Giá – chính sách giá trong kinh doanh lữ hành của công ty Du lịch – dịch vụ Tây Hồ - Pdf 87

LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, khi nói đến thuật ngữ "du lịch" thì mọi người đều biết, vì
vậy Du lịch ra đời từ rất lâu đời khi nền kinh tế phát triển ngành Du lịch
cũng phát triển theo. Du lịch có vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế và xã hội. Du lịch không những là sự giao lưu giữa quốc gia này
với quốc gia khác, giữa nền văn hoá này với nền văn hoá khác mà còn là
chiếc cấu nối đi tới hoà bình. Khi du lịch phát triển ở một vùng nào đó,
một quốc gia nào đó cũng có nghĩa rằng ở đó có nền chính trị ổn định và
thúc đẩy kinh tế phát triển. Nhưng để du lịch phát triển tốt, ngoại trừ có
nền chính trị ổn định, một nền văn hoá phong phú đặc sắc ra, điều quan
trọng không kém đó là chính sách giá được sử dụng như thế nào?
Trên thị trường hiện nay, giá đã nhường chỗ cho chất lượng song
không có nghĩa là nó không có vai trò gì trong quyết định của khách du
lịch đối với một thị trường du lịch. Nhu cầu và mong muốn của khách du
lịch có thực hiện được hay không hay nói cách khác nó có trở thành cần
hay không điều đó phụ thuộc và khả năng thanh toán, và điều người ta cần
xem xét đó là giá cả. Định giá sản phẩm, dịch vụ là vấn đề cực kỳ quan
trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ sản phẩm đến lợi
nhuận và do đó có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của công ty. Vì
thế trong quá trình kinh doanh không thể định giá một cách chủ quan tuỳ
tiện và càng không thể xuất phát từ lòng mong muốn cũng vì lý do đó mà
phải vận dụng chính sách giá như thế nào cho hợp lý và thu được lợi
nhuận tối ưu cho công ty xuất phát từ lý do mà tôi đã chọn đề tài "Giá -
chính sách giá trong kinh doanh lữ hành của công ty Du lịch - dịch vụ Tây
Hồ (thực trạng và giải pháp thu hút khách)". Việc chọn đề tài này là nhằm
mục đích phân tích thực trạng của hoạt động kinh doanh và nội dung
chính sách giá đã áp dụng, những tồn đọng và một vài biện pháp kiến nghị
nhằm hoàn thiện nâng cao chính sách giá của công ty trong những năm
tới.
Phương pháp nghiên cứu:
Dùng phương pháp duy vật biện chứng, việc thu thập thông tin từ

người đi du lịch và đến năm 2010 là 1 tỷ người.
Do sự phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng của dân số và sự phát
triển nhanh chóng của giao thông vận tải, du lịch ngày càng phát triển
mạnh mẽ.
Do phạm vi và góc độ nghiên cứu đa dạng, cho nên khái niệm về du
lịch được đề cập rất khác nhau.
- Theo định nghĩa của nhà kinh tế Kens: "Du lịch là hiện tượng những
người ở chỗ khác ngoài chỗ ở thường xuyên đi đến bằng phương tiện giao
thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch".
- Theo định nghĩa của hai nhà kinh tế Hunsker và Kraff: "Du lịch là
tập hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh trong những cuộc hành
trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu như việc lưu trú
đó không trở thành lưu trú thường xuyên và không có hoạt động kiếm
lời".
3
- Định nghĩa Bách khoa về Du lịch (Viện hàn lâm)
"Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực
hiện một dạng hành trình là một công nghiệp liên kết nhằm thoả mãn các
nhu cầu của khách du lịch, du lịch là một cuộc hành trình mà một bên là
người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những
công cụ làm thoả mãn nhu cầu của họ".
- Định nghĩa trường Đại học Praha (Cộng hoà Séc)
"Du lịch là tổng hợp các hoạt động kỹ thuật kinh tế và tổ chức liên
quan đến cuộc hành trình của con người mà việc lưu trú của họ ngoài nơi
ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, ngoại trừ mục đích hành
nghề và thăm viếng có tính chất định kỳ".
- Định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ)
"Du lịch là sự kết hợp với tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá
trình phục vụ du khách:
1.1.2. Cầu về du lịch:

Đây là những nhu cầu có tất cả ở mọi cá nhân. Chính vì vậy mà những sản
phẩm dịch vụ này có sức thu hút lớn đối với mọi tầng lớp dân cư mọi lứa
tuổi trên trái đất, nó không phân biệt kẻ giàu người nghèo chính vì vậy
gây nên sự phân tán trong nhu cầu du lịch. Nó phân tán về mặt địa lý. Nhu
cầu du lịch không cố định ở một quốc gia mà nó bao trùm lên toàn thế
giới ở tất cả những nơi nào có con người. Đây là một điều khó khăn cho
các Công ty lữ hành là làm thế nào để thu hút được nhu cầu về phía mình.
Tuy nhiên ở từng mức độ khác nhau thì nhu cầu có khả năng thanh toán
cũng có một tính tập trung tương đối. Đặc biệt với nhu cầu có khả năng
thanh toán cao. Thông thường, những nhu cầu này thường tập trung nhiều
hơn ở những nơi, những khu vực có nền kinh tế và văn hoá xã hội phát
triển.
+ Cầu trong du lịch dễ thay đổi
Cầu trong du lịch dễ thay đổi hay dễ dịch chuyển từ loại sản phẩm
dịch vụ này sang một loại sản phẩm dịch vụ khác. Ví dụ: cùng đi du lịch
biển nhưng du khách có thể thay đổi từ việc tắm biển bằng cách trò chơi
thể thao dưới biển, du lịch thám hiểm biển. Hoặc ngay trong cùng ý định
5
đi du lịch thì du khách có thể thay đổi du lịch nghỉ biển bằng du lịch nghỉ
núi.
Mặt khác, do đặc tính của sản phẩm dịch vụ trong du lịch rất đa dạng
về hình thức và chủng loại. Hơn nữa, có một đặc tính quyết định là cùng
với một số tiền nhất định du khách có quá nhiều hàng hoá và dịch vụ để
lựa chọn mà những hàng hoá và dịch vụ này vẫn đem lại cho du khách
những cảm giác thoái mái như nhau. Đây chính là sự khác biệt lớn của sản
phẩm và dịch vụ trong du lịch đối với sản phẩm và dịch vụ của hàng hoá
thông thường, đây cũng chính là điều thúc đẩy ảnh hưởng tới tính dễ thay
đổi của cầu trong du lịch. Ngoài những nguyên nhân trên đây tính dễ thay
đổi của cầu trong du lịch còn là kết quả tác động của các nhân tố như:
điều kiện tự nhiên, mùa vụ và tâm lý của khách du lịch. Nhưng ở đây

lịch của bất kỳ một công ty du lịch nào cả mà họ tự lập ra chương trình du
lịch cho chính họ. Với cách thức này du khách sẽ đáp ứng tối đa nhu cầu
của mình về tuyến địa điểm du lịch, phương tiện vận chuyển và đặc biệt
có thể tiết kiệm tối đa chi phí cho chuyến đi. Thế nhưng một thực tế cho
thấy với kiến thức, kinh nghiệm và mối quan hệ của mỗi người không cho
phép họ làm được một chương trình hoàn thiện cho mình đặc biêt là tổ
chức cho một nhóm đông người cùng đi. Trong chuyến đi du khách sẽ gặp
rất nhiều bất trắc có thể xảy ra. Nhất là tổ chức các chương trình tới
những vùng mà du khách chưa đặt chân tới. Du khách chưa có đầy đủ
những thông tin để phục vụ cho chuyến hành trình. Ngoài tính thời vụ
trong du lịch gây ra không ít khó khăn cho du khách. Khi đó những
chuyến đi do du khách tự lập ra tính hoàn thiện sẽ giảm tới tức là chất
lượng của chương trình bị giảm. Du khách sẽ không cảm thấy thoả mãn
với chuyến đi. Chính vì điều đó mà du khách có mong muốn đó là được đi
du lịch theo chương trình du lịch mà các công ty, các hãng lữ hành du lịch
bán theo giá trọn gói, và điều này thuộc phạm vi kinh doanh của các hãng
lữ hành.
+ Tính đàn hồi của cầu
Không như đối với các sản phẩm khác: Nhu cầu đối với sản phẩm
dịch vụ trong du lịch có một sự đàn hồi giữa khối lượng du khách với giá
cả rất phức tạp do nhu cầu trong du lịch phụ thuộc vào nhiều đặc tính tâm
lý, văn hoá truyền thống của du khách đặc biệt là tính thời vụ trong du
lịch. Các nhân tố đó tác động tới khả năng đàn hồi của cầu.
Đối với mỗi chủng loại sản phẩm dịch vụ nhất định ví dụ như du lịch
leo núi, nghỉ biển... thì khả năng đàn hồi của cầu rất lớn. Do trong cùng
một chủng loại có rất nhiều sản phẩm, dịch vụ tương tự nhau vô cùng có
7
tính hấp dẫn như nhau. Do đó một sự thay đổi nhỏ nhất trong giá cũng dẫn
tới một sự thay đổi lớn về khối lượng du khách đó là một tác động của lợi
ích vật chất. Tuy vậy nhưng tính đàn hồi của một chủng loại sản phẩm lại

