Rủi ro kiểm toán và thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán tại Việt Nam trong kiểm toán báo cáo tài chính - Pdf 15

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................. 1
LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 3
............................................................................................................................... 4
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN KIỂM TOÁN VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN ......... 5
1.1. Khái quát chung về hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính trong nền kinh
tế thị trường ........................................................................................................... 5
1.2. Lý luận chung về rủi ro kiểm toán ................................................................ 6
1.3. Phân loại rủi ro kiểm toán và tầm quan trọng cuả việc đánh giá rủi ro kiểm
toán trong báo cáo tài chính ................................................................................. 7
1.4. Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính và mô hình
phân tích ................................................................................................................ 8
1.4.1. Các loại hình rủi ro kiểm toán .............................................................. 8
1.4.2. Mô hình rủi ro kiểm toán ...................................................................... 9
1.5. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và trọng yếu ........................................ 11
1.6. Kinh nghiệm thế giới trong công tác đánh giá rủi ro kiểm toán ................ 12
PHẦN II. THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG
KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM ............................... 15
2.1. Quá trình phát triển của hoạt động kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài
chính tại Việt Nam .............................................................................................. 15
2.2. Thực trạng quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài
chính tại Việt Nam hiện nay ............................................................................... 16
2.2.1. Đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn ............................................... 17
2.2.2. Đánh giá rủi ro tiềm tàng ................................................................... 18
2.2.3. Đánh giá rủi ro kiểm soát ................................................................... 22
1
2.2.4. Đánh giá rủi ro phát hiện ................................................................... 28
PHẦN III. NHẬN XÉT VÀ Ý KIẾN HOÀN THIỆN QUY TRÌNH ĐÁNH
GIÁ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI VIỆT
NAM .................................................................................................................... 31

người sử dụng báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên để ra quyết định. Nói một
cách khác, khi đó dịch vụ kiểm toán đã không cung cấp được dịch vụ có chất
lượng trong việc thẩm định thông tin tài chính doanh nghiệp. Điều này dẫn tới
làm giảm uy tín của công ty kiểm toán và gây thiệt hại đối với những người sử
3
dụng báo cáo kiểm toán.
Bất cứ nghành nào cũng chứa đựng những yếu tố rủi ro, không mong muốn.
Hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó. Chính vì
vậy việc nghiên cứu các yếu tố rủi ro trong kiểm toán nói chung và kiểm toán tài
chính nói riêng là việc không thể thiếu trong bất kỳ cuộc kiểm toán nào. Với tầm
quan trọng như vậy, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Rủi ro kiểm toán và thực
trạng đánh giá rủi ro kiểm toán tại Việt Nam trong kiểm toán báo cáo tài chính”
với mục đích vận dụng, bổ sung những kiến thức liên quan đến vấn đề rủi ro
kiểm toán.
Trên cơ sở những kiến thức đã học cùng việc nghiên cứu các tài liệu thu
thập được, với sự hướng dẫn nhiệt tình giúp đỡ của cô giáo Thạc sĩ Nguyễn Thị
Mỹ trong quá trình em làm đề án môm học. Nội dung của đề án gồm hai chương:
I. Cơ sở lý luận Kiểm toán và rủi ro kiểm toán
II. Thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
III. Nhận xét và ý kiến hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong kiểm
toán báo cáo tào chính tại Việt Nam

4
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN KIỂM TOÁN VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN
1.1. Khái quát chung về hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính trong nền
kinh tế thị trường
Khái niệm: Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài
chính bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài
chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ
thống pháp lý có hiệu lực.

