Bằng chứng kiểm toán và phương pháp kỹ thuật phân tích để thu thập bằng chứng kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính - Pdf 96

Lời nói đầu
Không ai trong chúng ta có thể phủ nhận vai trò của kiểm toán đối với sự
hoạt động và phát triển của nền kinh tế nói chung cũng như các doanh nghiệp
nói riêng. Nhất là đối với những nước có nền kinh tế đang phát triển như nước
ta hiện nay, kiểm toán đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với
hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Chúng ta có thể hình
dung một cách đơn giản kiểm toán là một yếu tố tích cực đảm bảo cho các
chuẩn mực kế toán được chấp hành nghiêm chỉnh, trật tự kỷ cương của công
tác kế toán được giữ vững, các thông tin kế toán trung thực và có đủ độ tin
cậy. Chính điều đó đã làm cho kiểm toán trở thành công việc rất được quan
tâm không chỉ đối với doanh nghiệp, cơ quan quản lí của nhà nước mà còn
đối với cả các đối tượng khác quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp.
Một trong những yếu tố hết sức quan trọng góp phần làm nên thành công
của cuộc kiểm toán đó là bằng chứng kiểm toán. Vì chất lượng của các bằng
chứng kiểm toán ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của cuộc kiểm toán.
Vì những lý do trên em chọn đề tài: “ Bằng chứng kiểm toán và phương
pháp kỹ thuật phân tích để thu thập bằng chứng kiểm toán trong quy
trình kiểm toán báo cáo tài chính”.
Đề tài của em ngoài Lời nói đầu và Kết luận gồm 2 phần chính sau đây:
Phần I: Cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán và phương pháp kỹ thuật
phân tích trong thu thập bằng chứng kiểm toán.
Phần II:Việc vận dụng các phương pháp kỹ thuật thu thập bằng chứng
kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính.
Phần I
cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán và phương pháp kỹ thuật
phân tích trong thu thập bằng chứng kiểm toán
I. Cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán
1. Khái niệm
•Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500: “ Bằng chứng kiểm toán là
tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được có liên quan đến

Các doanh nghiệp ghi chép các vụ giao dịch trong một loạt sổ sách kế
toán. Những thông tin được rút ra từ sổ sách này rồi sau đó được sử dụng để
làm các báo cáo kế toán. Sổ cái là quan trọng nhất trong số sổ sách đó. Nó
được xác minh bằng những sổ sách khác, như các sổ nhật kí bán hàng và mua
hàng, các sổ cái con nợ và chủ nợ. Kế toán viên phải thẩm tra những sổ sách
này để đảm bảo chắ chắn rằng những giao dịch đã xẩy ra trong năm đã được
ghi chép đúng qui định.
2.1.3. Những sổ sách khác:
Kiểm toán viên có quyền tiếp cận bất kì lúc nào đối với mọi sổ sách mà họ
cần cho mục đích kiểm toán của mình, bất kể là chúng có liên quan trực tiếp
đến việc chuẩn bị báo cáo đó hay không. Kiểm toán viên có thể dụng sổ bảng
lương, sổ tài sản của công ty hay bất kì một sổ sách nào khác để xác minh
những con số trong báo cáo. Họ cũng sẽ mong muốn đọc hết các biên bản
cuộc họp ban giám đốc, nếu như tại đó đã có bàn bạc mọi vấn đề, như một nỗ
lực nắm quyền kiểm soát hay một yêu cầu bồi thường thiệt hại, có ý nghĩa đối
với việc kiểm toán.
2.1.4. Vật chứng:
Sự tồn tại của một tài sản có thể được chứng minh bằng cách kiểm tra vật
chất. Điều này thường cần thiết trong trường hợp hàng tồn kho, tài sản cố
định hữu hình, tiền mặt, giấy chứng nhận cổ phiếu, v.v...
2.2. Tài liệu được tạo ra
2.2.1. Các tài liệu thuyết minh:
Kiểm toán viên cần yêu cầu thuyết minh về mọi vấn đề mà mình chưa
nắm chắc. Điều này thường xảy ra nếu như có một vụ giao dịch có vẻ là đã
được ghi chép một cách khác thường. Kiểm toán viên cũng sẽ yêu cầu giải
thích mọi giả định quan trọng đã đặt ra, như những ước tính tuổi thọ của tài
sản hay giá trị ròng có thể thực hiện được của hàng tồn kho.
Sự việc có một lời giải thích đáng tin cậy, dĩ nhiên, không phải là một
bằng chứng thuyết phục chứng tỏ vấn đề đã được giải quyết đúng đắn. Tuy
nhiên có thể là lời giải thích đó có thể được chứng thực theo một cách nào đó.

