LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới ngày nay đang ngày càng có xu hướng tiến tới sư hội nhập. Điều này
đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các quốc gia trên thế giới và mở rộng các mối
quan hệ kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng.Việt
Nam với chủ trương phát triển nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập với nền
kinh tế khu vực và trên thế giới cũng đã tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế
thông qua hoạt động thương mại quốc tế nhằm thu hút đầu tư, khai thông nguồn lực
để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Như một mắt xích không thể thiếu được trong hoạt động thương mại quốc tế,
hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng ngày càng có vị trí và vai trò quan
trọng, nó được xem là công cụ, là cầu nối trong quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ
kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế giới. Trong những năm vừa qua, hoạt
động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng của
nước ta đã trải qua những bước thăng trầm, nhưng ngày càng đang hoàn thiện và phát
triển.
Trong quá trình học tập tại trường, được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của các
thầy cô giáo, em đã tiếp thu được những kiến thức cở bản về ngân hàng thương mại,
về thanh toán quốc tế. Sau thời gian thực tập tại phòng Thanh toán quốc tế của Ngân
hàng Thương mại cổ phần Á Châu (ACB) chi nhánh Hà Nội, em nhận thấy hiện nay
trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, phương thức tín dụng chứng từ được xem là
phương thức thanh toán áp dụng phổ biến nhất. Bởi lẽ, nó đáp ứng được nhu cầu của
hai phía: Người bán hàng đảm bảo nhận tiện, người mua hàng nhận được hàng và có
trách nhiệm trả tiền. Đây là phương thức thanh toán quốc tế được áp dụng phổ biến
và an toàn nhất hiện nay, đặc biệt là trong thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu.
Trong những năm qua, Ngân hàng Á Châu chi nhánh Hà Nội đã không ngừng
đối mới và nâng cao các nghiệp vụ thanh toán của mình để phục vụ tốt hơn cho
khách hàng,đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu của khách hàng.
Cùng với chính sách kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng, thông thoáng của Chính
phủ, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển. Do đó, hình thức thanh toán tín
dụng chứng từ ngày càng được phát triển và hoàn thiên hơn. Tuy nhiên hiện nay hoạt
động thanh toán quốc tế nói chung cũng như hoạt động thanh toán quốc tế theo
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
1.1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Á Châu:
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Á Châu:
Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) được thành lập theo giấy phép số 0032/NH-
GP do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp ngày 24-04-1993 và giấy phép số 533/GP-
UB do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13-05-1993,ngày
04-06-1993 ACB chính thức đi vào hoạt động.Giấy phép hoạt động được cấp cho
thời gian hoạt động là 50 năm với vốn điều lệ bạn đầu là 20 tỷ Việt Nam đồng,tính
đến ngày 27/11/2009 vốn điều lệ của ACB là 7.814.137.550.000 đồng (Bảy nghìn
tám trăm mười bốn tỷ một trăm ba mươi bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Tính đến hết năm 2009, ngân hàng có 4 công ty con: Công ty chứng khoán
ACB(ACBS); Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng Á Châu (ACBA);
Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL); Công ty quản lý quỹ
ACB(ACBC). Ngoài ra, Ngân hàng còn liên kết và liên doanh với nhiều công ty tạo
nên: Công ty Cổ phần Dịch vụ Bảo vệ Ngân hàng Á Châu (ACBD); Công ty Cổ phần
Địa ốc ACB (ACBR); Công ty Cổ phần Sài Gòn Kim hoàn ACB- SJC (góp vốn
thành lập với SJC). Các cổ đông nước ngoài của ngân hàng là Connaught Investors
Ltd. (Jardine Matheson Group), Dragon Financial Holdings Ltd., Standard Chartered
APR Ltd., Ngân hàng Standard Chartered Hồng Kông, Công ty Tài chính Quốc tế
(IFC) của Ngân hàng Thế Giới (World Bank) và J.P.Morgan Whitefriars Inc với tỷ lệ
cổ phần nắm giữ là 30%.