8
bằng đường hàng không với các chủng loại máy bay ngày càng hiện đại
với các thuyền bay trên biển với vận tốc 100 hải lý/ giờ. Du khách có thể
đi đến những nơi xa hơn mà vẫn có nhiều thời gian dành cho tham quan
nghỉ dưỡng và phục hồi sức khỏe.
* Điều kiện hoà bình ngày càng ổn định đòi hỏi các quốc gia mở
rộng giao lưu kinh tế. Mối quan hệ về xã hội và kinh tế giữa các nước
được mở rộng hơn. Do đó du lịch có điều kiện phát triển hơn.
Nói chung nhu cầu và khả năng do du lịch ngày một tăng cả về số
lượng và chất lượng.
+ Sự thay đổi về hướng và về phân bố của luồng khách Du lịch quốc
tế. Trước đây, nguồn khách du lịch quốc tế chủ yếu tập trung vào Địa
Trung Hải, Biển Đen, Vịnh Caribe về mùa hè. Còn về mùa đông, thì tập
trung ở vùng núi châu Âu như dãy Anpơ... Ngày nay, nhu cầu du lịch thay
đổi họ mong muốn tìm hiểu và phát triển những điều mới mẻ ở vùng châu
á- Thái Bình Dương.
Sự phân bố của luồng khách Du lịch quốc tế có sự thay đổi rõ rệt tỷ
trọng khách du lịch đến châu Âu và châu Mỹ là hai khu vực có vị trí quan
trọng nhất của nền du lịch thế giới có xu hướng giảm rõ nét trong 30 năm
gần đây. (1960-1990) giảm từ 96,7% xuống 83,5%. Ngược lại vùng Châu
á - Thái Bình Dương tỉ lệ đó tăng lên rõ rệt từ 0,98% lên 10, 94%.
+ Có sự thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của khách du lịch. Những năm
trước đây, tỉ trọng chi tiêu của khách du lịch dành cho các dịch vụ cơ bản/
dịch vụ bổ sung (vui chơi, giải trí) = 7/3 song cho đến nay tỉ trọng đó là
3/7. Khách tập trung vào các dịch vụ vui chơi giải trí nhiều hơn.
+ Khách du lịch chỉ sử dụng một phần dịch vụ của các tổ chức kinh
doanh du lịch nhiều khi họ không mua các chương trình du lịch hoặc là
các chương trình trọn gói nhất là khách du lịch vì họ được tự do nếu như
họ đi và phần trăm trọn gói được giảm giá nhưng bị các đại lý ăn chặn do
đó tổng giá trong dịch vụ trọn gói lớn hơn bán lẻ. Do đó họ thiệt thòi và

