Nâng cao chất lợng dạy học giải toán có lời văa ở lớp 4
kinh nghiệm
nâng cao chất lợng dạy học
giải toán có lời văn ở lớp 4
Phần I : đặt vấn đề
1. Cơ sở lý luận.
Ngày nay, chúng ta đang sống trong thời đại văn minh mới. Nhìn từ phía khoa
học và công nghệ thì đây là thời đại văn minh thông tin với nền kinh tế dựa trên tri
thức. Thời đại văn minh mới này là một bớc phát triển vợt bậc so với thời đại văn
minh nông nghiệp với nền kinh tế dựa trên tài nguyên khoáng sản là chính.
Ngời lao động ở mọi lĩnh vực trong thời đại ngày nay phải không ngừng học
hỏi, trau dồi tri thức. Phải có tầm nhìn xa mang tính chiến lợc và đủ chiều sâu để có
thể giải quyết nhanh chóng những công việc cụ thể.
Đảng và Nhà nớc ta đã đặt ra yêu cầu với ngành giáo dục là phải đào tạo đợc
đội ngũ những ngời lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, tiếp cận và làm chủ đợc
công nghệ tiên tiến, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Đảng và
Nhà nớc đặc biệt coi trọng giáo dục, coi Giáo dục là quốc sách hàng đầu, coi con
ngời là mục tiêu và là động lực của sự phát triển.
Để khẳng định vai trò của giáo dục và đào tạo trong sự nghiệp phát triển công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, tại Đại hội Đảng lần thứ X một lần nữa đề ra:
.Tiếp tục nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phơng pháp
dạy học, hệ thống trờng lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá - hiện
đại hoá - xã hội hoá .
Trớc những yêu cầu thực tế đó, chất lợng dạy học trong mỗi trờng tiểu học là
vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Đặc biệt nó quyết định đến sự tồn tại của nhà tr-
ờng. Chất lợng dạy học ấy phải đợc thể hiện bằng chất lợng toàn diện của các môn
học: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiện xã hội, Mỹ thuật, Âm nhạc, Thể dục vv.
Đáp ứng với công cuộc đổi mới của đất nớc đòi hỏi phải có những con ngời
lao động mới, có bản lĩnh, năng lực, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, thích
ứng đợc với thực tiễn đời sống xã hội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Từ thực
tế đó đòi hỏi mục tiêu giáo dục trong nhà trờng cũng phải thay đổi, đặc biệt là việc
các buổi sinh hoạt chuyên môn, chúng tôi đều thống nhất ý kiến: Học sinh thờng gặp
khó khăn khi học một số dạng toán cơ bản nh sau:
- Giải toán về Tìm số trung bình cộng;
- Giải toán về Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó;
- Giải toán về Tìm 2 số khi biết tổng (hoặc hiệu) và tỉ số của 2 số đó;
- Giải toán có nội dung hình học;
- Giải một số bài toán nh : Tìm phân số của một số , bài toán liên quan đến
biểu đồ , ứng dụng Tỉ lệ bản đồ, toán trắc nghiệm vv.
Nguyên nhân chủ yếu là do t duy của học sinh tiểu học nói chung và t duy của
học sinh lớp 4 nói riêng còn hạn chế nên việc đọc kĩ đầu bài với các em còn cha có,
nắm cái đã cho, cái cần tìm còn lơ mơ. Khi đọc đầu bài toán các em cảm thấy nó cứ
giống với những bài nào đó đã làm rồi nhng thực tế bản chất của nó khác nhau vì các
em thờng bị nhầm lẫn, ngộ nhận hoặc bị lôi cuốn vào các yếu tố không tờng minh.
Từ thực trạng trên kết hợp với việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn giảng dạy
của bản thân tôi. Tôi thiết nghĩ chất lợng giải toán có lời văn đợc nâng cao nếu có
những biện pháp, phơng pháp giảng dạy phù hợp, khắc phục những tồn tại và phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh .
Qua thực tế đó tôi nhận thấy mình cần phải làm nh thế nào để góp phần nâng
cao chất lợng dạy học giải toán có lời văn trong môn toán lớp 4. Đó chính là lý do
tôi chọn đề tài: Nâng cao chất lợng dạy học giải toán có lời văn trong môn toán
lớp 4.
