Luận Văn
Đề Tài: Các loại bằng chứng kiểm toán và
phương pháp kỹ thuật thu thập bng chứng
kiểm toán
1
1.1. NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI VÀ SỰ GIA TĂNG CỦA NẠN THAM NHŨNG
1.1.1. Tham nhũng
1.1.1.1. Khái niệm về tham nhũng
Tham nhũng là hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với sự hình thành
giai cấp và sự ra dời và phát triển của bộ máy Nhà nước. Tệ nạn tham nhũng
diễn ra ở tất cả các quốc gia không kể giàu nghèo, đang ở trình độ phát triển
như thế nào. Nó xảy ra ở mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá nó tồn tại và
phát triển thường xuyên hàng ngày hàng giờ, nó len lỏi vào mọi mặt đời sống
xã hội và đụng chạm tới lợi ích của hầu hết dân cư. Tham nhũng là một căn
bệnh nguy hiểm, nó gây ra các hậu quả hết sức tai hại về mặt kinh tế, chính
trị, văn hoá, xã hội, nó cản trợ sự phát triển đi lên của xã hội. Và có thể dẫn
đến sự sụp đổ của cả một thể chế. Và nhìn từ góc độ pháp luật: Điều 1, pháp
lệnh chống tham nhũng quy định "Tham nhũng là hành vi của người có chức
vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố
làm trái ý với pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản nhà nước
và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
1.1.1.2. Nguyên nhân của tham nhũng
Những năm gần đây tình hình tham nhũng ở nước ta diễn biến hết sức
phức tạp. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, chính sách
pháp luật để đấu tranh kiên quyết với hiện tượng này, song tham nhũng cũng
chưa có nhiều thuyên giảm. Để đấu tranh có hiệu quả với tình trạng này, một
trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu đó là tìm được các nguyên nhân
làm phát sinh tham nhũng và tìm các biện pháp khắc phục, loại trừ những
nguyên nhân đó. Trước hết phải khẳng định ràng, hệ thống pháp luật và cơ
chế áp dụng nó có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng tham nhũng. Hay nói cách
khác tình trạng tham nhũng ở một quốc gia tại một thời điểm xác định phản
3
ánh mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật cũng như thực trạng áp dụng
tham nhũng nhưng việc triển khai cụ thể chưa bàn kỹ, thiếu những giải pháp
có hiệu quả, tổ chức chỉ đạo chưa chặt chẽ.
Tóm lại, tình trạng tham nhũng phổ biến và nghiêm trọng ở nước ta xét
về mặt chủ quan là hệ quả tổng hợp của 5 nguyên nhân trên, trong đó nguyên
nhân về sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên là nguyên nhân chủ yếu.
1.1.1.3. Sự gia tăng hơn của nạn tham nhũng
Ở vào thời điểm mở đầu của thiên niên kỷ mới, hầu hết tất cả các nước
trên thế giới, không phân biệt giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển phải
đối diện một cách gay gắt với căn bệnh nan y nhức nhối, đó là nạn tham
nhũng. Ở nhiều nước, tham nhũng đã trở thành quốc nạn, không chỉ gây
những hiệu quả to lớn về mặt kinh tế mà còn để lại những hậu quả xã hội
nặng nề, làm băng hoại đến nền tảng đạo đức và tinh thần xã hội. Với quy mô
rộng lớn, tính chất phức tạp và nhiều tác dụng tiêu cực mang tính đa chiều của
nó, tham nhũng đang thực sự nổi lên như một đại dịch - một vấn đề mang tính
toàn cầu xuyên thế kỷ. Bởi vậy cuộc chiến chống tham nhũng đòi hỏi những
nỗ lực to lớn và kiên quyết không chỉ trên phạm vi một quốc gia mà cả sự
phối hợp trên quy mô toàn cầu. Theo đánh giá của ngân hàng phát triển châu
Á (ADB), tham nhũng đang có xu hướng gia tăng tại nhiều châu lục, ở nhiều
nước số thiệt hại do tham nhũng gây ra vượt quá tổng số nợ nước ngoài của
họ. Nhiều nước Đông Nam Á vốn đã phải gồng mình vật lộn với cơn bão táp
khủng hoảng tài chính - tiền tệ lại phải đương đầu với sự tàn phá không kém
của tệ nạn tham nhũng, hối lộ và rửa tiền, khiến cho công cuộc phục hưng
kinh tế đang trở ngại lại càng thêm phần gian nan.
