Tài liệu Luận văn "Đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây” doc - Pdf 86


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Đầu tư phát triển nông
nghiệp Hà Tây”

Mục lục
Trang

Lời nói đầu 1
Chương I. Những vấn đề về lí luận chung 3
I. Bản chất và vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế 3
1.Các khái niệm chung 3
2. Phân loại hoạt động đầu tư 4
3.Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế 5
3.1Tác động tới tổng cung và tổng cầu 5
3.2 Ảnh hưởng hai mặt đến sự ổn định kinh tế 6
3.3 Tác động tới tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế 6
3.4 Nhân tố quan trọng tác động đến quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế 7

III. Tình hình đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây
( giai đoạn 1996- 2000) 37
1.Theo cơ cấu vốn đầu tư 37
1.1Vốn ngân sách nhà nước 39
1.2 Vốn từ thuế nông nghiệp 42
1.3 Vốn tự cân đối 46
1.4 Vốn tín dụng ưu đãi 48
2.Theo cơ cấu lĩnh vực đầu tư 49
3.Theo vùng lãnh thổ 52
IV. Kết quả và hiệu quả đầu tư vào nông nghiệp tỉnh Hà Tây 54
1.Kết quả đầu tư 54
1.1Ảnh hưởng chung tới sự phát triển kinh tế toàn tỉnh 54
1.2Đối với sản xuất nông nghiệp 56
1.3Tác động đến cơ cấu nông nghiệp 59
1.4Đối với hệ thống thuỷ lợi 63
2.Hiệu quả đầu tư 64
2.1Chỉ tiêu GDP/GO 64
2.2Chỉ tiêu GDP/Vốn đầu tư 65
2.3Chỉ tiêu GDP tăng thêm/ vốn đầu tư 65
2.4Chỉ tiêu Bình quân lương thực qui thóc 66
2.5 Chỉ tiêu Hiệu quả lao động 66
Chương III. Phương hướng và giải pháp cho đầu tư phát triển
nông nghiệp Hà Tây 68
I.Định hướng phát triển nông nghiệp 68
1.Định hướng chung của Đảng và nhà nước 68
2.Định hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh Hà Tây 69
II .Những vấn đề tồn tại trong thời gian qua 70
III. Một số giải pháp cho đầu tư phát triển nông nghiệp 71
1 .Giải pháp về chính sách đầu tư 71
1 .1Chính sách của các cấp chính quyền 71

còn giúp nông nghiệp có những giống mới ,những phương tiện sản xuất mới
tiên tiến và các phương thức sản xuât mới.
Nghiên cứu về đầu tư và tìm ra những giải pháp để thu hút vốn đầu tư ,nâng
cao hiệu quả đầu tư là một trong những vấn đề trọng tâm của tỉnh Hà Tây và
luôn được quan tâm chú ý. Trên cơ sở nghiên cứu về tình hình đầu tư nông
nghiệp Hà Tây trong giai đoạn 1996 -2000,về những phương hướng và giải
pháp cho đầu tư trong thời gian tới, cũng như muốn đóng góp một phần vào
công cuộc đầu tư ngành nông nghiệp ; tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu:
"Đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây”
Nội dung chính gồm các phần chủ yếu sau :
Chương I. Những vấn đề lí luận chung
Chương II. Thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Hà Tây
ChươngIII. Phương hướng và giải pháp cho đầu tư phát triển nông
nghiệp Hà Tây
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

2
Do trình độ còn hạn chế cũng như tài liệu thu thập còn chưa đầy đủ nên
trong quá trình viết bài sẽ không tránh khỏi những thiếu xót hạn chế . Tôi
mong nhận được sự góp ý của thầy cô cũng như bạn đọc để giúp tôi hoàn thiện
hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo : Nguyễn Thị Thu Hà đã tận tình
giúp đỡ trong quá trình hoàn thiện đề tài
Cháu cũng xin chân thành cảm ơn các bác ,các cô chú và các anh chị phòng
Thẩm định- Xây dựng cơ bản và phòng Tổng hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh
Hà Tây đã cung cấp tài liệu và tận tình hướng dẫn.

