Tài liệu Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Luồng - Pdf 87

LUỒNGDendrocalamus barbatus Hsueh et D. Z. Li, 1988

Tên khác: Luồng thanh hoá, mạy mèn, mạy sang mú (Thái- Tây Bắc); mét (Thái
và Kinh - Nghệ An)
Họ: Hoà thảo – Poaceae
Phân họ: Tre – Bambusoideae
Luồng
Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Z. Li
1. Thân và cành; 2.Mo thân; 3.Cành mang lá
4. Cụm hoa; 5. Bông nhỏ

Hình thái

Thân ngầm dạng củ, thân khí sinh mọc
cụm, chiều cao thân 15-18m, đường kính
10-15cm, ngọn cong hay hơi rủ, một số đốt
gốc có vòng rễ khí sinh; lóng màu lục xẫm,
chiều dài 26-32cm, phần phẳng dẹt một
phía không lông, phần trên có ít phấn trắng,
bề dày vách thân 2-2,5cm; vòng thân không
nổi lên, chiều dài đốt 1,5cm, ở đốt và phía
dưới vòng mo đều có một vòng lông nhung
màu trắng. Chiều cao dưới cành 0,5-1m.
Mỗi đốt thân có nhiều cành, cành chính 3,
trong đó một chiếc to khoẻ hơn rõ rệt, hay

học của luồng đã được giám định lại từ năm 2004 là Dendrocalamus barbatus Hsueh et D. Z. Li
(Lê Viết Lâm, 2004). Việc thay đổi tên khoa học của loài luồng cũng

đã được sự nhất trí của 2
chuyên gia về định loại tre nứa của Trung Quốc là Giáo sư Li De Zu (Viện Thực Vật Côn Minh)
và Gs Xia nia Nhe - Hà Niệm Hoà (Viện Thực vật Nam Kinh)(2004).

Phân bố

Luồng có thể mọc tự nhiên hoặc trồng thành từng cụm
phân tán ở các huyện ven sông Mã thuộc tỉnh Sơn La. Các
huyện phía Tây tỉnh Thanh Hoá như Quan Hoá, Lang Chánh,
Bá Thước, Ngọc Lạc là vùng trồng rừng luồng tập trung nhất
(vì thế quen gọi là "Luồng thanh hoá"), nhưng luồng ở đây
đều ở dạng cây trồng. Tổng diện tích rừng trồng luồng của
Thanh Hoá đến trên 50.000ha.

Tới nay luồng được trồng nhiều nhất ở Bắc Trung Bộ
hiện đã dẫn giống trồng ở nhiều tỉnh phía Bắc và phía Nam.
Phong trào trồng luồng ở vùng Trung Tâm Bắc Bộ phát triển
rộng khắp, một số loài tre trước đây thường trồng (diễn trứng,
mai...) đã phải nhường ngôi cho luồng. Nghệ An, Yên Bái,
Hoà Bình là các tỉnh có diện tích rừng luồng trồng đứng sau
Thanh Hoá. Giống luồng đưa vào trồng ở các tỉnh miền Nam
chưa được kiểm kê tổng kết. Một số khóm luồng đưa trồng ở
Đông Nam Bộ, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế đều sinh trưởng
bình thường.

Có thể luồng có nguồn gốc từ các tỉnh vùng Tây Bắc Việt
Nam, thuộc vùng Thượng nguồn sông Mã như Sơn La, Hoà

O) = 4,6-7; hàm
lượng P
2
O
5
và K
2
O dễ tiêu thường nghèo; hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp.
Chưa gặp rừng luồng mọc tự nhiên. Luồng được trồng thuần loại, hỗn giao với cây gỗ
hoặc trồng xen từng đám trong rừng thứ sinh với diện tích lớn và cũng được trồng phân tán
một số khóm xung quanh nhà.

Những năm mới trồng, khi rừng chưa khép tán có thể trồng xen cây nông nghiệp như lạc,
đỗ, ngô, sắn... Dưới tán rừng luồng, cây gỗ tái sinh tự nhiên tương đối nhiều như: lim xanh
(Erythrophloum fordii), sòi tía (Sapium discolor), mán đỉa (Archidendron clypearia), hu đay lá
hẹp (Trema angustifolia); nhưng tồn tại lâu dài với luồng chỉ có lim xanh.