Phần II : Nội dung
Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin trình bày những đặc
điểm, nội dung, nguyên nhân dẫn đến chất lợng dạy học giải toán có lời văn còn hạn
chế và đa ra một số giải pháp mà tôi đã thực hiện để góp phần nâng cao chất lợng
việc dạy học toán có lời văn ở lớp 4. Đối chứng với kết quả khảo sát đầu năm của lớp
tôi, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm khi dạy giải toán có lời văn.
I . Những vấn đề chung.
1. Một số đặc điểm của dạy học toán có lời văn trong Toán 4.
- Cũng nh ở các lớp trớc, nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 4 đợc xây
trang 101 Toán 4), có bài toán đợc xây dựng từ ứng dụng tỉ lệ bản đồ (phần tỉ lệ
bản đồ trong toán 4) . Tiếp lên trên có nhiều bài toán đợc thể hiện sinh động qua
mỗi bức ảnh gây hứng thú cho học sinh nh hình ảnh Hồ Gơm, tợng vua Lý Thái Tổ,
tranh vẽ bản đồ nớc Việt Nam và có một số bài toán thể hiện dới dạng trắc nghiệm
giúp học sinh phát triển năng lực giải toán, phù hợp với xu hớng kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập của học sinh hiện nay vv.
Khi giải các bài toán dạng nêu trên cần có cách giải linh hoạt, không áp đặt,
để học sinh tự lựa chọn cách giải, câu trả lời, phép tính phù hợp (không nhất thiết lúc
nào cũng phải theo trình tự nh giải toán có lời văn thông thờng).
2. Khảo sát phân loại đối tợng học sinh.
Muốn dạy thành công môn Toán nói chung và dạng toán có lời văn nói riêng
đòi hỏi ngời giáo viên phải nắm vững trình độ nhận thức của lớp mình để từ đó có
biện pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tợng học sinh. Trong cùng một lớp học, th-
ờng có 4 đối tợng học sinh là Học sinh giỏi, khá, trung bình và yếu. Cả 4 đối tợng
cùng học một chơng trình với những yêu cầu tối thiểu cần đạt theo mục tiêu của bài
học và chuẩn kiến thức kỹ năng. Vấn đề đặt ra là dạy thế nào để cho học sinh khá
giỏi có khả năng phát triển, học sinh trung bình đạt đợc yêu cầu tối thiểu một cách
vững chắc và có thể vơn lên, học sinh yêu kém từng bớc vơn lên đạt yêu cầu.
Chính vì vậy ngay từ đầu năm học (tuần 1) khi nhận lớp tôi đã tiến hành khảo
sát chất lợng học sinh lớp 4A do tôi chủ nhịêm .
Kết quả cụ thể nh sau :
Tổng
số HS
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm dới TB
SL % SL % SL % SL %
27 2 7,4 4 14,8 14 51,8 7 25,9
Qua kết quả khảo sát và thực tế giảng dạy chơng trình sách giáo khoa lớp 4
mới tôi nhận thấy phần kỹ năng cơ bản và tính toán học sinh khá thành thạo song
phần thực hiện kỹ năng giải toán có lời văn còn kém.
2. Nguyên nhân dẫn đến kĩ năng giải toán có lời văn của học sinh còn hạn chế.
giáo viên. Bởi vì mỗi đơn vị kiến thức toán ở tiểu học nói chung và toán ở lớp 4 nói
riêng nh những mắt xích nằm trong hệ thống lôgic kiến thức và kỹ năng của chơng
trình. Nếu không nắm vững nội dung chơng trình ngời giáo viên không thể cung cấp
cho học sinh một cánh có hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh phải lĩnh hội.
Trong chơng trình toán có lời văn ở lớp 4, ngoài các dạng toán hợp, các phép
tính hay đại lợng, các bài toán có yếu tố hình học thì học sinh còn đợc học 4 dạng
toán điển hình nh:
-Tìm số trung bình cộng.
-Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó.
-Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.
-Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó.
Trong chơng trình lớp 4 cải cách giáo dục học sinh đợc học 6 dạng toán điển
hình là:
- Tìm số trung bình cộng.
- Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó.
- Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.
- Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó.
- Bài toán về đại lợng tỉ lệ thuận.
- Bài toán về đại lợng tỉ lệ nghịch.
Nh vậy so với chơng trình cải cách giáo dục thì chơng trình tiểu học năm 2000
các dạng toán điển hình đã giảm đi 2 dạng là :
- Bài toán về đại lợng tỉ lệ thuận.
- Bài toán về đại lợng tỉ lệ nghịch.
Các dạng toán này đợc chuyển lên dạy ở đầu lớp 5. Mặc dù vậy xong học sinh
khi học các dạng toán điển hình vẫn gặp rất nhiều khó khăn, chính vì vậy nên giáo
viên nào cũng cho rằng Chơng trình toán lớp 4 khá nặng.
Các dạng toán hợp, các bài toán có yếu tố hình học, học sinh đã đợc làm quen
từ lớp dới còn các dạng toán điển hình thì đây là các dạng toán mới. Các dạng toán
này có quy trình chung là đều giải theo các bớc cơ bản (quy trình giải). Nếu giáo
viên nghiên cứu kỹ chơng trình, cho học sinh nắm chắc quy trình giải thì việc dạy,
bài xác định đợc yếu tố cơ bản của bài toán (dữ kiện, điều kiện và ẩn số) phải tóm tắt
đợc bài toán.
Bớc này trong giải toán có văn có vị trí vô cùng quan trọng, bởi vì chỉ khi xác
định đợc nội dung, yêu cầu của đầu bài thì học sinh mới dễ dàng tìm ra cách giải.
Nh vậy có thực hiện tốt đợc bớc 1 thì các bớc sau mới đi đúng hớng và đạt kết quả
cao.
Theo tôi khi dạy bớc 1 giải toán có lời văn ngời giáo viên phải thực hiện các
công việc sau :
- Việc 1: Đọc kỹ đầu bài : trớc hết muốn hiểu đầu bài học sinh cần hiểu rõ
cách diễn đạt bằng lời văn của bài toán, nắm đợc ý nghĩa và nội dung của đầu bài.
Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại nội dung của bài toán (không cần thuộc
lòng).
- Việc 2 : Xác định yếu tố cơ bản của bài toán
+ Dữ kiện : Là cái đã cho , đã biết trong đầu bài , thờng đợc biểu diễn bằng
danh số .
+ ẩn số : là cái cha biết cần tìm (là các câu hỏi của bài toán)
+ Điều kiện : Là quan hệ giữa dữ kiện và ẩn số .
Ví dụ : Tuổi chị và tuổi em cộng lại đợc 36 tuổi. Em kém chị 8 tuổi. Hỏi chị
bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? (Sách giáo khoa toán 4 trang 48)
Dữ kiện : Tuổi chị và tuổi em cộng lại là : 36
ẩn số : Chị bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ?
Điều kiện : Em kém chị 8 tuổi.
- Việc 3 : Tóm tắt đề toán
- Tóm tắt bài toán phải đạt các yêu cầu sau :
+ Ngắn gọn cô đọng
+ Thể hiện đợc mối quan hệ logic giữa dữ kiện , ẩn số và điều kiện .
+ Gợi ý đợc cách giải
Ví dụ : Tuổi chị và tuổi em cộng lại đợc 36 tuổi. Em kém chị 8 tuổi. Hỏi chị
bao nhiêu tuổi, em bao nhiêu tuổi ? ( Sách giáo khoa toán 4 trang 48).
đi sau).
Dựa vào sơ đồ giáo viên định hớng cho học sinh quy trình giải ?
- Số thực phẩm một ô tô đi đầu chuyển đợc bao nhiêu ? ( 36 tấn) .
- Muốn tính đợc số thực phẩm 5 ô tô đi đầu chuyển ta làm thế nào ?
- Số thực phẩm một ô tô đi sau chuyển đợc bao nhiêu ? ( 45 tấn) .