Sinh viên thực hiện

Trương Bá Hiển

*Khái niệm chung về đầu tư
+Xét trên góc độ tiêu dùng: Đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại
để thu được mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai
+Xét trên góc độ tài chính: Đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để
chủ đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời.
Khái niệm trình bày ở trên về đầu tư được xem xét ở hai khía cạnh khác
nhau, do vậy rất khó cho việc nghiên cứu và hiểu chính xác về nó . Chính vì
vậy, các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm trung nhất về đầu tư.
Đầu tư : là sự bỏ vốn ra cùng với các nguồn lực khác( như tiền của, sức lao
động, trí tuệ...) trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó hoặc tạo ra
hay khai thác sử dụng một tài sản nào đó ngằm thu về các kết quả có lợi trong
tương lai.
*Khái niệm đầu tư phát triển:
Trong đầu tư thì người ta lại chia thành các loại đầu tư cụ thể như sau:
+ Đầu tư thương mại
+Đầu tư tài chính
+Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ vốn ra để tiến
hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế làm tăng tiềm lực
sản xuấ kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo
việc làm và nâng cao đời sống của người dân trong xã hội.
*Khái niệm vốn đầu tư.
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

4
Trong đầu tư người ta cũng hay đề cập đến một thuật ngữ là vốn đầu tư, đây
chính là yếu tố quyết định tính chất qui mô của dự án.
+ Dưới hình thái tiền tệ : Vốn đầu tư là khoản tiền tích luỹ của xã hội ,của
các cơ sở sản xuất kinh doanh , dịch vụ; là tiền tiết kiệm của dân và huy động
từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội

+ Dự án nhómA do thủ tướng quản lí
+Dự án nhóm B,C do bộ ,cơ quan ngang bộ hoặc UBND các tỉnh, thành
phố quản lí
 Theo nguồn vốn huy động
+ Vốn huy động trong nước
+Vốn huy động từ nước ngoài.
 Theo thời gian :
+ Đầu tư ngắn hạn
+ Đầu tư trung hạn
+ Đầu tư dài hạn
 Theo vùng lãnh thổ: phản ánh tình hình đầu tư của từng vùng kinh tế, từng
tỉnh
Ngoài các hình thức phân loại trên , còn có các hình thức phân loại khác mà
không được nêu trong bài này. Do vậy tuỳ theo mục đích mà người ta có thể
lựa chọn sử dụng từng cách phân loại cho phù hợp

3.Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế
Từ trước tới nay khi nói về đầu tư, không một nhà kinh tế học nào và
không một lí thuyết kinh tế nào lại không nói đến vai trò to lớn của đầu tư đối
với nền kinh tế . Có thể nói rằng đầu tư là cốt lõi là động lực cho sự tăng
truởng và phát triển nền kinh tế

3.1 Tác động tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế.
Đầu tư tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Mức độ
tác động cũng như thời gian ảnh hưởng là khác nhau.
Đối với tổng cầu: Đầu tư là một yếu tố cực kì quan trọng cấu thành tổng
cầu. Bởi vì , đầu tư một mặt tạo ra các sản phẩm mới cho nền kinh tế mặt
khác nó lại tiêu thụ và sử dụng một khối lượng lớn hàng hoá và dịch vụ trong
quá trình thực hiện đầu tư. Do vậy, xét về mặt ngắn hạn đầu tư tác động trực
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

đến giả cả của những hàng hoá này cũng tăng lên một cách mạnh mẽ, và đến
một mức độ nào đó có thì dẫn tới lạm phát ,với tỷ lệ có thể là rất cao. Khi lạm
phát xảy ra, giá cả tăng vọt, dẫn đến các chi phí đầu vào cho sản xuất tăng lên
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

