Băng qua khủng hoảng bằng chiến lược thương hiệu
Không chỉ đến lúc suy thoái chúng ta mới nhìn nhận được chiến lược thương
hiệu tập đoàn nào đã được thực thi đúng đắn và đạt hiệu quả cao. Trên thực
tế có rất nhiều những thương hiệu tập đoàn đã ra đời và phát triển mạnh
ngay cả trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng tồi tệ nhất.
Sức mạnh thương hiệu
Không chỉ đến lúc suy thoái chúng ta mới nhìn nhận được chiến lược thương
hiệu tập đoàn nào đã được thực thi đúng đắn và đạt hiệu quả cao. Trên thực
tế có rất nhiều những thương hiệu tập đoàn đã ra đời và phát triển mạnh
ngay cả trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng tồi tệ nhất.
Procter & Gamble (P&G) kinh doanh sản phẩm gia đình được sáng lập trong
cuộc suy thoái năm 1837. Trải qua nhiều thời kỳ suy thoái thăng trầm, năm
2008, doanh thu của của P&G là 83,5 tỷ USD và đã xây dựng được nhiều
thương hiệu nổi tiếng tại Mỹ như Tide, Pampers, Oral-B, Pantene, Duracell
và Pringles.
Người tiêu dùng luôn tiêu thụ hàng của P&G ngay cả khi kinh tế khó khăn
và thuận lợi, vì thế P&G vẫn đứng vững ngay cả khi kinh tế đi xuống.
Thương hiệu IBM được thành lập trong thời kỳ Khủng hoảng những năm
1873 – 1896. Ngày nay, khi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, IBM vẫn có
doanh thu tốt.
Năm 2008, doanh thu của công ty là 103,6 tỷ USD. Và nhiều thương hiệu
tập đoàn khác như Unilever, Nokia, Sony cũng đã vượt qua nhiều cuộc
khủng hoảng để có được thành công ngày hôm nay.
Một điểm chung dễ thấy trong sự thành công của các tập đoàn thành công và
vượt qua khủng hoảng là họ có một chiến lược hết sức tập trung vào nghành
nghề cốt lõi của mình, nơi họ có nhiều kinh nghiệm và thế mạnh nhất, những
tập đoàn này cả trăm năm cũng chỉ tập trung vào sản xuất những mặt hàng
trong thế mạnh của họ mặc dù họ có thể dùng tiền để đầu tư sang nhiều
ngành khác như tài chính, bất động sản.
có rất nhiều thương hiệu như dầu gội Organic,
Tập trung không có nghĩa là chỉ có ít thương hiệu hay chỉ kinh doanh trong
một ngành nghề. Chiến lược tập trung còn phải được thực thi ở cấp độ ngành
để mở rộng sang một ngành nghề mới bảo vệ hoặc phụ trợ thêm cho ngành
nghề chính của tập đoàn.
Một ví dụ về mặt chiến lược tập trung như tập đoàn Mai Linh với chiến lược
tập trung chính là lĩnh vực vận tải, vận chuyển, kinh doanh taxi.
Để bảo vệ ngành nghề chính và trở thành người dẫn đầu trong ngành đó,
Mai Linh cũng nghiên cứu các ngành phụ trợ cho ngành kinh doanh chính
như các trung tâm sửa chữa bảo dưỡng ô tô, các trường đào tạo lái xe hay
dịch vụ lữ hàng, các trạm dừng chân, hoặc thậm khí ngay cả kinh doanh các
trạm xăng dầu.
Những dịch vụ liên quan trong chiến lược mở rộng không làm yếu đi ngành
nghề chính mà còn làm cho đối thủ không thể theo kịp và trở nên người dẫn
đầu trong lĩnh vực kinh doanh vận tải.
Việc tập trung ở góc độ tập đoàn cũng nên được nhìn nhận một cách đơn
giản hóa và dễ hiểu. Một ví dụ về một tiệm Phở rất ngon nằm cạnh một tiệm
sinh tố cũng rất ngon, cả hai tiệm đều rất đông khách và những thực khách
tới quán phở cũng thường kêu sinh tố từ quán bên cạnh và ngược lại. Người
chủ quán phở thấy rằng nếu bây giờ ta mở rộng sang kinh doanh sinh tố thì
chắc chắn sẽ có lời rất nhiều.
Ông mở thêm một quầy sinh tố nhỏ trong tiệm phở và tự phục vụ sinh tố cho
thực khách. Ông cũng nhận ra được rằng lượng khách dần dần bị giảm đi mà
không biết được nguyên nhân tại sao, trong khi chất lượng của phở cũng
không giảm đi.
Dần ông cũng hiểu ra rằng, trước đây khách đến với ông là để được hưởng
một dịch vụ trọn gói phở ngon của ông và sinh tố ngon của tiệm bên cạnh,
giờ đây, dù phở vẫn ngon nhưng sinh tố thì không còn ngon nữa vì ông chủ
tiệm phở vốn không có kinh nghiệm trong việc tạo ra một ly sinh tố ngon
nên khi mở rộng đã vô tình làm giảm sức mạnh của ngành kinh doanh chính