Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc - Pdf 88

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té

The World Bank
1
Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xn Thành
NGÂN HÀNG THẾ GIỚI - 1993
SỰ THẦN KỲ ĐÔNG Á

TĂNG TRƯỞNG VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG

CHƯƠNG 1
TĂNG TRƯỞNG, CÔNG BẰNG
VÀ THAY ĐỔI VỀ KINH TẾ

Tám nền kinh tế mà chúng ta nghiên cứu (HPAE)
*
là những nền kinh tế khác biệt
nhau về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và thể chế chính trò. Nhật Bản, không giống như
những nước khác, đã là một nền kinh tế công nghiệp khá trưởng thành ngay từ lúc bắt đầu
của thời kỳ hậu chiến. Hơn nữa, tám nền kinh tế này còn khác biệt nhau về mức độ can
thiệp của chính quyền vào nền kinh tế và cách thức mà những nhà lãnh đạo đònh hình và
thực hiện chính sách của họ. Ví dụ, những nhà làm chính sách ở Hàn Quốc đã can thiệp
khá sâu vào thò trường công nghiệp, lao động, và tín dụng; trong khi đó những nhà lập
chính sách ở Hồng Kông thì luôn khoanh tay không can thiệp.

HPAE (high-performing Asian econonomies).
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té

The World Bank
2
Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xn Thành
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NHANH VÀ BỀN VỮNG
Tám nền kinh tế HPAE này tăng trưởng nhanh hơn và nhất quán hơn so với bất kỳ
các nhóm nước khác trên thế giới từ 1960 đến 1990. Họ đạt được tốc độ tăng trưởng trung
bình hàng năm về thu nhập thực bình quân đầu người là 5,5%, hơn hẳn các nền kinh tế tại
châu Mỹ La tinh và các nước châu Phi hạ Sahara (ngoại trừ Botswana giàu có kim cương).
Trung Quốc, một nền kinh tế khác ở Đông Á, đã tăng trưởng 5,8%/năm kể từ năm 1965 và
có thể đòi hỏi được xếp vào hàng ngũ các nước HPAE.
1

Hình 1.1 cho thấy mối quan hệ giữa mức thu nhập so với Mỹ trong năm 1960 và tốc
độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của 119 nền kinh tế trong giai đoạn 1960-
1985. Các nền kinh tế đang phát triển đã không bắt kòp các nền kinh tế đã phát triển; hơn
70% các nền kinh tế đang phát triển đã tăng trưởng chậm hơn so với mức trung bình của
các nền kinh tế có thu nhập cao.
2
Rắc rối hơn nữa là, trong mười ba nền kinh tế đang phát
triển, thu nhập bình quân đầu người đã sụt giảm thực sự. Tăng trưởng của tám nước HPAE

Các nến kinh tế đang phát triển khác
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té

The World Bank
3
Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xn Thành
bắc (của Hình 1.2). Trong số đó, có năm nước là gương thành công điển hình ở khu vực
Đông Á: Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan. Rõ ràng là Nhật bản
đã chuyển từ nước có tốc độ tăng trưởng vô cùng cao trong thập niên 60 thành nước có tốc
độ tăng trưởng đặc trưng hơn của các nước có thu nhập cao trong thập niên 70. Ba nền
kinh tế HPAE khác - Indonesia, Malaysia và Thái Lan - đều cho thấy sự tăng trưởng gia
tốc, với tốc độ tăng trưởng cao hơn trong thời kỳ thứ hai so với thời kỳ đầu. Indonesia là
một trong ba nền kinh tế duy nhất di chuyển từ vò trí cuối lên vò trí hàng đầu trong bảng
xếp hạng tốc độ tăng trưởng giữa hai thời kỳ.