7
dấn đến sản xuất bị đình trệ, và người lao động thất nghiệp , nền kinh tế bị
giảm thu nhập và đời sống của các tầng lớp dân cư bị gảm sút. Tất cả những
điều đó làm cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trì trệ và làm giảm tốc độ
phát triển. Tuy nhiên nếu các quốc gia điều tiết đầu tư thì không những khắc
phục được những ảnh hưởng tiêu cực mà còn làm cho nó trở thành động lực
cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
3.3 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế .
Ta thấy rõ rằng đầu tư có ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầu và tác
động đến sự ổn định của nền kinh tế . Như vậy, sự tăng trưởng và phát triển
của nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn của đầu tư .
Để xem xét cụ thể ta có thể sử dụng hàm Harrod- Domar để minh hoạ mối
quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và vốn đầu tư .
i
k = -----------
g
Trong đó: + k: hệ số gia tăng vốn trên sản lượng hay hệ số ICOR
+ i: Vốn đầu tư
+ g: Mức tăng GDP

i
Từ đó suy ra : g = -------------
k
Như vậy, nếu ICOR không đổi thì tốc độ tăng trưởng GDP hoàn toàn phụ
thuộc vào vốn đầu tư hay nói cách khác đầu tư quyết định sự tăng truởng của

nông thôn để vừa phát triển kinh tế xã hội vừa tạo sự cân bằng ổn định trong
nước.
3.5. Đầu tư góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ :
Ta biết rằng khoa học công nghệ là trung tâm của đời sống kinh tế xã hội
hiện đại. Một đất nước, một quốc gia chỉ phát triển được khi có khoa học công
nghệ tiên tiến và hiện đại. Ở các nước phát triển, họ có mức đầu tư lớn, có quá
trình phát triển lâu dài nên trình độ khoa học công nghệ của họ hơn hẳn các
nước khác trên thế giới. Khi họ áp dụng các thành tựu này làm cho nền kinh tế
có mức độ tăng trưởng mạnh mẽ, đời sống nhân dân nâng cao. Còn đối với các
nước đang phát triển, do công nghệ nghèo làn, lạc hậu lại không có điều kiện
để nghiên cứu phát triển khoa học kĩ thuật nền kinh tế phát triển rất thấp, sản
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

9
xuất kém phát triển và bị phụ thuộc vào các nước công nghiệp . Muốn thoát
khỏi tình trạng này thì các nước phải tăng cường đầu tư và tìm cách thu hút đầu
tư từ bên ngoài vào trong nền kinh tế. Đầu tư ở đây được hiểu là các nước này
thu hút công nghệ hiện đại bên ngoài phù hợp đồng thời tổ chức nghiên cứu để
phát minh ra các công nghệ mới hiện đại hơn. Quá trình công nghiệp hoá hiện
đại của các nước này có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc
đầu tư phát triển khoa học công nghệ.Có thể khẳng định rằng đầu tư khoa học
công nghệ là một chính sách cực kì quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội.
 Ngoài các vai trò chính yếu trên,đầu tư còn có một vài vai trò khác như
làm tăng ngân sách cho chính phủ, góp phần làm ổn định đất nước, mở
rộng ảnh hưởng của quốc gia...
Qua việc phân tích trên ta có thể khẳng định rằng đầu tư là chìa khoá
cho sự phát triển của mỗi quốc gia và cho toàn thế giới.