2.3. Một số bằng chứng kiểm toán đặc biệt.
Đây là một số bằng chứng đặc biệt thu thập từ một số đối tượng đặc biệt
và thường được sử dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính của kiểm toán,đó
là:
2.3.1. Công việc của chuyên gia.
Do kiểm toán viên không thể hiểu hết tất cả mọi lĩnh vực của xã hội nên
theo chuẩn mực kiểm toán VSA 550 “Các bên liên quan” cho phép họ được
sử dụng ý kiến của các chuyên gia có năng lực, kiến thức và kinh nghiệm cụ
thể trong một lĩnh vực chuyên môn nào đó,ngoại trừ lĩnh vực kế toán và kiểm
toán. Ví dụ như:
Đánh giá tài sản như đất đai và công trình xây dựng,máy móc thiết bị,
tác phẩm nghệ thuật,đá quý...
Xác định số lượng hoặc chất lượng tài sản hiện có như dự trữ khoáng
sản, thời gian hưu ích còn lại của máy móc...
Thẩm định các vấn đề có tính chất pháp lý như quyền sở hữu đối với tài
sản ...
Nhưng khi kiểm toán viên quyết định sử dụng tư liệu của chuyên gia đối
với một khoản mục thì cần phải cân nhắc về tính trọng yếu và sự phức tạp của
khoản mục này, cũng như khả năng thu thập các bằng chứng khác cho khoản
mục. Trước khi sử dụng kiểm toán viên phỉa xem xét về:
Năng lực của chuyên gia: thể hiện qua trình độ chuyên môn, bằng cấp,
giấy phép hành nghề, sự tham gia vào tổ chức nghề nghiệp,kinh nghiệm và
danh tiếng của họ.
Sự khách quan của chuyên gia: rủi ro do thiếu khách quan sẽ tăng nếu
chuyên gia là nhân viên của đơn vị, hoặc có những mối quan hệ nào đó với
đơn vị. Trong trường hợp này, kiểm toán viên phải đưa ra yêu cầu cao hơn ở
chuyên gia, hoặc tốt nhất là mời một chuyên gia độc lập.
Thu thập được các bằng chứng đầy đủ và thích hợp để chứng minh rằng
phạm vi công việc của chuyên gia đáp ứng được mục tiêu kiểm toán. Chẳng
hạn phải xem xét mục đích, phạm vi công việc cua chuyên gia, việc sử dụng

- Báo cáo tài chính được lập và trình bày theo đúng chế độ hay chuẩn
mực kế toán hiện hành.
- Mọi sổ sách kế toán, tài liệu và các biên bản họp Đại hội cổ đông, Hội
đồng quản trị đã cung cấp đầy đủ cho kiểm toán viên.
- Mọi vấn đề cần khai báo theo yêu cầu của chuẩn mực hay chế độ kế
toán đều đã được khai báo đúng đắn trong thuyết minh.
Kiểm toán viên không thể chỉ dựa vào thư giải trình để giảm bớt, hoặc
không thực hiện các thủ tục kiểm toán, bởi lẽ thư này là một loại bằng chứng
có giá trị thấp và hoàn toàn không thể thay thế cho các thủ tục kiểm toán cần
thiết. Thư giải trình có tác dụng chủ yếu là:
- Nhắc nhở các nhà quản lý về trách nhiệm của họ đối với báo cáo tài
chính.
- Lưu hồ sơ kiểm toán và những vấn đề đã trao đổi giữa hai bên.
- Là bằng chứng kiểm toán trong một số trường hợp nhất định. Thí dụ
là bằng chứng duy nhất về ý định của giám đốc là sẽ thực hiện một khoản đầu
tư trong tương lai.
Tuy có giá trị thấp, nhưng như giải trình của giám đốc vẫn là một thủ
tục quan trọng. Do đó khi đơn vị từ chối cung cấp, kiểm toán viên có thể đánh
giá là phạm vi kiểm toán bị giới hạn và đưa ra ý kiến từ chối, hoặc chấp nhận
từng phần.
2.3.3. Công việc của kiểm toán viên nội bộ:
Bộ phận kiểm toán nội bộ được tổ chức là để phục vụ cho các yêu cầu
và lợi ích của đơn vị, tuy nhiên kết qủa kiểm toán của bộ phận này có thể sẽ
hữu ích cho việc kiểm toán viên độc lập khi kiểm toán báo cáo tài chính. Như
vậy, kiểm toán viên đọc lập cần quan tâm đến kết quả kiểm toán nội bộ khi
chúng có liên quan đến cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.
Theo đoạn 13 ISA 610" Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên nội bộ",để
tìm hiểu và đánh giá sơ bộ về kiểm toán nội bộ thì kiểm toán viên độc lập cần
xem xét các tiêu chuẩn sau đây:
"Vị trí trong tổ chức": Là cương vị của người kiểm toán nội bộ trong