Đối với Việt Nam, Đảng và Chính phủ ta luôn khẳng định chống tham
nhũng một cách kiên quyết và triệt để. Nhằm làm trong sạch bộ máy đảng,
chính quyền và đoàn thể. Báo cáo Chính trị Ban chấp hành TW Đảng khoá
VIII, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh
5
6
số nước châu Phi, châu Mỹ (các nước chậm và kém phát triển) thì việc phát
triển kinh tế là vấn đề rất nan giải. Trong những năm 90, thế giới đã chứng
kiến sự thay đổi lớn lao chưa từng có kể từ đầu thế kỷ đến nay. Sự kiện nổi
bật nhất là sự sụp đổ của mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội Xô viết, kéo
theo đó là sự sụp đổ của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa. Tác động của những sự
kiện đó đối với nền kinh tế thế giới rất to lớn, chúng đã, đang và sẽ diễn ra có
thể cho đến nay chúng ta vẫn chưa lường trước được.
Thực vậy, trong thập kỷ 90 chiều hướng giảm sút nhịp độ tăng kinh tế
toàn cầu có thể tiếp tục. Bảng số liệu mức tăng tổng sản phẩm xã hội (% so
với năm trước) sau đây cho ta rõ chiều hướng giảm sút đó.
Nước 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992
- Các nước XHCN trước đây 2,9 2,0 4,1 1,3 -2,2 -9,7 -16,8
- Các nước phát triển 2,7 3,3 4,4 3,3 2,9 1,6 1,0
- Các nước đang phát triển 2,6 2,9 3,7 4,4 3,3 3,2 3,0
Theo đánh giá của cơ qua dự báo quốc tế, trong những năm tới, mức
tăng tổng thu nhập quốc dân của hầu hết các nước phát triển đều chỉ đạt 0,1%
còn ở một số nước khác là âm còn mức tăng trưởng của các nước đang phát
triển và kém phát triển còn tồi tệ hơn nữa. Từ đó cho thấy, ngay trong những
giai đoạn suy sụp nhất của nền kinh tế thế giới, nhưng các nước phát triển vẫn
giữ được mức tăng trưởng dương dù là nhỏ. Còn các nước khác là âm. Từ đó
cho thấy khoảng cách (hay tụt hậu xa hơn về kinh tế) giữa các nước trên thế
giới là không thể tránh khỏi.
1.2. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI CỦA THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA
1.2.1. Thực trạng của tham nhũng
Từ trước đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng phòng, chống
tham nhũng. Ngay từ năm 1945 sau khi dành được chính quyền, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chăm lo giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao đạo đức cách
mạng, thực hành "cần kiệm, liêm chính". Người đã chỉ rõ : Tham ô lãng phí,
việc đó đã góp phần vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ
8
máy Nhà nước, đảm bảo an ninh chính trị xã hội đất nước. Mặc dù có những
cố gắng quyết tâm nhưng cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta đạt kết
quả còn thấp, hiệu quả rất hạn chế. Có nhiều lĩnh vực và thậm chí ngày càng
nghiêm trọng hơn trước. Tham nhũng xảy ra rộng khắp trong bộ máy nhà
nước, ở hầu hết các ngành các cấp từ trên xuống dưới với quy mô ngày càng
lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn. Đã có nhiều doanh nghiệp nhà
nước, doanh nghiệp tư nhân thua lỗ, phá sản vì tệ nạn tham nhũng. Tệ nạn
tham ô, ăn cắp của công, cố ý làm trái vì động cơ vụ lợi cá nhân, báo cáo sai
sự thật để thanh quyết toán khống, bòn rút công quỹ trong các lĩnh vực để làm
giàu bất chính, lạm dụng chức quyền để nhũng nhiễu… đã lan rộng khắp các
lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, thương binh xã hội. Tham nhũng đã
xâm nhập ngay vào các cơ quan bảo vệ, pháp luật, là những công cụ chủ yếu
trong đấu tranh chống tham nhũng và giữ gìn an ninh trật tự, xã hội.
Một câu hỏi được đặt ra: Vì sao tham nhũng lại diễn ra phổ biến và
nghiêm trọng như vậy? Mặc dù Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chỉ thị,
Nghị quyết, đã tiến hành nhiều cuộc vận động lớn, đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ
rất nghiêm khắc, mặc dù bị cả xã hội lên án, ai ai cũng căm ghét phẫn nộ,
nhưng tệ nạn tham nhũng chưa bị đẩy lùi, ngăn chặn, thậm chí còn phát triển
hơn, nghiêm trọng hơn.