4.Quản lí đầu tư.

tạo công ăn việc làm , tăng thu nhập cho người lao động
 Tập trung dân chủ:Đòi hỏi mỗi ngành kinh tế phải được đạt dưới một sự
lãnh đạo thống nhất của nhà nước nhưng những ddịnh hướng , chiến lược
chúng phải nhận được sự đóng góp của cấp dưới. Bên cạnh hướng phát
triển chung thì mỗi ngành kinh tế ở mỗi địa phương có thể tuỳ theo đặc
điểm của mình mà có những chính sách phát triển phù hợp
 Quản lí theo ngành kết hợp với quản lí theo địa phương , vùng lãnh thổ.
Đòi hỏi tại mỗi địa phương , từng ngành phải phát triển trong tổng thể chung
của địa phương đó, dảm bảo sự phát triển toàn diện các ngành kinh tế ở địa
phương.
 Kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích : nó đòi hỏi mỗi công cuộc đầu tư
không chỉ đáp ứng đơn thuần là lợi ích tài chính mà còn phải đáp ứng cả
lợi ích xã hôi, lợi ích cộng đồng.
 Tiết kiệm và hiệu quả: đòi hỏi một ngành với vốn đầu tư nhất định, ít các
chi phí mà thu được hiệu quả cac nhất
 Phải đảm bảo thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng
Quản lí hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự thanh công của
các công cuộc đầu tư ở mỗi ngành, mỗi địa phương và trên cả đất nước.

LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

11
5. Kế hoạch hoá đầu tư :
Nó vừa là nội dung, vừa là một công cụ để quản lí hoạt động đầu tư. Công tác
kế hoạch hoá đầu tư có tính chất hướng dẫn ,địn hướng cho việc thực hiện đầu
tư sau đó

5.1 Các nguyên tắc
+ Kế hoạch đầu tư của ngành phải xuất phát từ yêu cầu chung của đường lối
phát triển ngành đó, của cả nền kinh tế và nhu cầu của thị trường trong và

+ phải có quyết định đầu tư ( mới được ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện
dự án)
+ Phải có thiết kế kĩ thuật và tổng dự toán hay thiết kế kĩ thuât và dự toán cho
các giai đoạn đầu tư đối với các công trình lớn.
II. Đầu tư- nhân tố quyết định đối với sự phát triển nông nghiệp

1. Giới thiệu về nông nghiệp
1.1 Khái niệm.
Con người sinh ra trên đời không thể không ăn mà vẫn có thể tồn tại và
phát triển được,cho nên nhu cầu về lương thực thực phẩm là nhu cầu cấp thiết
của loài người. Muốn có lương thực và thực phẩm phải hình thành và phát triển
ngành nông nghiệp.Do vậy mà nông nghiệp xuất hiện từ rất sớm trong đời sống
loài người. Trong suốt một thời gian dài lịch sử nhân loại, ở phương Đông
cũng như phươngTây,nông nghiệp là một ngành cực kì quan trọng, không một
ngành nào có thể sánh được. Ngày nay, nông nghiệp không còn có được vị trí
như trước nữa và cũng là ngành có trình độ phát triển thấp kém hơn so với các
ngành khác trong nền kinh tế vì vậy phát triển nền nông nghiệp mạnh vẫn là
đòi hỏi thiết yếu của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm nông - lâm- ngư nghiệp,
phát triển nông nghiệp cũng có nghĩa là phát triển nông - lâm - ngư nghiệp.
Ngoài ra phát triển nông nghiệp còn gắn liền với phát triển nông thôn và nâng
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

13

và nó không chịu nhiều ảnh hưởng của đất.
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