Mới gặp luồng ra hoa từng khóm rồi chết và cũng khó tìm được hạt luồng; vì vậy khả năng
phát triển rừng luồng từ hạt chưa thực hiện được. Thân ngầm, thân khí sinh, chét và cành là
phương thức sinh sản vô tính của luồng. Cây măng sau khi định hình, ra cành lá đầy đủ thì
những mầm ở gốc bắt đầu phát triển để cho thế hệ măng tiếp theo. Sinh trưởng của măng có
thể chia thành 3 thời kỳ chính:

- Thời kỳ 1: Măng phát triển ngầm trong đất, khoảng từ tháng 9-10 năm trước đến tháng 4-
5 năm sau.

- Thời kỳ 2: Măng lên nhú khỏi mặt đất và phát triển nhanh về chiều cao, khoảng từ tháng
4-5 đến tháng 7-8 gọi là mùa ra măng.

- Thời kỳ 3: Cây măng phát triển hoàn chỉnh cành lá và rễ, khoảng từ tháng 7-8 đến tháng

2
, mẫu lóng 2846 kgf/cm
2
. Đốt có độ bền khi uốn tĩnh tiếp tuyến 1531 kgf/cm
2

Ngoài vào 1431 kgf/cm
2
và trong ra 1328 kgf/cm
2
; Lóng có độ bền khi uốn tĩnh tiếp tuyến 1603
kgf/cm
2
, Ngoài vào 1578 kgf/cm
2
và trong ra 1418 kgf/cm
2
. Độ bền khi trượt dọc thớ của đốt 70
kgf/cm
2
và lóng 57 kgf/cm
2
.

Vì vậy, dùng luồng làm cột chống, xà đỡ trong xây dựng, giao thông vận tải, chèn hầm lò
rất tốt. Luồng dùng làm nguyên liệu sản xuất ván ghép thanh cho sản phẩm vừa đẹp vừa chắc
bền, được nhiều người ưa chuộng và là mặt hàng xuất khẩu rất có giá trị.

Măng luồng ăn ngon, kích thước lớn nên ngoài ăn tươi còn được phơi khô. Trọng lượng
bính quân của măng luồng là 1,15kg/1măng; tỷ lệ sử dụng khá cao (65-72%). Phân tích măng

+ Cồn: 1g thuốc/8-10cm
3
cồn 96
0
hoặc
+ Rượu trắng 40
0
: 1g/20-25cm
3

Sau khi đã hoà tan như trên, đổ vào bể ngâm với lượng nước lã và quấy đều theo tỷ lệ
sau:
+ 2,4D: hoà tan trong 50 lít nước
+ 2,45T: hoà tan trong 55 lít nước
+ Với muối Kali, Nat ri của 2,4D hoà tan trong 10 lít nước

Ngâm cành ngập phần gốc với độ sâu 10-13cm. Nếu nhiệt độ không khí 20-28
0
C thì ngâm
12-15 giờ. Nhiệt độ không khí trên 29
0
C thì ngâm 9-11 giờ.

Sau khi ngâm cành xong, vớt ra ủ trong mùn cưa (1kg mùn/lít nước lã) hoặc cát ẩm (1kg
cát khô/0,5 lít nước). Cành xếp nghiêng 60
0
, cứ một lớp cành, một lớp cát hoặc mùn cưa dày
20cm.

Ủ 20-23 ngày, cành đã có rễ cám, 15 ngày đầu giữ độ ẩm của mùn cưa hoặc cát khoảng

.
lèn chặt, tưới ẩm rồi tiếp
tục cho hỗn hợp đất phân đầy bầu.

Bầu đặt cách nhau 15cm trên luống, phủ kín đất đến 1/2 chiều cao bầu. Vườn có giàn che
ánh sáng.
Chăm sóc như đối với cây ở vườn ươm.

Trồng và chăm sóc:

- Vụ trồng luồng chính vào xuân và vụ phụ vào thu.

- Chọn vùng trồng luồng: Phải chọn vùng có điều kiện địa hình, khí hậu và lập địa phù hợp
với đặc tính sinh học của luồng. Ảnh hưởng của vùng trồng tới sinh trưởng của luồng là rất rõ.
Dưới đây là các kết quả điều tra của Nguyễn Ngọc Bình (Bảng 1):

Bảng 1. So sánh phẩm chất luồng ở Lang Chánh và Phú Điền

Địa phương
Chiều cao cây (m)
Chiều dài của dóng
ngang ngực (cm)
Đường kính gốc
(cm)
Bề dầy của thân ở
gốc (cm)
Lang Chánh
(Thanh Hoá)
21-23 25-28 8,5-10,0 2,3-2,5
Phú Điền (Thừa


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status