Hình 1.2 Tốc độ tăng trưởng được duy trì

Ghi chú: Các ô là vùng 75% của tốc độ tăng trưởng trong từng thời kỳ
Nguồn: Summers and Heston (1991); Barro (1989); số liệu của Ngân hàng Thế giới.


chênh lệch thu nhập trên 15, được loại ra.
Khi các nền kinh tế Đông Á được phân chia nhóm theo tốc độ tăng trưởng, thì phân
phối thu nhập tại các nước tăng trưởng nhanh có mức quân bình cao hơn nhiều (Birdsall
and Sabot 1993b). Đối với tám nước HPAE, tăng trưởng nhanh và mức độ bất bình đẳng
về thu nhập giảm là những ưu điểm chung, như minh họa bởi so sánh về bình đẳng và tăng
trưởng theo thời gian bằng cách sử dụng hệ số Gini (xem Hình 3 trong phần tổng quan của
cuốn sách). Các nước đang phát triển HPAE rõ ràng hơn hẳn các nền kinh tế có thu nhập
trung bình khác ở điểm họ có mức độ bất bình đẳng về thu nhập thấp hơn và mức tăng
trưởng cao hơn. Hơn thế nữa, như ở các hình A1.7-A1.9 ở cuối chương cho thấy, những
tiến bộ trong phân phối thu nhập thường trùng khớp với thời kỳ tăng trưởng nhanh.
Hình 1.3 Bất bình đẳng về thu nhập và tăng trưởng GDP, 1965-89

Ghi chú: Sự chênh lệch thu nhập được đo bằng tỷ phần thu nhập của 20% dân số giàu nhất với tỷ phần thu nhập của 20%
dân số nghèo nhất.
Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới.
Tốc độ tăng trưởng GDP b/q đầu người (%) 1970-85
Bất bình đẳng về thu nhập
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té

The World Bank
5

Thái Lan
a,b
1962-86 59 26 -30 16,7 13,6 -18

Các nước khác
Brazil
a,b
1960-80 50 21 -29 36,1 25,4 29,6
Colombia 1971-88 41 25 -16 8,9 7,5 -15,7
Costa Rica
a
1971-86 45 24 -19 0,8 0,6 -25
Bờ Biển Ngà 1985-86 30 31 1 3,1 3,3 6,4
Ấn Độ 1972-83 54 43 -9 311,4 315,0 1
Morocco 1970-84 43 34 -9 6,6 7,4 12
Pakistan 1962-84 54 23 -31 26,5 21,3 -19
Sri Lanka
a
1963-82 37 27 -10 3,9 4,1 5
________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Ghi chú: Bảng này sử dụng mức nghèo đói cụ thể cho từng nền kinh tế. Khi có số liệu, mức nghèo đói chính thức hay
thường dùng được sử dụng. Trong các trường hợp khác, mức nghèo đói được đònh ở mức 30% thu nhập hoặc chi tiêu
tối thiểu. Mức nghèo đói, được tính theo mức chi tiêu của thành viên trong gia đình và dưới tính theo dollar ngang giá
sức mua (PPP), xê dòch trong khoảng $300-$700/năm trong 1985 ngoại trừ Costa Rica ($960), Malaysia ($1,420),
Singapore ($860). Trừ khi được chỉ đònh khác đi, bảng này dựa trên cơ sở chi tiêu của từng thành viên hộ gia đình.
a. Số liệu của các nước này sử dụng thu nhập hơn là chi tiêu
b. Số liệu của các mục này dựa vào hộ gia đình hơn là thành viên hộ.
Nguồn: Ngân hàng Thế giới (1990b, bảng 3.2 và 3.3)



