Tài liệu Đặc điểm và phân bố của các loài cây lâm nghiệp- Cây Phi lao - Pdf 87

PHI LAO

Casuarina equisetifolia Forst & Forst.f., 1776

Tên khác: Xi lau, dương, dương liễu
Họ: Phi Lao – Casuarinaceae Hình thái

Cây gỗ thường xanh, trung bình hay
lớn, cao 15-25cm, đường kính 20-40cm
hay hơn. Vỏ nâu nhạt, bong thành mảng,
thịt nâu hồng. Cành nhỏ, có đốt, màu xanh
lá cây và làm nhiệm vụ quang hợp thay cho
lá. Lá tiêu giảm thành vảy nhỏ, bao quanh
các đốt của cành, dài 1-2mm.

Hoa đơn tính, cùng gốc. Cụm hoa đực
hình đuôi sóc, gồm rất nhiều hoa đực mọc
vòng, không có bao hoa; chỉ gồm 1 nhị, lúc
đầu có chỉ ngắn, sau kéo dài; bao phấn 2 ô.
Cụm hoa cái đơn độc, mọc ở ngọn các
cành bên; hoa cái cũng không bao hoa,
đính vào nách của 1 lá bắc. Bầu 1 ô, 2
noãn, nhưng chỉ một noãn phát triển. Quả
tập hợp trong một cụm quả (quả phức)
hình bầu dục, hoá gỗ với các lá bắc tồn tại.
Hạt 1, không có nội nhũ.

Các thông tin khác về thực vật


Phân bố của phi lao ở Việt Nam
Phân bố

Cây có nguồn gốc châu Úc, hiện nay đã được trồng ở
hầu hết các nước Đông Nam Á, các nước châu Á và châu
Phi nhiệt đới.

Người Pháp đã đem cây Phi lao vào trồng ở Việt Nam từ
năm 1896. Hiện nay phi lao đã trở thành một trong những
loài cây gỗ quen thuộc của Việt Nam. Hầu hết các tỉnh ven
biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang đều trồng phi lao trên
các bãi cát ven biển. Nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam trồng phi
lao làm cây chắn gió, cây ven đường lấy bóng mát, hay trong
công viên làm cây cảnh.

Đặc điểm sinh học

Phi lao có phạm vi thích ứng về mặt khí hậu tương đối
rộng, từ khu vực xích đạo mưa nhiều, lượng mưa trung bình
năm trên 2.000mm và không có mùa khô, đến khu vực khí
hậu gió mùa có lượng mưa thấp 700-800mm và mùa khô kéo
dài 6-7 tháng. Nhưng ở các khu vực này, phi lao thường
sống trên các bãi cát ven biển. Thích hợp các loại đất cát pha
nhẹ, tốt, sâu, ẩm, thoát nước, độ pH 6,5-7,0.

Cây sinh trưởng nhanh, cành lá xum xuê, hệ rễ phát triển, rễ cọc ăn sâu đến 2m, rễ ngang
lan rộng và có vi khuẩn cố định đạm Frankia; có thể chịu được gió bão cấp 10, chịu được cát
vùi lấp, trốc rễ. Thân cây chịu được cát va đập, nếu cây bị cát vùi lấp, nó có thể ra lớp rễ phụ
mới ở ngang mặt đất vì vậy ở Việt Nam, tới nay phi lao vẫn là cây gỗ số một được trồng trên


Đây cũng là loại cây trồng chắn gió cho đồng ruộng rất phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
và duyên hải miền Trung. Gần đây một số dự án trồng phi lao ven biển để làm nguyên liệu giấy
và ván dăm đã được tiến hành thử nghiệm ở một số tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.

Phi lao cũng được dùng làm thuốc. Rễ cây dùng làm thuốc chữa ỉa chảy và lị.

Do các cành và thân phi lao chịu cắt uốn nên còn dùng làm cây cảnh, cây bómg mát và cây
bon sai.