14
b.Đối tượng sản suất là những cơ thể sống
Một đặc điểm khác nữa của nông nghiệp so với các ngành kinh tế khác là
đối với các ngành này thì đối tượng sản xuất là những sản phẩm hàng hoá còn
đối tượng sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống , đó là nhưng cây trồng
vật nuôi có sẵn trong tự nhiên được con người đem về thuần dưỡng. Những đối
tượng này thường có những qui luật tăng trưởng và phát triển nhất định, mặc
dù đã được con người thay đổi ít nhiều, chúng cũng chịu ảnh hưởng rất mạnh
mẽ của các điều kiện tự nhiên và cũng không thể tăng trưởng quá mức cho
phép của qui luật tự nhiên. Vì những đặc trưng trên mà ngành nông nghiệp có
tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên ,tốc độ
tăng trưởng nông nghiệp có thể đạt cao hơn nếu con người tác động vào các cơ
thể sống này thông qua việc phát triển công nghiệp sinh học để tạo ra những
giống cât trồng mới với năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn. Chúng ta
cũng cần tìm hiểu các qui luật phát triển của các đối tượng sống này để tìm ra
các biện pháp chăm sóc kịp thời và có các loại phân bón tốt nhất vào các thời
điểm cụ thể.
c.Nông nghiệp là ngành sản xuất chịu ảnh hưởng mạnh của các điều kiện tự
nhiên.
Do vậy mỗi sự thay đổi nhỏ của tự nhiên đều ảnh hưởng tới nông nghiệp;
đối với các ngành kinh tế khác, thì mức độ phụ thuộc này là không lớn; như
công nghiệp,thì dù trời có đổ mưa hay có gió lớn thì người ta vẫn tiến hành sản
xuất bình thường và sự thay dổi trong kế hoạch sản xuất là không đáng kể.
Nhưng đối với ngành nông nghiệp thì khác hẳn, mọi sự thay đổi đều có ảnh
hưởng, như đất tốt hay xấu đều ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm.
Nếu thời tiết tốt, phù hợp với yêu cầu , chúng ta đạt được một vụ mùa bội thu
còn nếu thời tiết xấu thì ngược lại. Vì vậy trong nông nghiệp chúng ta cần hạn

thúc đẩy nền nông nghiệp nước ta từng bước đi lên, theo kịp tiến trình phát
triển của cả nước. Có thể nói nền nông nghiệp nước ta ngoài những đặc điểm
chung như nêu ở trên thì có những đặc điểm riêng sau:
Nền nông nghiệp Việt Nam vẫn mang tính truyền thông sâu sắc, chưa có
những thay đổi lớn so với những năm trước đây.Trong suốt thời kì vừa qua ,
nông nghiệp được Đảng và nhà nước quan tâm và đầu tư thoả đáng nên đã có
những bước phát triển mạnh cả về năng suất , chất lượng. Nhưng nhìn chung
thì sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính cá thể và đơn lẻ; mức độ áp dụng khoa
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

16
học kĩ thuật công nghệ vào nông nghiệp là rất ít, đồng thời mức độ cơ giới hoá
trong nông nghiệp là không cao. Thậm chí ở nhiều vùng quê ,sản xuất nông
nghiệp vẫn ở trong tình trạng " con trâu đi trước, cái cày theo sau”. Còn về vấn
đề cây trồng thì trong trồng trọt vẫn ở dạng độc canh cây lúa, trong khi nhiều
nơi thích hợp cho phát triển nhiều loại cây khác lại chưa có chính sách khuyến
khích thoả đáng. Ngoài ra chăn nuôi là ngành sẽ giúp cho nông nghiệp có tốc
độ tăng trưởng cao hơn thì chúng ta vẫn chưa có những chính sách đầu tư phát
triển thích hợp cho nên tỷ lệ chăn nuôi trong toàn ngành nông nghiệp vẫn ở
mức thấp.Trong khi đó hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp, một số vùng nếu có thì đã quá lạc hậu hoặc thiếu đồng bộ còn lại là
rất thiếu. Tất cả những điều này ảnh hưởng rất lớn đối với sản xuất nông
nghiệp
Đất nước ta được chia ra làm 3 miền Bắc - trung - nam với khí hậu và
địa hình rất phức tạp và khác biệt. Nước ta còn có tỉ lệ đồi núi chiếm tới hơn 70
% lãnh thổ, do vậy mà sản xuất nông nghiệp chỉ ở trong những khoảng không
gian nhỏ và khó cho việc áp dụng máy móc .Các vùng đồng bằng có điều kiện
cũng không giống nhau, như đồng bằng sông Cửu Long có độ phù sa lớn, có
thể canh tác 3 - 4 vụ trong năm lại phải chịu lũ lụt hàng năm ; đồng bằng sông
Hồng chỉ có thể sản xuất hai vụ do có mùa đông giá rét. Khí hậu, thời tiết khát

thể phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có.