1.2.2. Cung trong du lịch
- Khái niệm: "Cung trong du lịch là khả năng cung cấp các hàng hoá
và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu trong du lịch. Nó bao gồm toàn bộ
hàng hoá và dịch vụ được đưa ra thị trường trong một thời gian nhất
định".
- Cung du lịch là một phần của cung hàng hoá do đó nó chịu tác động
của các yếu tố như cung hàng hoá song có khác biệt sau:
10
+ Cung trong du lịch chủ yếu là cung về du lịch: Trong nền kinh tế
hàng hoá khi xuất hiện nhu cầu thì tất yếu phải có cung để đáp ứng nhu
cầu đọ. Đây là 2 mặt của một vấn đề mua bán và trao đổi hàng hoá, dịch
vụ chúng luôn đi cùng với nhau tác động tới nhau. Nhiều nơi nhiều lúc
cung là gợi mở nhu cầu tiềm năng.
Đối với cung trong du lịch cũng như cung của hàng hoá nói chung
chịu tác động của những yếu tố: công nghệ, giá cả của các yếu tố sản xuất
(thay thế) số lượng người bán, sự mong chờ. Tuy vậy, trong du lịch cung
cũng có một vài điểm riêng biệt như sau:
+ Cung trong du lịch chủ yếu là cung về dịch vụ: Đây là những đặc
điểm riêng biệt của du lịch. Đặc điểm này bắt nguồn từ đặc điểm của các
hàng hoá du lịch chủ yếu là dịch vụ. Do cầu trong du lịch rất phức tạp và
đa dạng nên cung trong du lịch cũng phải bao gồm sự phối hợp của nhiều
ngành và nhiều lĩnh vực từ giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây
dựng... Điều này thể hiện tính khác biệt cao giữa các yếu tố cấu thành sản
phẩm dịch vụ trong du lịch đặc biệt là chương trình trong du lịch.
+ Cung trong du lịch mang tính cố định và thụ động
Cung trong du lịch không tự đến được với cầu như hầu hết các sản
phẩm hàng hoá khác. Nó chỉ có thể ở nơi, tài nguyên du lịch ở Trung
Quốc nếu muốn xem người ở nơi khác không thể mang về xem được mà
phải đến tận nơi xem. Do đó cung trong du lịch là cố định. Nó chỉ được sử
dụng khi du khách đến nơi và tiêu thụ nó tức là xem xét nó chứ không chủ

các chương trình du lịch. Quan hệ cung và cầu có liên quan đến vai trò
của các công ty lữ hành du lịch từ đó đưa ra chính sách giá hợp lý cho các
chương trình du lịch.
1.3. Quan hệ cung cầu du lịch và vai trò của các công ty lữ hành
Sự tồn tại của các công ty lữ hành là một tất yếu khách quan. Nói
như vậy là vì chỉ có các công ty lữ hành mới giải quyết được tính phức tạp
và tính mâu thuẫn trong mối quan hệ cung cầu du lịch. Tính phức tạp và
tính mâu thuẫn này thể hiện ở các điểm sau đây:
- Cung du lịch mang tính chất cố định, không thể di chuyển còn cầu
du lịch thì phân tán ở khắp mọi nơi. Thể hiện các tài nguyên du lịch, phần
lớn các nhà cung cấp sản phẩm du lịch như: khách sạn, nhà hàng, vui chơi
giải trí. Không thể cống hiến những giá trị của mình đến tận nơi ở của
khách du lịch. Để có được những giá trị nói trên thì khách du lịch phải rời
khỏi nơi ở thường xuyên của mình đến với tài nguyên, đến với sản phẩm
du lịch của nhà cung cấp. Muốn tồn tại được buộc nhà cung cấp sản phẩm
12
du lịch bằng mọi cách thu hút khách đến với cơ sở của mình từ đó trong
du lịch chỉ có dòng chuyển động 1 chiều của cầu đến với cung. Không có
dòng chuyển động ngược chiều như các hoạt động kinh doanh khác. Để
giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi phải có các công ty lữ hành đứng ra
chắp nối cung và cầu.
+ Cầu du lịch mang tính tổng hợp trong khi đó mỗi một nhà cung cấp
sản phẩm du lịch chỉ có thể đáp ứng được một trong một vài nội dung của
cầu. Tính độc lập của các thành phẩm trong cung du lịch gây không ít khó
khăn cho khách trong việc tự sắp xếp bố trí các hoạt động để có một
chuyến đi như ý muốn có họ và để giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi phải
có các công ty lữ hành.
+ Các nhà cung cấp sản phẩm du lịch gặp nhiều khó khăn trong việc
quảng bá sản phẩm củamình. Trong khi đó, khách du lịch không có đủ
thời gian và khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin và khả năng để tự tổ