- Muốn tính đợc số thực phẩm 4 ô tô đi sau chuyển ta làm thế nào ?
- Đã biết số thực phẩm của 5 ôtô đầu chở và số thực phẩm 5 ôtô sau chở muốn
tính tổng số thực phẩm ta làm nh thế nào ?
- Số ô tô đi đầu là mấy xe ?
- Số ô tô đi sau là mấy xe ?
- Vậy tổng số ô tô là mấy xe?
- Đã biết tổng số thực phẩm và tổng số ôtô chở muốn tính đợc trung bình mỗi
ôtô chở đợc bao nhiêu ta làm thế nào?
Với cách thực hiện nh trên, khi dạy giải toán có lời văn, các em học sinh lớp
4A do tôi giảng dạy đã đạt đợc kết quả cao đúng nh tôi mong muốn.
3. Tạo niềm say mê, hứng thú cho học sinh khi học giải toán có lời văn.
Nh chúng ta đã biết trực quan đối với học sinh tiểu học là rất cần thiết không
những hỗ trợ việc nắm kiến thức mà nó còn tạo niềm say mê hứng thú cho học sinh.
Vì vậy khi giải toán có lời văn tôi luôn cố gắng cho học sinh sử dụng đồ dùng học
tập để lĩnh hội kiến thức một cách bản chất hơn. Ngoài ra tôi còn tổ chức các hình
thức học tập sinh động nh: Trò chơi, su tầm những bài toán vui, những bài toán gần
gũi với cuộc sống, đọc cho các em nghe, giải thích cho các em cách giải .Tôi luôn
khuyến khích các em tự su tầm đề toán hoặc tự đặt đề toán cho cả lớp giải hoặc tham
khảo.
4. Giáo viên cần nắm đợc định hớng đổi mới phơng pháp dạy học nói
chung và phơng pháp dạy học giải toán nói riêng.
Muốn cho các em học tập môn Toán đạt hiệu quả cao đặc biệt là toán có lời
văn ở lớp 4, đòi hỏi ngời giáo viên phải tạo cho học sinh niềm say mê hứng thú học
toán. Vì vậy cần phải lựa chọn phơng pháp dạy học cho phù hợp để phát huy tính
a. Nhầm lẫn giữa 2 dạng toán:
- Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó.
- Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.
Vì vậy khi dạy xong dạng toán tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó giáo
viên cần phải có những tiết luyện tập tổng hợp cả 2 dạng toán này ( thờng thực hiện
vào buổi học thứ 2) để học sinh phân biệt rõ, tránh nhầm lẫn khi giải.
Ví dụ 1 : Cả hai lớp 4A và 4B trồng đợc 250 cây. Lớp 4A trồng đợc ít hơn lớp
4B là 50 cây. Hỏi mỗi lớp trồng đợc bao nhiêu cây?.
Ví dụ 2: Cả hai lớp 4A và 4B trồng đợc 250 cây. Số cây lớp 4A trồng bằng
số cây lớp 4B. Hỏi mỗi lớp trồng đợc bao nhiêu cây?
- Tôi viết cả 2 đề toán lên bảng và nêu một số câu hỏi:
+ Các bài toán trên thuộc các dạng toán gì ? ( Ví dụ 1 : tìm 2 số khi biết tổng
và hiệu của hai số đó,Ví dụ 2 : Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.)
+ Dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2 có điểm gì giống và khác nhau ? ( Giống
nhau đều cho biết tổng, khác nhau dạng toán ở ví dụ 1 cho biết hiệu, dạng toán ở ví
dụ 2 cho biết tỉ số)
+ Nêu quy trình giải của 2 dạng toán ở ví dụ 1 và ví dụ 2.
b. Nhầm lẫn giữa 2 dạng toán:
- Tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của 2 số đó.
- Tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó.
Khi dạy xong dạng toán tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số của 2 số đó tôi cũng
cho học sinh luyện tập tổng hợp cả 2 dạng toán này ( thờng thực hiện vào buổi học
thứ 2) để học sinh phân biệt rõ, tránh nhầm lẫn khi giải.
