Rủi ro kiểm toán và quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính - Pdf 21

Website: Email : Tel : 0918.775.368
M ỤC L ỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................Error: Reference source not found
PHẦN I: LÍ LUẬN VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO
KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH....Error: Reference source not
found
1. Bản chất của rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính...Error:
Reference source not found
1.1. Khái niệm về rủi ro kiểm toán............Error: Reference source not found
1.2. Các loạn rủi ro kiểm toán....................Error: Reference source not found
1.2.1. Rủi ro tiềm tàng................................Error: Reference source not found
1.2.2. Rủi ro kiểm soát (CR)......................Error: Reference source not found
1.2.3. Rủi ro phát hiện (DR)......................Error: Reference source not found
1.3. Mô hình rủi ro kiểm toán....................Error: Reference source not found
2. Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC..............Error:
Reference source not found
2.1. Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn.Error: Reference source not
found
2.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng(IR).............Error: Reference source not found
2.3.Đánh giá rủi ro kiểm soát (CR)...........Error: Reference source not found
2.4.Xác định rủi ro phát hiện.....................Error: Reference source not found
PHẦN II: NHẬN XÉT CHUNG VỀ THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.................Error: Reference source not found
1.Thực tế đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC Error: Reference
source not found
1.1. Đánh giá rủi ro kiểm toán trên phương diện BCTC.......Error: Reference
source not found
1.2. Đánh giá rủi ro kiểm toán trên phương diện số dư tài khoản và loại
nghiệp vụ....................................................Error: Reference source not found
2. Những hạn chế trong đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro
phát hiện..........................................................................................................27

Do vậy em đã mạnh dạn chọn đề tài “ Rủi ro kiểm toán và quy trình đánh
giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính” cho đề án môn học
của mình nhằm góp phần giải quyết các vấn đề về lý luận và thực tiễn của
công tác đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC. Đề án được nghiên
cứu trên cơ sở những kiến thức đã học và tham khảo thêm các tài liệu của các
công ty kiểm toán, các tài liệu tự sưu tầm cộng với việc phân tích tổng hợp
đánh giá, trên cơ sở đó đề ra những giả pháp nhằm hoàn thiện đánh giá rủi ro
kiểm toán trong kiểm toán BCTC. Nội dung của đề án gồm hai phần:
Phần 1: Lý luận về rủi ro kiểm toán và quy trình đánh giá rủi ro kiểm
toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
Phần 2: Nhận xét chung về thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán trong
kiểm toán báo cáo tài chính của các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN I
LÍ LUẬN VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ QUY TRÌNH
ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1. Bản chất của rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.1. Khái niệm về rủi ro kiểm toán
Trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính nói riêng, rủi ro kiểm
toán là khái niệm quen thuộc gắn liền với trách nhiệm của kiểm toán viên. Vì
vậy, việc hiểu rõ và quản lý tốt rủi ro kiểm toán là yếu tố quyết định trong
việc hạn chế rủi ro kinh doanh của các công ty kiểm toán.
Để hiểu được khái niện rủi ro kiểm toán trước hết ta cần hiểu chung về khái
niệm rủi ro.Theo từ điển tiếng việt, “ Rủi ro là tính từ để chỉ việc không may xảy
ra” hoặc “rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”. Như vậy rủi ro
là điều không mong muốn. Trong các lĩnh vực khác nhau thì rủi ro lại có những
đặc trưng riêng. Trong lĩnh vực kiểm toán rủi ro kiểm toán đã được định nghĩa
trong các văn bản hướng dẫn kiểm toán và chuẩn mực kiểm toán như sau