Muốn kinh doanh phải có thông tin của thị trường. Thông tin về giá
là thông tin đầu tiên, quan trọng nhất mà mọi người kinh doanh phải tìm
biết vì không có thông tin này, không có cơ sở để ra quyết định kinh
doanh của công ty. Vậy giá là gì?
- Theo khái niệm cổ điển: "Giá là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng
hoá".
Khái niệm này lột tả được bản chất của phạm trù giá cả.
- Theo khái niệm về giá gắn với hành vi trao đổi hay thị trường "Giá
là một tương quan trao đổi trên thị trường giữa 1 bên là hàng hoá với 1
bên là tiền tệ".
- Khái niệm về giá trong du lịch
Trong kinh doanh lữ hành: "Giá thành của chương trình du lịch là
toàn bộ những chi phí trực tiếp mà công ty lữ hành phải chi trả để tiến
hành thực hiện một chương trình du lịch nào đó". Giá thành của một
chương trình du lịch là xác định cho một khách du lịch cũng phụ thuộc
vào số lượng khách du lịch trong đoàn. Vì vậy, người ta nhóm toàn bộ chi
phí vào 2 loại cơ bản.
+ Chi phí biến đổi là chi phí tính cho một khách du lịch. Nó bao gồm
chi phí của tất cả các loại dịch vụ và hàng hoá mà đơn giá của mỗi loại
này quy định cho từng khách. Các chi phí này thông thường gắn liền trực
tiếp với sự tiêu dùng riêng biệt của từng khách.
+ Chi phí cố định: là chi phí tính cho cả đoàn khách, loại này bao
14
gồm tất cả các chi phí của các loại hàng hoá và dịch vụ mà đơn giá của
chúng được xác định cho cả đoàn khách. Nhóm chi phí này thường là các
chi phí mà mọi thành viên trong đoàn đều tiêu dùng chung, không bóc
tách được cho từng thành viên.
Có nhiều loại giá trong kinh doanh lữ hành.
- Giá trọn gói: Giá bao gồm hầu hết các loại dịch vụ và hàng hoá
phát sinh trong quá trình đi du lịch. Đây là hình thức chủ yếu cảu các

2.2.1. Mục tiêu của chính sách giá:
Chính sách giá có 2 mục tiêu sau đây:
- Khối lượng bán: Việc tăng tối đa khối lượng bán hay ít ra đạt được
một khối lượng bán đáng kể luôn luôn là mục tiêu quan trọng của công ty.
- Lợi nhuận: Đây là một mục đích thường xuyên của các doanh
nghiệp là điều cuối cùng mà các xí nghiệp công ty khi kinh doanh phải đạt
được chính sách giá cũng không ngoài mục đích đó do ảnh hưởng của giá
tới doanh số của doanh nghiệp.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá:
Việc hình thành giá cả của các sản phẩm chịu tác động của các nhân
tố:
- Luật pháp và chính sách chế độ quản lý giá của Nhà nước.
- Những yêu cầu bắt buộc về phía thị trường đối với ngành du lịch.
- Đặc tính của tài nguyên du lịch đất nước. Điều này hoàn toàn phụ
thuộc vào chất lượng của môi trường thiên nhiên, tài nguyên du lịch các
điều kiện và kết cấu cơ sở hạ tầng.
- Chất lượng sản phẩm: Khi có chất lượng cao của sản phẩm thì có
thể mưu cầu giá cao cho sản phẩm đó.
- Cơ cấu chi phí của sản phẩm: Giá bán phải bù đắp được chi phí và
có lãi. - Sự tác động của các chính sách khác trong Marketing - Mix vì
chính sách giá nằm trong hệ thống các chính sách cảu Marketing - Mix
điều này đưa tới những ảnh hưởng của các chính sách khác tới chính sách
giá cả.
Ngoài các yếu tố trên ra chính sách còn chịu sự tác động của các yếu
tố bắt buộc về thị trường. Đó là quan hệ cung - cầu, mức độ cạnh tranh
trên thị trường, hai yếu tố này sẽ điều chỉnh mức giá của thị trường. Đó là
mức giá để lựa chọn xác định chính sách giá cho phù hợp.
16
2.2.3. Nguyên tắc xác định giá trong các công ty lữ hành:
- Các chi phí phải được tâp hợp đầy đủ và chính xác.