Ví dụ 1: Cả hai lớp 4A và 4B trồng đợc 250 cây. Số cây lớp 4A trồng bằng
số cây lớp 4B. Hỏi mỗi lớp trồng đợc bao nhiêu cây?
Ví dụ 2 : Hai lớp 4A và 4B cùng trồng cây nhân dịp đầu xuân, số cây lớp 4B
trồng đợc nhiều hơn số cây lớp 4A là 100 cây. Hỏi mỗi lớp trồng đợc bao nhiêu cây.
Biết rằng số cây lớp 4A trồng đợc bằng số cây lớp 4B.
- Tôi cũng viết cả 2 đề toán thuộc 2 dạng lên bảng và nêu một số câu hỏi:
- Các bài toán trên thuộc các dạng toán gì ? (Ví dụ 1 : Tìm 2 số khi biết tổng
Do nhầm lẫn, ngộ nhận bởi từ " cảm ứng " đó nên một số học sinh xác định sai và giải sai
bài toán . ( Học sinh bị nhầm khi tính số cây lớp 4B bằng cách lấy 600 trừ đi 50 )
- Biện pháp khắc phục khó khăn trên .
+ Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài, diễn tả đầu bài theo ý kiến của mình .
+ Cần hớng dẫn học sinh xử lý và phát hiện các dữ kiện và điều kiện của bài
toán từ đó thấy đợc mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm .
+ Nhận thức một cách đúng đắn các từ "cảm ứng" đó.
+ Lật đi lật lại vấn đề cho học sinh hiểu mối quan hệ giữa cái đã cho và cái
cần tìm (lớp 4A ít hơn lớp nào? 600 là số cây của mấy lớp, số cây lớp 4B biết cha?).
Từ đó gợi đợc cách giải đúng cho học sinh .
b. Một số bài toán đầu bài có chứa các yếu tố không tờng minh thì học sinh
thờng không phát hiện ra yếu tố không tờng minh đó. Do vậy việc xác định nội dung
yêu cầu của đầu bài không chính xác, không đủ dẫn đến giải sai .
Ví dụ :Cả hai hộp có 32 gam chè . Nếu chuyển hộp thứ nhất sang hộp thứ hai
4 gam chè thì số gam chè đựng trong mỗi hộp sẽ bằng nhau . Hỏi trong mỗi hộp lúc
đầu có bao nhiêu gam chè .
ở bài này phần lớn học sinh không đọc kỹ đầu bài xác định sai điều kiện của
đầu bài . Yếu tố không tờng minh ở đây là khi chuyển 4 gam chè từ hộp 1 sang hộp
2 thì hai hộp có số gam chè bằng nhau. Phần đông học sinh xác định đúng dạng cơ
bản của bài toán là loại toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu. Nhng xác định sai hiệu,
đa số học sinh xác định 4 gam là hiệu. Nhng ở bài này hiệu là 8 gam chứ không phải
là 4 gam . Do đó học sinh giải sai bài toán .
- Biện pháp khắc phục khó khăn :
+ Yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài, nêu lại đầu bài theo ý hiểu của mình .
+ Phân biệt đợc dữ kiện và điều kiện của đầu bài
+ Hớng dẫn học sinh phát hiện ra yếu tố không tờng minh trong đầu bài: giáo
viên đa ra câu hỏi :
Chuyển hộp thứ nhất sang hộp thứ hai 4 gam chè thì số gam chè hộp thứ nhất
hơn số gam chè ở hộp thứ 2 là bao nhiêu gam ?
Sau đó giáo viên cho học sinh thảo luận và đa ra kết quả.
các bài toán về mối quan hệ số học tổng (hiệu) và tỉ số nh đã nêu trên thì cần phải
vẽ sơ đồ đoạn thẳng vào phần trình bày bài giải của bài toán.
- Cần rèn cho học sinh khả năng diễn đạt bằng lời nói và bằng chữ viết khi
phải giải thích các vấn đề liên quan đến phân tích đề toán, tìm cách giải bài toán và
nhất là khi diễn tả câu lời giải, trình bầy bài giải. Có thể lúc đầu học sinh tự thực
hiện các hoạt động diễn đạt còn khó khăn, nhng đây là cơ hội thuận lợi để học
sinh đợc phát triển t duy, khả năng giải quyết vấn đề liên quan đến các tình huống
cần giải quyết trong thực tế sau này).