1.4Vai trò của nông nghiệp.
Chưa khi nào trong lịch sử loài người mà nông nghiệp lại không được coi
trọng. Thế giới dù có hiện đại , dù có phát triển đến mấy thì nông nghiệp vẫn
giữ những vị trí hết sức then chốt và cực kì quan trọng.Sở dĩ nông nghiệp có
được vị trí như vậy vì ngành này có những vai trò sau:
Thứ nhất, nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực thực phẩm duy nhất
cho cả xã hội loài người. Đây là vai trò nổi bật của nông nghiệp.Với vai trò này
nông nghiệp quyết định sự ổn định và phát triển của xã hội loài người. Khi mỗi
con gnười được sinh ra trên đời thì họ không thể không ăn mà có thể lao động,
học tập và cống hiến tài năng của mình cho xã hội. Bởi vì có ăn , chúng ta mới
có thể có đủ năng lượng cung cấp cho cơ thể hoạt động. Xã hội phát triển càng
cao , càng văn minh thì đòi hỏi của con người về lương thực và thực phẩm
ngày cao về lượng và đặc biệt là về chất. Muốn vậy ,đòi hỏi ngành nông nghiệp
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

18
phải không ngừng đầu tư phát triển để nâng cao năng xuất lao động trong sản
xuất nông nghiệp và chất lượng của nông sản.
Thứ hai, đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát
triển thì nông nghiệp vẫn là một ngành kinh tế tạo ra một khối lượng lớn công
ăn việc làm và tạo thu nhập cho người dân. Như ở Việt Nam, hiện nay vẫn có
tới khoảng 70% dân số sống ở nông thôn và cũng một tỉ lệ tương tự làm việc
trong ngành nông nghiệp. Tuy nhiên ,lực lượng lao động trong nông nghiệp
này có trình độ còn thấp kém và mức thu nhập của họ cũng rất thấp.Nhưng
trong tương lai đây là lượng lao động chủ yếu cho nền kinh tế . Vì vậy ,để thúc
đẩy nền kinh tế phát triển nói chung ,cũng như giúp cho nông nghiệp nói riêng
thì chúng ta cần có những chính sách về giáo dục và đào tạo nhằm đào tạo
nghề và nâng cao trình độ cho người nông dân.Với một lượng lớn dân số sống

nữa là nông nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng hơn 30% GDP của các nước đang phát
triển, đây là một tỷ lệ khá cao và cho thấy nông nghiệp có ảnh hưởng mạnh tới
sự tăng trưởng kinh tế của các nước này. Tuy nhiên đây là một dấu hiệu không
đáng mừng , bởi lẽ một đất nướcđược coi có nền kinh tế phát triển và hiện đại
khi có tỷ lệ nông nghiệp trong GDP là thấp ( khoảng dưới 15 % ). Vì thế các
nước này cần có những biện pháp đầu tư ,một mặt vẫn giúp cho nông nghiệp
có tốc độ tăng trưởng cao nhưng mặt khác phải nâng cao tỷ trọng trong GDP
của các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Thứ năm , nông nghiệp là ngành kinh tế đóng vai trò như một nhân tố tạo
vốn, lao động và thị trường cho thời kì đầu của quá trình công nghiệp hoá -
Hiện đại hoá ở các nước đang phát triển. Một nước chỉ có thể tiến hành thành
công công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước khi có đủ vốn và các
nguồn lực. Trong giai đoạn đầu này, công nghiệp và dịch vụ vẫn chưa phát
triển, thì nông nghiệp với ưu thế là ngành truyền thống sẽ tạo được một khối
lượng lớn nông sản có giá trị cao và có thể xuất khẩu ;từ đó tạo ra một nguồn
vốn khá lớn cho ngành công nghiệp. Nông nghiệp cũng là ngành cung cấp đầu
vào cho công nghiệp chế biến. Với lực lượng lao động đông đảo trong ngành
nông nghiệp sẽ là những công nhân với trình độ tay nghề khá cao ( nếu được
chú ý đào tạo và bồi dưỡng hợp lí ) có sự cần cù chăm chỉ ,giá nhân công lại rẻ
, điều này sẽ tạo thuận lợi lớn cho ngành công nghiệp phát triển. Như vậy nông
nghiệp là ngành kinh tế tạo những tiền đề , cơ sở ban đầu cho sự công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nước.
LuËn v¨n tèt nghiÖp §Çu t­ K39