Trước câu hỏi này đặt ra rất nhiều vấn đề như cơ chế chính sách chưa
hoàn thiện, còn sơ hở, về đời sống khó khăn, lương thấp, có người cho rằng vì
phẩm chất đạo đức suy thoái, công tác giáo dục đào tạo cán bộ đảng viên
kém, người thì cho rằng các nhà lãnh đạo không gương mẫu, chưa chống đều
khắp từ trên xuống dưới, công tác điều tra còn bị coi nhẹ, kém hiệu quả, việc
xử lý các vụ tham nhũng chưa nghiệm… Theo báo cáo của Chính phủ tại kỳ
họp thứ 10 khoá IX đã phát hiện và xử lý trên 500 vụ tham nhũng với tổng số
tài sản thiệt hại trên 1,2 tỷ đồng và 34 triệu USD. Đặc biệt năm 1996 ta đã
Nếu như những yếu tố của các chiến dịch chống tham nhũng thành công cho
đến nay đã được hiểu tương đối đầy đủ, thì việc thực hiện và duy trì chúng lại
cực kỳ khó khăn. Bất kỳ yếu tố nào cũng đều có thể góp phần đưa chúng đến
10
chỗ thất bại. Hơn nữa, những nơi mà tham nhũng hoành hành và ăn sâu vào
toàn bộ bộ máy chính phủ, thì các cơ hội để bắt đầu cải cách sẽ rất hiếm hoi
và hàng loạt cản trở sẽ xuất hiện.
Thêm vào đó, áp lực cải cách bắt nguồn từ những đẳng cấp thấp hơn
trong bộ máy quan liêu có thể bị cản trở do sự thiếu vắng ý chí hay sự quan
tâm chính trị trong những công chức ở cấp cao hơn và các quan chức chính
trị. Tại bất cứ trong tiến trình này, sự thiếu vắng một cam kết từ cấp cao nhất
hay tầng thấp nhất đều có thể thực sự phá hỏng những nỗ lực cải cách. Hơn
nữa, cải cách có thể bị đe doạ nếu như, một nhân vật có thế lực không tuân
thủ hay một công chức làm chậm tiến độ của nó.
Cũng như những nỗ lực cải cách phải được sự hỗ trợ rộng rãi, chúng
phải được hướng vào tất cả những người liên quan và hưởng lợi từ tham
nhũng. Những chiến dịch nhằm vào những người vi phạm lặt vặt, hay xử lý
chẳng hạn, một vài thành viên trong những phần tử có thế lực, mà không xử
lý tham nhũng một cách có hệ thống thì sẽ mau chóng làm mất hết hợp pháp
và tạo ra những tấm gương có sức khuyến khích những hành động sai trái tiếp
diễn trong toàn thể các thành viên của xã hội. Cải cách cũng có thể kém hiệu
quả nếu được tiến hành một cách vô tổ chức, phối hợp kém, có tính đột xuất,
hoặc nếu việc dựa quá nhiều vào luật pháp và cưỡng chế sẽ dẫn đến tình trạng
nguy cơ tham nhũng lớn nhất. Cán bộ luật cần giữ một vai trò quan trọng
trong việc xử phạt những kẻ vi phạm, song chúng cần được bổ sung bằng
những cuộc vận động nâng cao nhận thức của dân chúng bằng giáo dục và cải
cách trên diện rộng.
1.2.3. Tác hại của tham nhũng với phát triển kinh tế
Tham nhũng sinh ra hàng loạt tác hại cho xã hội. Tham nhũng gây tổn
quản lý, khắc phục sơ hở, vừa xử lý nghiêm kịp thời mọi vi phạm, tội phạm,
huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lượng đấu tranh. Làm ngăn chặn, đẩy
lùi và loại trừ tham nhũng. Thủ trưởng các cơ quan đơn vị chủ chốt các cấp
phải gương mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham nhũng, trước hết là đối
với bản thân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền với đấu tranh chống
buôn lậu, lãng phí, quan liêu, tập trung vào các hành vi tham ô, chiếm đoạt
làm thất thoát tài sản nhà nước, đòi hối lộ, đưa và nhận hối lộ.
12
Tham nhũng
Tài nguyên
Chức quyền Tài sản khác
Trong
nước
Ký kết móc
ngoặt với nước
ngoài
Đất
đai
Phá hoại công
trình di tích
Tiền
Thông
tin
Phương
tiện làm
việc
13
và lãnh thổ trong khu vực
Để tránh tụt hậu, chắc chắn Việt Nam phải hội nhập vào cộng đồng thế
giới, nhưng hội nhập thế nào, theo hướng nào, theo phương thức nào, tiếp thu
cái gì là một vấn đề lựa chọn mang tính quyết định. Trong khi đang tiếp tục
tiến hành mới và phát triển kinh tế Việt Nam phải đối mặt với chính mình với
quá khứ và di sản của mình.