-Ngoài những dạng bài toán có lời văn thờng gặp (toán đơn, toán hợp có
không quá 3 bớc tính), nên cho học sinh tiếp xúc làm quen cách giải với các bài toán
trắc nghiệm, bài toán liên quan đến bảng, biểu đồ vv.
III. Kết quả đạt đợc sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên:
Qua thực tế áp dụng vào giảng dạy ở lớp 4 trong năm vừa qua tôi nhận thấy: Khi
tôi áp dụng những kinh nghiệm trên để giảng dạy toán có lời văn cho học sinh lớp 4 thì
kết quả đã tăng rõ rệt. Đặc biệt là học sinh tự tin hơn khi giải toán có lời văn.
Kết quả cụ thể nh sau :
Tổng
số HS
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm dới TB
SL % SL % SL % SL %
27 8 29,6 12 44,4 7 25,9 0 0
Qua kết quả khảo sát lần này và đối chứng với kết quả khảo sát đầu năm tôi
nhận thấy:
- Loại giỏi tăng lên 22,2%.
- Loại khá tăng lên 29,6%.
- Loại trung bình giảm và không còn điểm yếu kém.
Nh vậy, sau khi áp dụng một số kinh nghiệm trên vào giảng dạy thì chất lợng
giải toán có lời văn ở lớp tôi có tiến bộ rõ rệt.
Phần III : Kết luận, bài học kinh nghiệm và ý kiến đề xuất
1. Kết luận:
- Khi dạy các dạng toán dễ nhầm lẫn cần phải có những tiết luyện tập tổng
hợp các dạng toán để học sinh so sánh, phân biệt.
- Muốn nâng cao kiến thức cho học sinh thì giáo viên phải có kiến thức vững vàng,
nắm vững mục tiêu bài học, nội dung cần truyền đạt của từng bài. Ngời giáo viên phải th-
ờng xuyên trau dồi kinh nghiệm, nhiệt tình, năng động, tâm huyết với nghề.
- Khắc phục những khó khăn, tích cực sử dụng tốt những đồ dùng dạy học, c-
ơng quyết không dạy chay, không nản lòng trớc khó khăn, phải rèn luyện cho học
sinh thờng xuyên liên tục, động viên, khích lệ học sinh kịp thời, nắm bắt tâm lý của
từng đối tợng trong lớp.
- Thực hiện thờng xuyên và nghiêm túc việc đánh giá kết quả học tập của học
sinh qua các bài kiểm tra để có kế hoạch dạy học cho phù hợp.
3. ý kiến đề xuất :
Để góp phần nâng cao chất lợng giảng dạy môn Toán nói chung và góp phần rèn
luyện kỹ năng giải toán có lời văn nói riêng, tôi mạnh dạn xin có một số đề xuất sau đây :
* Đối với Sở giáo dục và Phòng giáo dục :
- Hàng năm cần tổ chức các lớp học bồi dỡng thờng xuyên để góp phần nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.
- Qua các kỳ hội giảng, hội thi đề nghị cấp trên phổ biến rộng rãi những kinh
nghiệm và phơng pháp giảng dạy ở các môn học nói chung và Toán 4 nói riêng.
* Đối với nhà trờng :
- Tăng cờng đầu t nhiều loại sách tham khảo, sách nghiệp vụ để giáo viên có
điều kiện nghiên cứu học tập chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao tay nghề.
- Duy trì và thực hiện tốt các buổi sinh hoạt chuyên môn có chất lợng và hiệu
quả cao.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã tiến hành khi dạy toán có
lời văn, qua áp dụng thực tế đã mang lại hiệu quả cao. Những ý kiến đó có thể còn
thiếu sót, cách giải quyết còn hạn chế, kính mong Ban giám khảo cùng các bạn
đồng nghiệp đóng góp ý kiến để việc dạy học giải toán có lời văn trong Toán 4 đạt
kết quả cao hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!