Các nước Châu Á khác
a
50 62
Trung Quốc 43 69
Ấn Độ 47 58

Châu Phi hạ Sahara 43 52
Châu Mỹ La tinh và Caribbean 54 70

Các nền kinh tế thu nhập thấp 36 62
Các nền kinh tế thu nhập trung bình 49 66
Các nền kinh tế công nghiệp phát triển 70 77
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Ghi chú: Trò số trung bình của khu vực được tính theo tỷ trọng.
a. Không kể Trung Quốc và Ấn Độ
Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới. CÁC KHU VỰC NÔNG NGHIỆP NĂNG ĐỘNG
Nhìn chung, khi nền kinh tế phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế suy
giảm. Sáu nước HPAE với khu vực nông nghiệp đáng kể - Indonesia, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Malaysia, Thái Lan, và Đài Loan - đã thực hiện sự chuyển đổi này nhanh hơn so với
các nền kinh tế đang phát triển khác.
4
Tuy nhiên việc giảm tầm quan trọng tương đối của
nông nghiệp trong các nước HPAE không phải là do khu vực nông nghiệp kém năng động.
Ở khắp các khu vực đang phát triển, tỷ trọng sản lượng và lao động nông nghiệp trong nền
kinh tế đã giảm nhiều nhất và nhanh nhất tại nơi mà sản lượng và năng suất nông nghiệp

_____________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________Nguồn: Turnham (1993). Về các số liệu tỷ trọng sản lượng nông nghiệp: số liệu của Ngân hàng Thế giới. Chính quyền các nước Đông Á đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động nghiên cứu và các
dòch vụ khuyến nông để thúc đẩy sự phổ biến các công nghệ của cuộc Cách mạng Xanh.
Đầu tư đáng kể của các nước ngày về thủy lợi và các hạ tầng cơ sở khác ở nông thôn đã
đẩy nhanh việc áp dụng các giống cây có năng suất cao, vụ mới, và việc sử dụng các
nguyên liệu nhập lượng như phân bón, và thiết bò máy móc, để trồng trọt. Tại Đài Loan,
trong thập niên 50, 45% mức tăng trưởng nông nghiệp là do gia tăng năng suất, mà phần
lớn là kết quả của các chương trình nhà nước (xem Ranis 1993).
Có rất ít thông tin về việc phân bổ đầu tư nhà nước giữa khu vực nông thôn và đô
thò và cũng khó có được so sánh đúng giữa các nền kinh tế, tuy nhiên những số liệu sẵn có
cho thấy rằng các nước HPAE đã phân bổ phần đầu tư nhà nước của mình vào khu vực
nông thôn lớn hơn so với các nền kinh tế thu nhập thấp và trung bình. Về khía cạnh này,
việc xây dựng cơ sở hạ tầng – cầu, đường, vận tải, điện, nước và vệ sinh - mang ý nghóa
rất lớn. Bảng 1.4 cho thấy có sự cân bằng giữa đầu tư nhà nước ở nông thôn và đô thò trong
hệ thống cấp nước và vệ sinh ở Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan hơn so với các nền kinh
tế đang phát triển khác. Số liệu về điện khí hoá nông thôn cũng cho thấy rằng, tính trung
bình, các nước HPAE đã cung cấp điện năng một cách hiệu quả hơn cho khu vực nông
thôn. Từ đầu thập niên 80, điện đã phổ biến trong khu vực nông thôn tại Hàn Quốc và Đài
Loan. Malaysia và Thái Lan đã có bước tiến đáng kể trong việc điện khí hóa nông thôn.
Indonesia tuy không làm được tốt như vậy nhưng sự chênh lệch giữa khu vực nông thôn và
đô thò cũng nhỏ hơn so với sự chênh lệch ở các nền kinh tế khác có cùng thu nhập bình
quân đầu người (Bolivia và Liberia) hoặc cùng số dân (Brazil). [Xem bảng 1.4]
Không kém phần quan trọng là thuế trực thu và gián đánh vào nông nghiệp ở khu
vực Đông Á thường có mức thấp. Trong ba thập niên qua, hàng chục chính quyền tại các
khu vực khác, vì thiết tha thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, đã chuyển thặng dư trong


Cách biệt giữa nông thôn và đô thò về dòch vụ hạ tầng, 1987-90
(100 = cân bằng giữa nông thôn và thành thò )
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Nền kinh tế Nước Vệ sinh
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
Các nước HPAE
Hàn Quốc 53 72
Thái Lan 58 71
Indonesia 65 74