về quản lý, về kiểm toán mà trực tiếp là chi phí kiểm toán và có quan hệ với
lượng bằng chứng kiểm toán thu được. Rủi ro kiểm toán tỉ lệ nghịch với
lượng bằng chứng kiểm toán thu được. Tuy nhiên ngay cả khi đã thu thập
được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thì rủi ro kiểm toán vẫn tồn tại.
1.2. Các loạn rủi ro kiểm toán
1.2.1. Rủi ro tiềm tàng
Kiểm toán viên phải xem xét rủi ro tiềm tàng (IR). Theo từ điển Thuật
ngữ Kiểm toán – Kế toán Anh Việt: “ Rủi ro tiềm tàng là khả năng báo cáo tài
chính của doanh nghiệp chứa đựng các sai phạm trọng yếu trước khi xem xét
đến tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Các sai
phạm này có thể được xem xét khi đứng một mình hoặc được tập hợp với các
sai phạm khác trong các khoản cân đối trong tài liệu khác có liên quan”.
Theo nguyên tắc kiểm toán Quốc tế Số 25 – “ Trọng yếu và rủi ro”, Mục
13 quy định: “ Rủi ro tiềm tàng là những yếu điểm của số dư tài khoản hoặc
của một loại nghiệp vụ đối với những sai sót có thể là nghiêm trọng, những
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sai sót này có thể là đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với sai sót ở các số dư, các
nghiệp vụ khác ( ở đây giả định rằng không có các quy chế kiểm soát nội bộ
có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm trong chức năng hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh cũng như nằm trong bản chất
của các số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ.”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – “ Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ”, Mục 04 quy định: “ Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ”.
Như vậy, rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu
trong BCTC bắt nguồn từ đặc tính của loại hình kinh doanh và năng lực nhân
viên của khách thể kiểm toán trước khi xem xét đến tính hữu hiệu của
HTKSNB. KTV không tạo ra và cũng không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng,

thể là nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với các sai sót trong các
số dư, các loại nghiệp vụ khác”.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – “ Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ”, Mục 06 ghi: “ Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu
trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng
rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán
không phát hiện được”.
Như vậy, rủi ro phát hiện là khả năng mà các thủ tục kiểm toán không
phát hiện được các sai phạm trọng yếu. Nếu như rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát tồn tại một cách độc lập, KTV không can thiệp được mà chỉ có
thể đánh giá chúng thì ngược lại, KTV phải có trách nhiệm thực hiện các
thủ tục thu thập các bằng chứng kiểm toán quản lý và kiểm soát đối với rủi
ro phát hiện..
1.3. Mô hình rủi ro kiểm toán
Thực chất rủi ro kiểm toán xảy ra khi BCTC chứa đựng các sai phạm
trọng yếu nhưng KTV lại nhận xét rằng chúng được trình bày trung thực, hợp
lý. Rủi ro này xuất phát từ các sai lệch tiềm ẩn trong BCTC ( rủi ro tiềm tàng)
đã vượt qua HTKSNB của đơn vị ( rủi ro kiểm soát) và không bị các thử
nghiệm kiểm toán của KTV phát hiện ( rủi ro phát hiện ). Do đó rủi ro kiểm
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
toán là tổng hợp của ba loại rủi ro: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro
phát hiện. Mục 07 Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – “ Đánh giá rủi
ro và kiểm soát nội bộ” và Nguyên tắc kiểm toán Quốc tế số 19 – “ Lấy mẫu
kiểm toán” đều khẳng định: “ Rủi ro kiểm toán gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm
tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”. Để phục vụ cho quá trình đánh giá
rủi ro kiểm toán, các nhà chuyên môn thường sử dụng mô hình sau để biểu
diễn mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và các bộ phận cấu thành:
AR = IR.CR.DR (1)
Trong đó:

AR
DR =
IR.CR
Với mô hình (2), rủi ro phát hiện(DR) là đối tượng chính quan tâm của
KTV. Mô hình này thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa rủi ro kiểm toán (AR)
và rủi ro phát hiện (DR) cũng như tính chất tác động “ tác động được” của rủi
ro phát hiện (DR). Mặt khác, mô hình (2) còn biểu hiện được mối quan hệ
giữa rủi ro phát hiện (DR) và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập
trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán. Vẫn xét ví dụ ở mô hình (1): Giả thiết
rủi ro tiềm tàng (IR) và rủi ro kiểm soát (CR) không thay đổi, KTV có thể
chấp nhận rủi ro kiểm toán mong muốn ở mức 0,05, khi đó rủi ro phát hiện
(DR) được tính ra theo công thức ở mô hình (2):
DR =
0,05
0,8
0,9 0,7x
=

Do đó khố lượng công việc và số lượng bằng chứng kiểm toán mà
KTV cần thu thập ít hơn so với trường hợp rủi ro kiểm toán mong muốn ở
mức 0,03. Với mô hình (2), rủi ro kiểm toán thường được xác định trước cuộc
kiểm toán theo tiêu chuẩn của từng công ty kiểm toán và được gọi là rủi ro
kiểm toán mong muốn ( DAR – Designed Audit Risk). Vì vậy mô hình (2)
thường được thể hiện dưới dạng:
DR =
DAR
IR x CR
Trong một cuộc kiểm toán, rủi ro không bao giờ được loại trừ một cách
chắc chắn. Vì vậy, khái niệm rủi ro kiểm toán mong muốn thể hiện mức độ kỳ
vọng của KTV đối với một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Rủi ro kiểm