cậy thì kiểm toán viên độc lập có thể sử dụng chúng để giảm bớt phạm vi và
các thủ tục cần thiết. Còn nếu không tin cậy, kiểm toán độc lập có thể kiểm
tra lại về những phần việc mà kiểm toán viên nội bộ đã kiểm tra.
2.3.4. Công việc của các kiểm toán viên khác:
Vấn đề này phát sinh khi kiểm toán báo cáo tài chính thích hợp nhất
của một đơn vị. Khi kiểm toán đơn vị, kiểm toán viên chính có thể sẽ sử dụng
đến công việc của các kiểm toán viên chịu trách nhiệm kiểm toán nội một bộ
phận của đơn vị. Các kiểm toan viên này được gọi là các kiểm toán viên
khác. Lúc này, kiểm toán viên chính phải thực hiện những thủ tục cần thiết,
như là:
- Thông qua những công việc cụ thể mà các kiểm toán viên khác đã đi làm
để xem xét năng lực chuyên môn của họ. Thí dụ như việc đăng ký vào các tổ
chứnc nghề nghiệp hay phỏng vấn trực tiếp.
- Thông báo cho kiểm toán viên khác về:
+ Những nghĩa vụ về sụ độc lập đối với đơn vị và các đơn vị cấp dưới
và thu thập văn bản xác nhận việc tuân thủ nghĩa vụ này.
+ Việc sử dụng ác tư liệu và kiểm toán của họ. Ngay khi lập kế hoạch
kiểm toán , kiểm toán viên chính phải xác định các thể thức phối hợp công
việc giữa hai bên, và phải thông báo những vấn đề cần được đặc biệt quan
tâm, những thủ tục nhằm xác định những nhiệm vụ giữa các bên hữu quan,
lịch trình kiểm toán…
+ Những nghĩa vụ trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và lập báo cáo, và
thu thập các văn bản xác nhận việc tuân thủ các nghĩa vụ này.
- Kiểm toán viên chính còn có thể trao đổi về các thủ tục kiểm toán
được áp dụng , thu thập bản tóm tắt về các thủ tục kiểm toán của các kiểm
toán viên khác( ví dụ dưới dạng bản câu hỏi), hoặc xem xét hồ sơ làm việc
của họ…
Tuỳ theo sự đánh giá về trình độ, về múc độ phối hợp trong công việc
và kết quả kiểm toán của kiểm toán viên khác mà kiểm toán viên chỉ sử dụng
những tư liệu này một cách thích hợp. Còn khi nào kiểm toán viên chính thức