Các nước ChâuÁ khác 50 62
Châu Mỹ La tinh 43 69
Châu Phi hạ Sahara 47 58

Tỷ lệ dân số nông thôn và đô thò được cấp điện
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Nền kinh tế Đô thò Nông thôn
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

Các nước HPAE
Indonesia, 1984 53 72
Malaysia, 1983 58 71
Thái Lan, 1984 65 74

Các nước ChâuÁ khác 50 62
Bangladesh, 1981 53 72
Ấn Độ, 1981 58 71

nguồn lực hơn so với một số nền kinh tế đang phát triển khác. Ngoài ra, việc chuyển dòch
nguồn lực thường là tự nguyện - ví dụ như dưới tiết kiệm tài chính - và thường được giới
hạn ở mức không bóp chết đà tăng trưởng của nông nghiệp.

Hình 1.4 Can thiệp và tăng trưởng trong khu vực nông nghiệp Nguồn: Schiff (1993).
TĂNG TRƯỞNG NHANH CỦA XUẤT KHẨU
Một nét nổi bật khác của các nước HPAE là thành quả xuất khẩu cao. Điều này
được phản ánh bởi tỷ trọng gia tăng đều đặn của các quốc gia trên trong kim ngạch xuất
khẩu của thế giới (xem bảng 1.5). Xét chung cả nhóm, thì các quốc gia HPAE đã tăng tỷ
trọng trong kim ngạch xuất khẩu thế giới từ 8% năm 1965 lên 13% năm 1980 và 18% năm
1990, trong đó chủ yếu dựa vào xuất khẩu công nghiệp chế biến. Từ 1965 đến 1990, Nhật
Bản nổi lên thành nước xuất khẩu lớn nhất về hàng công nghiệp chế biến, với thò phần trên
thò trường thế giới tăng từ khoảng 8% đến 12%. Vào những năm 70 và 80, trung tâm tăng
trưởng đã chuyển sang bốn con hổ châu Á với thò phần hàng công nghiệp chế biến của
những nước này tăng nhanh gần gấp bốn lần Nhật Bản (xem bảng 1.5). Bắt đầu vào
khoảng năm 1980, ba nước HPAE ở Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia và Thái Lan) trước
Mức bảo hộ GDP b/q đầu người (%)
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp(%)
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và

a
1,5 5,3 7,9 13,2 44,9 61,5

Các nước mới CNH ở ĐNÁ 0,1 0,4 1,5 1,1 3,8 12,0
Các nước HPAE 9,4 17,3 21,3 14,2 48,6 73,5
Các nước đang phát triển 11,1 11,8 12,9 100,0 100,0 100,0
Toàn thế giới 100,0 100,0 100,0 N.A. N.A. N.A.
____________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

- Không có số liệu.
N.A. Không áp dụng được.
a. Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore và Đài Loan.
b. Indonesia, Malaysia và Thái Lan.
Nguồn: Số liệu từ các hệ thống thương mại của LHQ (U.N. Trade systems data). Một số nhà phân tích về sau đã giải thích các thành quả trên đạt được là do các
điều kiện về văn hóa và đòa lý đặc biệt của các quốc gia trên. Nhưng nếu xét ở khởi điểm
thì có rất ít dấu hiệu là các nền kinh tế Đông Á sẽ đạt những kết quả ngoạn mục như thế.
Vào những năm 1950, ngay những người lạc quan về ngoại thương cũng hết sức bi quan về
xuất khẩu và không hề dự đoán rằng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc, trong suốt 30
năm sau, đã tăng nhanh gấp 4 lần so với mức bình quân toàn thế giới (vd, xem Little
1982).
Một tác động hiển nhiên của tăng trưởng xuất khẩu nhanh là sự gia tăng rõ nét mức
mức độ mở của nền kinh tế, cũng như sự gia tăng tỷ trọng kim ngạch xuất cộng nhập khẩu
trong GDP (xem bảng 1.6). Malaysia đã có nền kinh tế dựa chủ yếu vào ngoại thương
suốt thời gian sau khi giành được độc lập, còn Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan có những
chỉ số thiên hướng ngoại thương trung bình cho đến năm 1965, nhưng từ đó đã vượt trội
hẳn tiêu chuẩn thông thường của quốc tế. Indonesia, vốn có một nền kinh tế rộng lớn và
chỉ mới có nỗ lực xuất khẩu gần đây, có chỉ số thiên hướng ngoại thương đạt trên mức