đánh giá các rủi ro này và thiết kế các phương pháp kiểm toán cơ bản để hạn
chế rủi ro phát hiện đến mức có thể chấp nhận được. Bằng cách đó mà giảm
rủi ro kiểm toán đến mức có thể chấp nhận được”. Cách xác định quan hệ này
được xây dựng theo mô hình rủi ro kiểm toán thứ nhất (mô hình 1), tức là rủi
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ro kiểm toán bị điều chỉnh bởi rủi ro phát hiện, chưa thể hiện được tính chất
phụ thuộc của rủi ro phát hiện vào rủi ro kiểm toán mong muốn và rủi ro tiềm
tàng cũng như rủi ro kiểm soát.

Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát thường biến đổi cùng chiều với nhau và do
vậy thường được đánh giá chung khi đánh giá rủi ro kiểm toán. Nếu doanh nghiệp
hoạt động tronh lĩnh vực kinh doanh mang tính mạo hiểm cao, rủi ro tiềm tàng
lớn, mặc dù HTKSNB của doanh nghiệp hoạt động hữu hiệu nhưng rủi ro kiểm
soát phải luôn được đánh giá ở mức trung bình hoặc trên mức trung bình vì những
hạn chế cố hữu của HTKSNB và vì rủi ro kiểm soát luôn luôn tồn tại.
Ngược lại với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV có thể tác động
vào rủi ro kiểm toán và rủi ro phát hiện. Trong từng hoàn cảnh cụ thể, KTV sẽ
dự kiến mức rủi ro kiểm toán mong muốn trên cơ sở đảm bảo tính đáng tin
cậy của BCTC sau khi kiểm toán và chi phí kiểm toán. Rủi ro phát hiện được
tính toán theo mô hình (2) sau khi đã xác định được rủi ro kiểm toán mong
muốn và đánh giá được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Vì vậy, KTV
không những nhận thức được mà còn có thể tác động vào rủi ro phát hiện.
Với một mức rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định trước, từ mô hình
(2) có thể rút ra kết luận: rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, do vậy, rủi ro phát hiện cũng tỷ lệ nghịch với số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập. Nếu như rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát được đánh giá cao thì rủi ro phát hiện được tính toán sẽ thấp, khi đó số lượng
bằng chứng kiểm toán cần thu thập nhiều, phạm vi kiểm toán mở rộng và khối
lượng công việc kiểm toán tăng. Ngược lại khi rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát

yếu tố cơ bản:
Một là, mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin vào BCTC
Trong cơ chế thị trường, có rất nhiều người quan tâm đến tình hình tài
chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán mà trực tiếp là BCTC.
Những người quan tâm này có thể là: các cơ quan Nhà nước ( cần có thông tin
trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế) ; các nhà đầu tư ( cần có thông tin
trung thực để có hướng đầu tư đúng đắn, điều hành sử dụng vốn đầu tư và ăn
chia phân phối kết quả đầu tư); các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản
lý khác ( cần thông tin trung thực để có quyết định kinh doanh đúng đắn);
người lao động, khách hàng, nhà cung cấp...
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Khi nhiều người sử dụng bên ngoài đặt niềm tin vào các BCTC thì những
sai lệch trọng yếu trên BCTC dễ gây tác hại trên phạm vi rộng. Do vậy, trong
trường hợp này KTV cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từ đó tăng
số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và tăng độ chính xác trong các
kết luận đưa ra của mình.
Một số yếu tố chỉ ra mức độ mà theo đó các BCTC được người sử dụng
bên ngoài tin tưởng là:
Thứ nhất, quy mô của đơn vị được kiểm toán: quy mô của đơn vị có thể
được đo bằng tổng tài sản, tổng doanh thu, hoặc tổng thu nhập. Quy mô càng
lớn thì BCTC càng được sử dụng rộng rãi và rủi ro kiểm toán mong muốn cần
đánh giá ở mức thấp hơn
Thứ hai, quyền sở hữu: Nếu quyền sở hữu doanh nghiệp thuộc về
nhiều bên tham gia hơn thì sẽ có nhiều người quan tâm đến BCTC hơn và
rủi ro kiểm toán mong muốn cũng cần được đánh giá ở mức thấp hơn và
ngược lại
Thứ ba, bản chất và quy mô của công nợ. Các khoản công nợ là những
khoản chắc chắn có liên quan tới một bên thứ ba cho vay, cho nợ. Các chủ nợ
hiện tại và tiềm năng thường quan tâm đến tình hình tài chính của công ty đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status