và các nghiệp vụ với các bên hữu quan khác.
+ Kiểm tra các nghiệp vụ đầu tư, chẳng hạn như các nghiệp vụ mua hoặ
bán cổ phần của các đơn vị khác.
+ Xác minh hay thu thập thông tin từ các ngân hàng, luật sư, các nhà
bảo lãnh....
Trước khi kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên còn phải thu thập được giải
trình của giám đốc xác nhận đã cung cấp đầy đủ thông tin về các bên hữu
quan, cũng như xác nhận đã công bố đầy đủ những thông tin với các bên này
trong thuyết minh của báo cáo tài chính.
Trước khi hình thành nhận xét, kiểm toán viên cần phải cân nhắc ảnh hưởng
của các bên hữu quan và của các nghiệp vụ đối với báo cáo tài chính. Nếu
nhận thấy rằng sự thể hiện các thông tin là không tuân thủ các chuẩn mực kế
toán, thì tuỳ theo mức độ mà kiểm toán viên phát hành báo cáo kiểm toán
thích hợp
3. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán.
Kiểm toán viên thường hay phải đứng trước một loạt những nguồn bằng
chứng khác nhau. Họ phải có một công cụ nào nó để quyết định xem nguồn
nào thích hợp nhất với một mục tiêu nhất định.
3.1. Tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán
Hiệu lực là khái niệm để chỉ độ tin cậy hay chất lượng của bằng chứng
kiểm toán. Những yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu lực của bằng chứng kiểm
toán bao gồm:
•Loại hình của bằng chứng: Bằng chứng vật chất (Ví dụ như “Biên bản
kiểm kê”, có được sau khi thực hiện công việc kiểm kê hay quan sát kiểm kê)
và hiểu biết của kiểm toán viên về các lĩnh vực của kiểm toán được xem là có
độ tin cậy cao hơn bằng chứng bằng lời (ví dụ như bằng chứng thu thập qua
phỏng vấn).
•Hệ thống kiểm soát nội bộ: Bằng chứng thu được trong điều kiện hệ
thống kiểm soát nội bộ hoạt động tốt có độ tin cậy cao hơn so với bằng chứng
kiểm toán thu được trong điều kiện hệ thống này hoạt động kém hiệu quả: Hệ

phán quyết chủ quan của kiểm toán viên. Sự phán quyết đó tuỳ thuộc vào
từng tình huống cụ thể và khi ấy kiểm toán viên phải cân nhắc những yếu tố
có ảnh hưởng tới tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán. Những yếu tố ảnh
hưởng đến tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán bao gồm:
•Tính hiệu lực của bằng chứng: Bằng chứng có độ tin cậy càng thấp thì
càng cần phải thu thập nhiều. Một (một số ít) bằng chứng có độ tin cậy thấp
chưa đủ để có thể nhận định một cách xác đáng về đối tượng kiểm toán cụ
thể.
•Tính trọng yếu: Đối tượng cụ thể được kiểm toán càng trọng yếu thì số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập càng nhiều: mục tiêu của kiểm toán
tài chính là khẳng định báo cáo tài chính được trình bày trung thực xét trên
mọi khía cạnh trọng yếu. Kiểm toán viên phải phát hiên mọi sai phạm có ảnh
hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính. Các đối tượng cụ thể được xem là
trọng yếu thường là các khoản mục có giá trị lớn. Nếu sai sót xảy ra ở những
đối tượng này có thể sẽ ảnh hưởng trọng yếu đối với báo cáo tài chính. Ngược
lại, ở các khoản mục có qui mô nhỏ nếu có sai phạm thì khó ảnh hưởng trọng
yếu đến báo cáo tài chính.
•Mức độ rủi ro: Những đối tượng cụ thể (khoản mục, bộ phận, nghiệp
vụ...) được đánh giá là khả năng rủi ro lớn thì lượng bằng chứng kiểm toán
phải thu thập càng nhiều và ngược lại.
Khoản mục có mức độ rủi ro cao khi hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động
yếu thường là khoản mục vốn bằng tiền. Đó là do đặc điểm gọn nhẹ, dễ biển
thủ của tiền và số lượng nghiệp vụ tiền mặt phát sinh với mật độ lớn, khó
kiểm soát nên dễ có sai phạm phát sinh và tồn tại. Khi đó để phát hiện được
đa số sai phạm, cần tăng cường kiểm toán chi tiết đối với khoản mục và lượng
bằng chứng thu được. Trong điều kiện hệ thống kiểm soát nộ bộ hoạt động
tốt, khoản mục dễ có sai phạm là khoản mục hàng tồn kho. Sở dĩ như vậy là
do việc kiểm kê thực tế hàng tồn kho rất tốn kém (về thời gian, công sức), nên
ít được kiểm kê hơn so với tiền mặt và chứng từ có giá. Để giảm thiểu rủi ro,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status