Ghi chú: Tỷ trọng tổng kim ngạch thương mại = kim ngạch xuất khẩu cộng kim ngạch
nhập khẩu rồi chia cho GDP.
Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới. Đài Loan, số liệu các lần xuất bản khác nhau.
Thống kê Tài khoản Quốc gia: Phân tích các chỉ số tổng hợp, 1988089 (Liên Hợp Quốc).

NHỮNG CHUYỂN ĐỔI NHANH VỀ NHÂN KHẨU HỌC
Chuyển đổi về nhân khẩu học trong đó tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm từ mức cao
xuống mức thấp đã bắt đầu ở châu Âu và Bắc Mỹ với cuộc Cách mạng Công nghiệp và
phải mất gần hai thế kỷ mới hoàn thành. Một chuyển đổi như thế đang xảy ra với tốc độ
nhanh hớn nhiều ở các nước đang phát triển. Thực tế ở hầu hết các nền kinh tế, tỷ suất
chết đã giảm rõ rệt sau thế chiến thứ hai; còn tỷ suất sinh ở tất cả các nước, ngoại trừ châu
Phi hạ Sahara, cũng đã giảm đáng kể (xem bảng 1.7). Tuy nhiên, so sánh với các vùng
đang phát triển khác ở Đông Á, việc chuyển đổi sang tỷ suất sinh thấp đã bắt đầu sớm hơn
(vào thập niên 60 ở phía Bắc, đầu thập niên 70 ở phía Nam - và sớm hơn thế nữa là ở Nhật
Bản) và vẫn đang tiếp tục.
Trong thời kỳ 1965-80, tất cả các nước đang phát triển trên thế giới đều kinh qua
một sự sụt giảm rõ về tỷ suất chết (xem bảng 1.7). Mức giảm thường thấy ở đa số các nền
kinh tế là 30-40% và không biến thiên nhiều quá giữa các vùng. Tuy nhiên, trên thực tế,
vẫn còn một sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực về mức độ tỷ suất sinh giảm có thể hạn
chế một sự bùng nổ tiềm năng về dân số do tỷ suất chết giảm nhanh. Ở châu Phi hạ
Sahara, trong thời kỳ này, tỷ suất sinh giảm đi khoản 2-10%; ở Nam Á là 10-30%; ở Mỹ
La tinh là 30-40%. Tỷ lệ giảm cao nhất là ở Đông Á, từ 40% đến 50%. Kết quả là mức
gia tăng dân số giảm ở tất cả các nền kinh tế Đông Á, trong một vài trường hợp, giảm rất
nhanh. Ví dụ ở Hàn Quốc, tỷ lệ này giảm từ 2,6%/năm trong giai đoạn 1960-70 xuống còn
1,1%/năm trong giai đoạn 1980-90; ở Hồng Kông, từ 2,5%/năm xuống còn 1,4%/năm; và ở
Thái Lan, từ 3,1%/năm xuống 18,6%/năm. Ở châu Mỹ La tinh, mức giảm tỷ suất sinh
cũng đủ để giảm tỷ lệ gia tăng dân số, tuy xét tổng quát vẫn chưa đạt đến mức như ở Đông
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005