Kỹ thuật nhân giống, gây trồng

Nhân giống:
Thu hạt từ cây 10 tuổi trở lên (chu kỳ sai quả của phi lao là 2 năm). Quả chín vào tháng 9-
10 khi vỏ quả chuyển từ xanh sang vàng nhạt, một số mắt quả mở ra để tung hạt ra ngoài.
Mang quả về vun thành đống, ủ 2-3 ngày cho quả chín đều; mỗi ngày đảo một lần. Khi quả chín
đều, phơi 3-5 nắng nhẹ để hạt tách ra. Hong khô hạt 2-3 ngày nơi râm mát. Khi khô đưa vào
bảo quản. Thường 30-35kg quả được 1kg hạt. Có khoảng 650.000-700.000hạt/1kg. Tỷ lệ nảy
mầm đạt 35-50%. Nếu được giữ ở nhiệt độ ổn định 5-10
0
C, hạt có thể duy trì khả năng nảy
mầm đến 1-2 năm.

Trước khi gieo cần ngâm hạt trong nước ấm (45
0
C) và để nguội dần, sau 10-12 giờ vớt ra
cho vào túi vải ủ trong bao tải. Mỗi ngày rửa lại trong nước ấm (30-40
0
C) 1 lần. Khi hạt nứt
nanh đem gieo vào khay cát. Sau 8-10 ngày, khi cây mầm cao 2-3cm, nhổ cấy vào bầu. Bầu có


Kích thước hố trồng 30x30x30cm hoặc 40x40x40cm. Mật độ trồng ở vùng đồng bằng
3.300cây/ha, ở vùng cát di động 5.000cây/ha. Khi trồng phải chú ý chôn sâu, nện chặt, có thể
sâu 1/3 thân cây và nên bón lót bằng phân chuồng hoai hoặc rong biển (theo kinh nghiệm lâm
trường Nam Quảng Bình, bón 0,5kg phân rong biển + 50g phân lân vi sinh cho 1 gốc).

Chăm sóc: Vùng đồng bằng phải chăm sóc trong 2 năm đầu, mỗi năm 2-3 lần làm cỏ xới
đất, vun gốc. Ở vùng cát phải chăm sóc 3 năm đầu; chú ý bắt sâu đục thân và bón thúc 1 năm
1 lần với liều lượng 0,5kg phân rong biển + 50g phân lân vi sinh cho 1 gốc.

Khai thác, chế biến và bảo quản

Phi lao chủ yếu trồng để tạo rừng phòng hộ nên trong quá trình trồng chỉ chặt vệ sinh. Sau
40-50 năm khi cây già cỗi, hết tác dụng phòng hộ sẽ chặt trắng, trồng lại toàn bộ dải rừng. Nếu
dùng làm củi thì chặt theo chu kỳ 6-15 năm. Thường việc thu vỏ được kết hợp với việc chặt lấy
gỗ. Vỏ được bóc ngay sau khi cây bị chặt xuống.

Năng suất. Trong điều kiện lập địa tốt, thì lượng tăng trưởng của phi lao là 10m
3
/năm trong
vòng 10 năm. Ở Ấn Độ, rừng phi lao làm củi trồng cự li 1-2x1-2m với chu kỳ 6-15 năm cho
năng suất 50-200 tấn gỗ/ha. Trọng lượng khô của thân và cành trên một cây phi lao 3 tuổi, biến
động từ 15-25kg.Trong 1ha rừng phi lao có thể thu được 4 tấn/ha để làm củi.

Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn

Phi lao là một loài cây LSNG đa tác dụng. Ngoài khả năng cung cấp gỗ, củi, tanin, thuốc
chữa bệnh, nguyên liệu cho công nghiệp giấy, phi lao còn là một cây bảo vệ và cải tạo môi
trường, đặc biệt là vai trò chắn gió và chống cát bay. Ở Trung Quốc người đã trồng dải phi lao
dài 3.000km dọc theo bờ biển. Ta nên tăng cường trồng loài cây này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status