14
Khi đất nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa thực chất là một cuộc giải phóng xã hội lần thứ 2, theo đó mỗi
tiềm năng của môi cá nhân, mỗi tổ chức kinh tế, xã hội, mỗi địa phương và
vùng lãnh thổ được "giải phóng". Sự kết nối, tác động tương hỗ giữa chúng sẽ
được thực hiện thông qua một cơ chế mới là cơ chế thị trường kết hợp với các
chuẩn mực đạo đức, văn hoá và xã hội mang bản sắc Việt Nam.
Trên một thập kỷ qua, công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
đa đưa đất nước ta thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội, đạt được sự tăng
trưởng cao và liên tục từ năm 1991, đời sống nhân dân đã ngày được cải
thiện, nhiều mặt của đời sống xã hội đã được thay đổi tích cực; nền kinh tế đã
được mở cửa với thế giới gúp Việt Nam sử dụng được các lợi thế so sánh của
mình có được nguồn tăng trưởng quan trọng bên ngoài… Tuy nhiên, cũng đã
xuất hiện nhiều vấn đề mới khiến chúng ta phải suy ngẫm. Các quan hệ kinh
tế thị trường một mặt phá vỡ những cơ cấu và cơ chế kìm hãm phát triển,
nhưng mặt khác cũng gây ra những vấn đề mới, mặt tiêu cực, mặt trái cần
phải được xem xét và xử lý.
2.2. NGUYÊN NHÂN CỦA TỤT HẬU XA HƠN VỀ KINH TẾ
Kể từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) đã lãnh đạo nhân dân
ta vượt qua hết các khó khăn này tới khó khăn khác. Nhân dân ta đã đánh bại
tên thực dân Pháp, đế quốc Mỹ… để xây dựng lên nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà. Và kể từ khi đất nước được hoàn toàn giải phóng Đảng lại lãnh đạo
nhân dân ta trong công cuộc phát triển kinh tế. Song, ngoài những thành tựu
Trung Quốc cùng với việc nhận thức và vận dụng chưa sáng tạo tư tưởng Mác
- Lênin trong mô hình xây dựng kinh tế phù hợp với điều kiện ở nước ta. Khi
đang còn mò mẫm với mô hình kinh tế du nhập nói trên và đang bắt đầu trăn
trở với các vấn đề nảy sinh trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước làm
gián đoạn con đường tìm tòi, sáng tạo mô hình kinh tế mới, mô hình tổ chức
xã hội mới. Như vậy, ở Việt Nam có một sự kết hợp giữa tư tưởng Nho giáo,
tư tưởng Mác - Lênin đã có phần bị giáo điều hoá và được nhận thức, được
nuôi dưỡng trong môi trường chiến tranh lâu dài. Vì vậy mô hình kinh tế Việt
16
Nam là một mô hình rất đặc trưng, pha trộn nhiều màu sắc, phản ánh nhiều xu
thế và rất phức tạp.
Lý luận Mác - Lênin là học thuyết khoa học có vị trí đặc biệt quan trọng
trong sự phát triển xã hội, trong đời sống chính trị thế giới và phong trào công
nhân quốc tế. Nó là nền tảng cho sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế
giới, thể hiện sự khát vọng cao cả của nhân loại, hướng tới một chế độ xã hội
tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này. Việc sụp đổ của
hệ thống XHCN vừa qua không có nghĩa đơn giản là sự sụp đổ của tư tưởng
Mác - Lênin. Với tư cách là một học thuyết khoa học. Tuy nhiên cần ý thứuc
rằng một học thuyết khoa học thì không thể coi nó như kinh thánh và cũng
không thể giáo điều; nó có sự sáng tạo và có những hạn chế tất yếu mang tính
lịch sử. Do vậy, một nhà yêu nước chân chính phải là người có trách nhiệm,
và sứ mệnh làu giàu học thuyết đó về khoa học và thực tiễn để nó tiếp tục có
sức sống như một tinh hoa của nhân loại.
Nhưng đáng tiếc trong quá trình vận dụng tư tưởng Mác - Lênin đã có
sự nhầm lãn giữa mục tiêu và phương tiện, có một sự trái ngược giữa lời nói
và việc làm, có sự xa rời giữa triết lý nền tảng và phương pháp luận khoa học
của nó. Đảng và Nhà nước ta sở dĩ lãnh đạo được cách mạng dân tộc dân chủ
và giải phóng đất nước thành công và được nhân dân tin yêu, ủng hộ chính là
nhờ trước hết vào việc Đảng ta đã đề ra được các mục tiêu phù hợp với lợi ích