Thái Lan -46 -30 3,1 1,8

Châu Mỹ La tinh và Caribbean
Brazil -31 -36 2,8 2,2
Mehicô -40 -55 3,3 2,0
Peru -33 -50 2,9 2,3
Venezuela -31 -38 3,8 2,7

Châu Phi hạ Sahara
Ghana -6 -28 2,3 3,4
Kenya -13 -50 3,2 3,8
Sierra Leone -2 -29 1,7 2,4
Tanzania -2 -22 2,7 3,1

Nam Á
Bangladesh -27 -33 2,5 2,3
Ấn Độ -33 -45 2,3 2,1
Nepal -13 -42 1,9 2,6
Pakistan -13 -43 2,8 3,1
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________

- Không có số liệu.
Nguồn: số liệu của Ngân hàng Thế giới.

MỨC TIẾT KIỆM VÀ ĐẦU TƯ CAO
Đầu tư vật chất bao gồm tất cả phần sản lượng của nền kinh tế không được tiêu thụ
trực tiếp hoặc sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác. Máy móc, nhà xưởng và hạ tầng
cơ sở là vốn vật chất, nhưng các thành phần vốn lưu động, như hàng tồn kho, cũng quan
trọng không kém. Các nhà kinh tế vẫn xem đầu tư là một trong những động lực thúc đẩy
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright


Khi so sánh từng nước HPAE riêng rẽ với cả 118 nước mà chúng ta có số liệu đầu
tư thì bức tranh còn phức tạp hơn (xem hình 1.6). Trong thời kỳ 1960-1985, mức đầu tư ở
các nước HPAE nằm trong tứ phân vò đầu của các nền kinh tế có thu nhập trung bình và
thu nhập thấp, nhưng điều này không có gì đáng kể, vì mức đầu tư thường tăng theo thu
nhập. Điều đáng kể là tỷ lệ đầu tư tư nhân cao của họ. Hình 1.7 so sánh tỷ trọng trung
bình trong GDP của đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân trong giai đoạn 1970-1980 giữa các
nước HPAE và các nước có thu nhập trung bình khác. Đầu tư tư nhân ở các nước HPAE
cao hơn 7% so với các nước có thu nhập trung bình khác. Mức này tăng từ 15% GDP năm
1970 lên đến 22% năm 1974, sau đó giảm, rồi đứng ở mức 18% trong thời gian 1975 đến
1984. Từ 1984 đến 1986, đầu tư tư nhân giảm đáng kể phản ánh suy thoái kinh tế toàn
cầu, rồi sau đó tăng dần trở lại vào năm 1988. Ngược lại, ở các nước có thu nhập trung
bình, đầu tư tư nhân tương đối ổn đònh ở mức khoảng 11% GDP.
Tổng tiết kiệm nội đòa
Tổng đầu tư nội đòa
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té

The World Bank
14
Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xn Thành
Hình 1.6 Tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân, 1960-1985 và GDP bình quân đầu người, 1960
GDP b/q đầu người so sánh (tính theo tỷ lệ % GDP b/q đầu người của Mỹ, 1960)
Các nến kinh tế thu nhập cao
Tám nền kinh tế HPAE
Các nến kinh tế đang phát triển khác
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té

The World Bank
15
Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xn Thành
Hình 1.7 Đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân Ghi chú: LMIE là các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình.
Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới.

Hình 1.8 và 1.9 trình bày tóm tắt kết quả nổi bật của hồi qui tỷ lệ đi học tiểu học và
trung học theo thu nhập bình quân đầu người của hơn 90 nền kinh tế đang phát triển trong
hai năm 1965 và 1987.
7
Tỷ lệ đi học có mức cao hơn ở những nước có thu nhập bình quân
đầu người cao hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ này ở những nước HPAE có xu hướng vượt mức dự
đoán tính theo thu nhập bình quân đầu người của các nước này. Vào năm 1965, Hồng
Kông, Hàn Quốc và Singapore đã hoàn tất phổ cập tiểu học, vượt xa các nền kinh tế đang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status