20
Tóm lại, nông nghiệp đối với những nước đang phát triển nói chung và
Việt Nam nói riêng vẫn là ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế xã hội . Đầu tư phát triển ngành nông nghiệp là đòi hỏi tất yếu của nền
kinh tế đất nước hiện nay.


máy móc hiện đại ,tiên tiến như máy cày máy kéo, máy gặt đập, máy xay xát,
các loại xe chuyên chở ...thay thế cho sức người và súc vật trong quá trình sản
xuất. Do có những loại máy móc này mà sản xuất nông nghiệp có thể tiến hành
trên diện rộng và hàng loạt, đồng thời làm tăng năng suất cây trồng vật nuôi lên
rất nhiều lần so với trước đây. Như vậy đầu tư máy móc thiết bị nông nghiệp là
nhân tố thúc đẩy sản suất nông nghiệp ; vì thế chúng ta nên quan tâm và coi
trọng đầu tư cho nông nghiệp một cách thoả đáng. Ở Việt Nam , ngành nông
nghiệp còn sử dụng sức người và súc vật trong khi làm việc là chủ yếu, áp
dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp còn rất hạn chế và ở qui mô nhỏ.
Đầu tư mua sắm những phương tiện này là đỏi hỏi cấp thiết của nền nông
nghiệp. Tuy nhiên chúng ta phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa
phương ,từng lĩnh vực mà mua những máy móc cho thích hợp nhất.
Thứ ba , đầu tư vào lĩnh vức khoa học công nghệ sẽ góp phần tạo ra cho
nông nghiệp những giống cây trồng vật nuôi mới hiệu quả hơn. Mà ta biết
giống là một yếu tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển ngành nông nghiệp
.Mỗi người đều hiểu rằng khoa học công nghệ là động lực cho sự phát triển các
ngành kinh tế và no vẫn là nhân tố quan trọng cho sự phát triển mạnh sản xuất
nông nghiệp. Ngày nay, công nghệ sinh học đang phát triển mạnh mẽ và chiếm
một vị trí ngày càng quan trọng trong đời đời sống kinh tế thế giới. Công nghệ
sinh học ngày càng có những thành công to lớn hơn và là lĩnh vực liên quan
khá chặt chẽ với ngành nông nghiệp.Một phần công nghệ này sẽ được áp dụng
vào sản xuất nông nghiệp. Ở mức độ quốc gia chúng ta cần đầu tư mạnh để
phát triển công nghệ này , đồng thời cần có những chính sách khác để khuyến
khích động viên những nhà khoa học giỏi nghiên cứu và từ đó áp dụng triệt để
những thành quả của nó.Mặt khác, chúng ta nên xây dựng những trung tâm
giống cây trồng vật nuôi với những cán bộ khoa học giỏi về chuyên môn
nghiệp vụ để nghiên cứu ra những giống mới từ kết quả của công nghệ sinh
học . Vì vậy,chúng ta nên có những chính sách để thu hút các nguồn lực trong
và ngoài nước đầu tư vào công nghệ này và thành lập những trung tâm nghiên
cứu áp dụng những kĩ thuật tiên tiến của thế giới và trong nước. Tóm lại , đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status