17
Theo phương pháp cộng tiến, giá bán được tính theo công thức:
G = Z + P + Cb + Ck + T
= Z + Z
xp
+ Z
xb
+ Z
xk
+ Z
xt
= Z (1 + X )
Trong đó: G: Giá bán chương trình
P: Lợi nhuận
Cb: Chi phí bán và chi phí quảng cáo
Ck: Chi phí khác: chi phí quản lý
T: Thuế
X: Hệ số các khoản chi phí tính trên giá thành
X

: Hệ số tổng cộng
- Định giá dựa vào cạnh tranh: Theo phương pháp này chi phí cá biệt
không được quan tâm tới mà chỉ căn cứ vào giá trên thị trường của đối thủ
cạnh tranh để định giá của mình.
- Các chiến lược sản phẩm mới
+ Đối với các sản phẩm mới có thể sử dụng những chiến lược định
giá sau:
* Với các sản phẩm mới sáng chế:
*0 Định giá cao (hớt váng sữa): Khi tung ra sản phẩm mới sáng chế
ra thị trường, công ty khác biệt với các sản phẩm khác trên thị

giá borax
9. Chiến lược
giá trị thấp
Cao Trung bình Thấp
- Các chiến lược điều chỉnh giá?:
+ Chiết giá: dành cho những khách hàng quen thuộc hoặc cho khách
hàng thanh toán nhanh, bao gồm:
*2Chiết giá do thanh toán nhan
*3Chiết giá theo kênh phân phối
*4Chiết giá theo mùa
*5 Trợ giảm quảng cáo
+ Thặng giá (theo mùa, theo đối tượng khách và theo tiêu dùng cụ
thể của khách trong chương trình) Thặng giá nhằm mục đích khai thác tối
đa thị trường cũng như nhằm tăng uy tín của chương trình du lịch. Trong
du lịch, giá trị của chương trình du lịch là do cảm nhận cảu khách hàng,
đồng thời các chương trình khác nhau đối với tất cả những đoàn khách
nên chiến lược thặng giá có thể thực hiện một cách dễ dàng có hiệu quả.
+ Định giá phân biệt: Định giá khác nhau cho các đối tượng khách
khác nhau nhằm khai thác triệt để các đoạn thị trường.
3.Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
Như ta đã biết, muốn kinh doanh phải có thông tin của thị trường.
Thông tin về giá là thông tin đầu tiên quan trọng nhất mà mọi nhà kinh
doanh phải tìm biết vì không có thông tin này không có cơ sở để ra các
quyết định kinh doanh của công ty.
Các quyết định giá cho dịch vụ đặc biệt được đưa ra giá trị vô hình
của sản phẩm dịch vụ. Giá được trả cho một dịch vụ báo hiệu cho khách
hàng biết về chất lượng dịch vụ có thể họ sẽ nhận được.
Tầm quan trọng của giá được thể hiện trong các mặt:
19
- Giá là tín hiệu để các công ty lựa chọn các mặt hàng và những khối

ngày 01/07/1995 của Chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Trước
đây, công ty kinh doanh đứng dưới tên Công ty dịch vụ sản xuất Hồ Tây.
Nhưng do sự biến đổi của thị trường đòi hỏi công ty phải có sự cải
tiến rõ rệt trong công tác kinh doanh thêm vào đó là sự phát triển nhanh
chógn của ngành Du lịch Việt Nam cho nên công ty dịch vụ sản xuất Hồ
Tây chuyển thành Công ty du lịch dịch vụ Tây Hồ.
Hiện nay, công ty có các đơn vị trực thuộc sau đây:
- Trung tâm điều hành du lịch
- Khách sạn Tây Hồ - Xí nghiệp xư 2/9
- Phòng kế toán kế hoạch
- Phòng hành chính tổ chức
- Khách sạn Móng Cái
Do đó công ty du lịch - dịch vụ Tây Hồ có một kết cấu như sau:
21
Giỏm đốc
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của công ty
Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước, ngoài nhiệm vụ kinh doanh
sản xuất, công ty còn phải thực hiện công tác phục vụ Trung ương. Những
năm vừa qua, khách sạn và nhà khách đã đón tiếp chu đáo hàng chục đoàn
khách quốc tế của trung ương, Nhà nước và Quốc hội, phục vụ hàng ngàn
lượt khách là các đồng chí lãnh đạo các địa phương tới dự hội nghị và
công tác tại Hà Nội.
Trong công tác kinh doanh năm 1995 thị trường khách du lịch biến
động theo chiều hướng giảm. Vì vậy, các hợp đồng với các hãng du lịch
lữ hành đều giảm, thậm chí nhiều hợp đồng phải huỷ bỏ. Thêm vào đó là
các khó khăn về giao thông, điện, thủ tục hành chính ảnh hưởng không
nhỏ đến việc phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ công tác của công ty. Trước
hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới công ty đã nỗ lực vượt khó khăn để đạt kết
quả cao nhất. Sau đây xét đến kết quả kinh doanh thu được trong 3 năm
1995 - 1997.