bảng khai tài chính, cụ thể là các báo cáo tài chính. Trên thực tế, các báo cáo tài
chính luôn luôn chứa đựng khả năng có gian lận và sai sót. Theo Bản công bố về
chuẩn mực Kiểm toán số 53 (SAS 53), yêu cầu kiểm toán viên phải hiểu và nắm
bắt, phát hiện và đánh giá khả năng xảy ra của những gian lận và sai sót, cùng
với việc xác định các phương pháp kiểm toán thích hợp, lập kế hoạch và giám
sát việc thực hiện kế hoạch một cách thích đáng để đảm bảo đạt được các mục
tiêu kiểm toán đã đề ra. Tuy nhiên, không phải bất cứ khi nào, kiểm toán viên
cũng có thể phát hiện được tất cả các gian lận và sai sót trọng yếu trong các báo
cáo tài chính. Điều này tất yếu sẽ dẫn tới việc đưa ra ý kiến sai lệch về thông tin
trên các báo cáo tài chính của kiểm toán viên. Đây chính là rủi ro mà kiểm toán
viên gặp phải trong việc thực hiện công việc của mình. Nói một cách khác, rủi ro
kiểm toán chính là khả năng kiểm toán viên đưa ra ý kiến không phù hợp về các
báo cáo tài chính do các báo cáo tài chính này vẫn chứa đựng những sai sót trọng
6
yếu.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) về Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ: “Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để có thể lập kế hoạch kiểm toán tổng
thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả. Kiểm toán viên phải sử
dụng khả năng xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro kiểm toán và
xác định các thủ tục kiểm toán nhằm giảm rủi ro kiểm toán thấp xuống tới mức
có thể chấp nhận được”. Như vậy, công việc đánh giá rủi ro kiểm toán không chỉ
là việc cần thiết trong kiểm toán tài chính nói riêng và kiểm toán nói chung mà
đây còn là quy định, công việc bắt buộc phải thực hiện trong khi lập kế hoạch
kiểm toán.
1.3. Phân loại rủi ro kiểm toán và tầm quan trọng cuả việc đánh giá rủi ro
kiểm toán trong báo cáo tài chính
Việc đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ giúp cho kiểm toán viên có thể đưa ra ý
kiến một cách xác đáng về các thông tin trên các báo cáo tài chính. Sở dĩ rủi ro
kiểm toán là vấn đề mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán đều phải đối mặt là

Điều này có nghĩa là, rủi ro kiểm toán xuất phát từ cả giới hạn về phía kế toán và
kiểm toán. Hay nói một cách khác, ta có thể chia rủi ro kiểm toán thành hai phần:
rủi ro kiểm toán do tồn tại các sai phạm trọng yếu trên các báo cáo tài chính chưa
được kiểm toán, và rủi ro kiểm toán do tồn tại các sai sót trọng yếu không được
phát hiện bởi kiểm toán viên. Rủi ro kiểm toán liên quan tới các sai sót trọng yếu
8
trên các báo cáo tài chính chưa được kiểm toán lại được phân chia thành: rủi ro
tiềm tàng và rủi ro phát hiện.
Tóm lại, rủi ro kiểm toán gồm ba thành phần sau:
Một là, rủi ro tiềm tàng ( Inherent Risk – IR): là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng
những sai sót trong yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có
hệ thống kiểm soát nội bộ.
Hai là, rủi ro kiểm soát (Control Risk – CR): là khả năng hệ thống kiểm soát
nội bộ của đơn vị kiểm toán không phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các
sai phạm trọng yếu.
Ba là, rủi ro phát hiện (Detect Risk – DR): là rủi ro xảy ra khi kiểm toán
viên và công ty kiểm toán không phát hiện được các sai sót trọng yếu trong các
báo cáo tài chính do áp dụng sai các thủ tục kiểm toán.
Trong ba loại hình rủi ro kiểm toán trên, kiểm toán viên không tạo ra và
cũng không thể kiểm soát được mà chỉ có thể đánh giá đối với rủi ro tiềm tàng và
rủi ro kiểm soát.
1.4.2. Mô hình rủi ro kiểm toán
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán luôn mong muốn đạt được mức rủi ro
kiểm toán thấp. Vậy thì làm thế nào để có thể đạt được mức rủi ro kiểm toán
mong muốn trong khi không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát?
Trên thực tế, kiểm toán viên vẫn có thể giảm được rủi ro kiểm toán dựa trên đánh
giá hai loại rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, sau đó điều chỉnh rủi ro phát
hiện. Mối quan hệ giữa ba loại hình rủi ro này được thể hiện qua phương trình
sau, được gọi là mô hình rủi ro kiểm toán:

kiểm toán chỉ rõ có sự hiện diện của các sai sót cao hơn mức có thể chấp nhận
được, mô hình rủi ro kiểm toán có thể bị phá vỡ và các thủ tục khác sẽ cần thực
hiện để có thể phát hiện và nhận diện các sai sót đó, để đảm bảo có ý kiến chắc
chắn hơn.
Thí dụ, kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán dựa trên phân tích theo mô
hình rủi ro kiểm toán dưới đây:
AR = 0,05;
IR = 0,75;
CR = 0,3;
DR = 0,05/(0,75 x 0,3) = 0,22
Khi thực hiện các thủ tục cần thiết để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ,
giả sử kiểm toán viên phát hiện các sai sót không được ngăn ngừa, phát hiện và
sửa chữa kịp thời bởi hệ thống kiểm soát nội bộ một cách hiệu quả như ban đầu
kiểm toán viên đánh giá. Lúc đó, mức rủi ro kiểm soát kiểm toán viên cần phải
điều chỉnh tăng thêm tới 0,5 dựa trên các bằng chứng kiểm toán và kiểm toán
viên sẽ phải tính lại rủi ro phát hiện là: DR = 0,05/(0,75 x 0,5) = 0,13. Đây là
điều không thích hợp. Đúng hơn, kiểm toán viên cần phải kết luận là có những
sai sót có thể chấp nhận được đối với từng loại rủi ro kiểm toán, và cần có
phương pháp ước lượng gần đúng khác để đánh giá lại.
1.5. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và trọng yếu
Trọng yếu là khái niệm chung chỉ rõ tầm cỡ và tính hệ trọng của phần nội
dung cơ bản có ảnh hưởng tới tính đúng đắn của việc nhận thức, đánh giá đối
tượng kiểm toán trong việc sử dụng thông tin đã đánh giá để đưa ra kết luận.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320 (VSA 320): “Trọng yếu là thuật ngữ
11
dùng để thể hiện tầm quan trọng của thông tin (một số liệu kế toán) trong báo
cáo tài chính.” Như vậy, muốn xác định được khả năng xảy ra những sai sót
mang tính chất trọng yếu, kiểm toán viên phải đánh giá được mức trọng yếu.
Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro được thể hiện rất rõ trong giai đoạn
lập kế hoạch kiểm toán nhằm đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và xác

Đến cuối thời kỳ cổ đại, sản xuất đã phát triển, của cải dư thừa ngày càng
nhiều, người sở hữu và người quản lý tài sản tách rời nhau. Nhu cầu kiểm tra tài
sản và các khoản thu, chi ngày càng phức tạp, hình thức kế toán giản đơn không
còn đáp ứng được yêu cầu quản lý. Vì vậy kiểm tra độc lập đã phát sinh trước hết
ở La Mã, Pháp và Anh.
Ở La Mã, vào thế kỷ thứ III TCN các nhà cầm quyền (người sở hữu tài sản) đã
tuyển dụng các quan chức có chuyên môn và độc lập để kiểm tra các báo cáo của
người quản lý về tình hình tài sản của họ và đưa ra ý kiến chấp nhận hoặc yêu
cầu sửa đổi các báo cáo này. Hình thức kiểm tra được thực hiện bằng cách người
quản lý đọc to các báo cáo cho người kiểm tra độc lập nghe rồi chấp nhận.
Ở Pháp, vua Charlemagne cũng theo tiền lệ của La Mã đã tuyển các quan chức
cao cấp phụ trách giám sát công việc quản lý, đặc biệt là các nghiệp vụ tài chính
của các quan chức địa phương và trình bày lại kết quả với Hoàng đế hoặc các vị
cận thần.
Ở Anh, theo văn kiện của Nghị viện, vua Edouard đệ nhất cho các Nam tước
quyền tuyển dụng kiểm toán viên (Auditors), bản thân vua cũng cho đối chiếu lại
các tài khoản thuộc di chúc của cố Hoàng hậu Elonor.
13
Từ trung đại trở đi, đã có sự hoàn thiện và phát triển dần của kế toán, chẳng hạn
với các khoản giao dịch đã buộc cả 2 bên cùng ghi sổ, do đó phát sinh quan hệ
đối chiếu như một hình thức kiểm tra kế toán.
Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi, sự xuất hiện của kế toán kép do một nhà toán
học người Ý là Luca Paciola đã khiến cho phương pháp tự kiểm tra của kế toán
hoàn thiện hơn, đã đáp ứng đủ nhu cầu quản lý và an toàn tài sản lúc bấy giờ.
Từ thế kỷ XVII – XX, các phương pháp kế toán và kỹ thuật thông tin phát
triển đến mức tinh xảo đã đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của quản lý.
Đến năm 30 của thế kỷ XX xuất hiện sự phá sản của các tổ chức tài chính và
khủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính chức năng kiểm tra kế toán mới bộc
lộ những nhược điểm, đòi hỏi phải có sự kiểm tra ngoài kế toán và kiểm toán
được phát triển trở lại.

gồm 3 DNNN (VACO, AASC, AISC) 4 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài
(P&C, HPMG, E&Y, Grant Thomtion), 1 công ty liên doanh, 5 công ty hợp danh,
123 công ty cổ phần và công ty TNHH.
Cùng với sự phát triển của kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước Việt Nam
được thành lập theo NĐ số 70/CP ngày 11/07/1994 của chính phủ và đến ngày
13/08/2003 được thay bằng NĐ số 93/2003/NĐ-CP. Ngày 14/06/2005 luật kiểm
toán Nhà Nước được Quốc hội ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status