái đã cho và cái cần tìm)

- Đặt câu hỏi tìm hiểu bài.
+ Bài tốn cho biết gì? (Lan gấp được 14 cái thuyền )
+ Bài tốn cịn cho biết gì nữa? (Lan cho bạn 4 cái thuyền)
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? ( Lan cịn lại bao nhiêu cái thuyền)
Tơi gạch chân dữ kiện, u cầu của bài tốn.
Bước 2: Tóm tắt bài tốn.
Tơi hướng dẫn để học sinh hồn thiện tóm tắt của bài tốn. Lúc này học sinh chỉ
cần dựa vào bài tốn cho biết gì và bài tốn hỏi gì là đã hồn thiện tóm tắt.

: 14 cái thuyền
Cho bạn: 4 cái thuyền
Còn lại : … cái thuyền?
-Yêu cầu học sinh đọc lại tóm tắt.
Bước 3: Giải bài tốn.
Có thể lồng câu lời giải vào trong tóm tắt để dựa vào đó học sinh dễ viết câu
lời giải hơn. Chẳng hạn dựa vào dịng cuối tóm tắt học sinh có thể viết ngay câu lời
giải với nhiều cách khác nhau chứ không bắt buộc học sinh phải viết theo một kiểu.
Tơi có thể hướng dẫn các em viết câu lời giải theo 1 số cách sau:
Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và cuối (bao nhiêu
cái thuyền?) để có câu lời giải: “ Lan cịn :” hoặc thêm từ là để có câu lời giải Lan
cịn số cái thuyền là:”
Cách 2: Đưa từ “ cái thuyền” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi” và thêm
từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có “ Số cái thuyền Lan cịn lại là:”
Cách 3: Dựa vào dịng cuối cùng của câu tóm tắt coi đó là “từ khố” của câu lời
giải rồi thêm thắt chút ít. Vídụ: Từ dịng cuối của tóm tắt “ Lan còn bao nhiêu cái
thuyền?”. Học sinh viết câu lời giải: Còn lại là:”.

10



giáo viên phải dày công nghiên cứu tài liệu và theo dõi HS qua quá trình dạy học,
nắm bất được điểm yếu của HS để tập trung khắc phục. Có như vậy mới đạt được
đích của việc đổi mới phương pháp dạy học.
Mặt khác, giáo viên tạo bầu khơng khí vui tươi, sơi nổi để học sinh luôn được:
Học mà chơi - chơi mà học. Như vậy trẻ sẽ nhớ lâu, làm đúng, làm nhanh những
bài học trên lớp. Người giáo viên càng vận dụng linh hoạt, sáng tạo, sử dụng các
phương pháp dạy học thích hợp, các hình thức tổ chức dạy học và hấp dẫn phù hợp
với từng đối tượng học sinh, gây hứng thú tích cực học tập cho các em. Tạo điều
kiện thuận lợi cho các em chủ động sáng tạo vận dụng hết khả năng lực trí tuệ của
mình khi học tốn.
Giáo viên cần có sự phối hợp hài hoà các phương pháp dạy học mới, tạo cho
học sinh tham gia vào bài học bằng nhiều cách và nhiều mức độ khác nhau.
Kết quả thực hiện:
Thời gian

Hs viết
HS viết
HS viết đúng
HS viết đúng
đúng câu lời đúng phép
cả 3 bước
đáp số
giải
tính
trên

Sau khi
thực hiện đề tài

98%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status