hành
chớnh
Phũng kế
toỏn
hành
chớnh
Phũng kế
toỏn
hành
chớnh
1995 hiện đến tháng 12 hoạch
1. Tổng doanh thu 27.050.000 27.633.900 102%
2. Tổng chi phí 21.780.000 22.568.647 104%
3. Tổng thu nhập KT 5.270.000 5.065.288 96%
4. Lợi nhuận thực
hiện
3.234.000 3.087.474 96%
5. Nghĩa vụ nộp 7.739.245 8.546.551 110%
(Nguồn : Báo cáo tổng kết cuối năm c ủa công ty du lịch dịch vụ
Tây Hồ năm 1995)
Do sự nỗ lực cố gắng toàn công ty đã vượt mức doanh thu, tuy nhiên
chi phí ra vượt kế hoạch song công ty vẫn có lãi.
Trên đây là kết quả kinh doanh của toàn công ty, sau đây là kết quả
về kinh doanh lữ hành.
- Doanh thu: 800 triệu đồng về kế hoạch
750 triệu đồng về thực tế
Vậy doanh thu thực hiện được đạt: 93, 75% so với kế hoạch
- Tổng chi phí: Kế hoạch 612 triệu đồng
Thực hiện 556 triệu đồng
- Thu nhập hạch toán: Kế hoạch 408 triệu đồng

Sau đây là kết quả kinh doanh của toàn công ty và trung tâm lữ hành.
Biểu 2: Tình hình thực hiện các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh
chung của toàn công ty năm 1996
Đơn vị tính 1000 VND
Các chỉ tiêu Kế hoạch Ước thực hiện Tỷ lệ %
1. Tổng doanh thu 19.947.000 14.647.900 73%
2. Tổng chi phí (chưa có lương) 15.690.000 13.440.241 85%
- Nộp ngân sách 2.023.935 1.517.613 74%
24
- Nộp Tổng công ty 5.077.000 4.127.535 81%
3. Tổng thu nhập KT 4.257.000 1.027.659 28%
- Quỹ lương 1.857.000 1.207.659 65%
- Thu nhập bình quân 781,8 376,9 48%
(Nguồn: Báo cáo tổng kết cuối năm công ty du lịch dịch vụ Tây Hồ
năm 1996)
Ta thấy, do ảnh hưởng của khó khăn trên mà kết quả kinh doanh của
công ty đạt kết quả thấp so với kế hoạch đặt ra và thấp hơn so với năm
1995.
+ Doanh thu đạt 53% so với năm 1995.
+ Thu nhập hạch toán đạt: 23,84% so với năm 1995.
Riêng với hai chỉ tiêu trên cho thấy kết quả kinh doanh của công ty
đạt quá thấp so với năm 1995 và so với kế hoạch. Nguyên nhân đó là:
- Thị trường khách du lịch biến động phức tạp, lượng khách du lịch
đến Hà Nội không tăng như dự kiến. Trong khi đó, Hà Nội hiện có (1996)
khoảng 378 khách sạn lớn, nhỏ và 770 biệt thự cho người nước ngoài
thuê. Ta thấy, cung tăng mà cầu lại giảm, do đó tất yếu dẫn đến giảm giá
hoặc kinh doanh trốn lậu thuế, phá giá thị trường.
- Khách sạn Tây Hồ lại xa trung tâm, thiếu dịch vụ hấp dẫn khách do
đó doanh thu lại giảm mà lại là đơn vị có tỷ trọng doanh thu lớn.
Đó là với toàn công ty còn về phần lữ hành:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status