Hiện nay, các hoạt động chính của Ngân hàng ACB và các công ty con là huy
động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh
toán, chứng chỉ tiền gửi; tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư; nhận vốn từ các tổ chức tín
dụng trong và ngoài nước; cho vay ngắn, trung và dài hạn; chiết khấu thương phiếu
và các giấy tờ có giá; đầu tư vào chứng khoán và các tổ chức kinh tế; làm dịch vụ
thanh toán giữa các khách hàng; kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc; thanh toán quốc tế;
sản xuất vàng miếng; môi giới và tư vấn đầu từ chứng khoán; lưu ký, tư vấn tài chính
doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành; cung cấp các dịch vụ về đầu tư, các dịch vụ về
năm 2007" (Ông Đỗ Minh Toàn - Phó Tổng Giám Đốc ACB); "Nhà lãnh đạo trẻ triển
vọng của Việt Nam năm 2007" (Ông Đỗ Minh Toàn - Phó Tổng Giám Đốc ACB);
4
Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ được hài lòng nhất năm 2008.. Đặc biệt, bắt đầu từ năm
2001, Fitch (tổ chức đánh giá xếp hạng quốc tế) đã có đánh giá xếp hạng tín nhiệm
ACB. Tháng 4/2004, Fitch đánh giá tiêu chí năng lực bản thân của ACB là D, và xếp
hạng theo tiêu chí hỗ trợ từ bên ngoài là 5T.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức và nhân sự của Ngân hàng TMCP Á Châu:
Cơ cấu tổ chức của ngân hàng ACB gồm có:
• Bảy khối : Khách hàng cá nhân, Khách hàng doanh nghiệp, Ngân quỹ, Phát triển
kinh doanh, Vận hành, Quản trị nguồn lực, Công nghệ thông tin
• Bốn ban: Kiểm tra– Kiếm soát nội bộ, Chiến lược, Đảm bảo chất lượng, Chính
sách và Quản lý tín dụng.
• Hai phòng : Quan hệ Quốc tế, Thẩm định tài sản (trực thuộc Tổng giám đốc).
Tính đến ngày 28/02/2010 tổng số nhân viên của Ngân hàng Á Châu là 6.749
người.Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 93%, thường xuyên được đào
tạo chuyên môn nghiệp vụ tại trung tâm đào tạo riêng của ACB. Hai năm 1998-1999,
ACB được Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) tài trợ một chương trình hỗ trợ kỹ thuật
chuyên về đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên, do Ngân hàng Far East Bank and Trust
Company (FEBTC) của Phi-lip-pin thực hiện. Trong năm 2002 và 2003, các cấp điều
hành đã tham gia các khoá học về quản trị ngân hàng của Trung tâm Đào tạo Ngân
hàng (Bank Training Center).
Ngoài ra, trong năm 2009 Ngân hàng còn hoàn thành cơ bản chương trình tái cấu
trúc nguồn nhân lực tại kênh phân phối để làm tiền đề cho việc nâng cao năng suất
lao động, đánh giá đúng năng lực, khen thưởng một cách xứng đáng cho nhân viên.
Kết quả là đến 31/12/2009 lượng nhân viên toàn hệ thống đã giảm gần 5% chủ yếu
do điều chuyển hợp lý hóa công việc, trong khi quy mô kinh doanh của Ngân hàng
tăng từ 45% đến gần 80% ở tất cả các chỉ tiêu chính.
1.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây của Ngân hàng
TMCP Á Châu:
quý IV năm 2008 của ACB không có lãi do Ngân hàng chia sẻ khó khăn với các
khách hàng vay vốn trong điều kiện nếu tính đúng, tính đủ các chi phí thì lãi suất cho
vay vượt khả năng chịu đựng của bên vay. Thay vào đó, tỷ trọng thu nhập từ các hoạt
động còn lại (chủ yếu là kinh doanh trái phiếu, kinh doanh vàng trên thị trường thế
giới và hoạt động dịch vụ) đã tăng đáng kể và đạt tỷ trọng 77%. Một trong những
6
nguyên nhân giúp ACB hoàn thành kế hoạch lợi nhuận là việc đề cao công tác kiểm
soát chi phí điều hành. Cụ thể, do khai trương thêm đến 75 đơn vị và tuyển dụng
thêm 2.589 nhân viên mới nên chi phí điều hành cả tập đoàn năm 2008 lên đến 1.392
tỷ đồng, tăng khoảng 624 tỷ đồng so với năm 2007, nhưng mức tăng này thấp hơn
nhiều so với mức tăng của tổng thu nhập (+6.976 tỷ đồng) trong năm.
Tương ứng với kết quả kinh doanh nói trên, tập đoàn ACB tiếp tục hoàn thành
tốt nghĩa vụ thuế đối với ngân sách nhà nước. Cụ thể, năm 2008 tập đoàn nộp ngân
sách 454 tỷ đồng, cao hơn 60 tỷ đồng so với giá trị nộp ngân sách năm 2007 của tập
đoàn (394 tỷ đồng).
Tổng hợp tình hình hoạt động của tập đoàn trong năm 2008 được tóm tắt qua
bảng số liệu dưới đây:
Bảng 1.1: Tổng hợp tình hình hoạt động năm 2008 của ACB
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Thực hiện
2008
Kế hoạch
2008
% so kế
hoạch
Thực hiện
2007
% tăng
trưởng so
2007
2008
% tăng trưởng
so 2008
Lợi nhuận
trước thuế
2.700 2.838 105,1% 2.561 10,8%
Tổng tài sản 170.000 167.881 98,8% 105.306 59,4%
Tổng dư nợ tín
dụng
65.000 62.358 95,9% 34.833 79,0%
Huy động
khách hàng
130.000 108.992 83,8% 75.113 45,1%
(Nguồn: Báo cáo thường niên của ngân hàng ACB năm 2009)
Về mặt lợi nhuận, Tập đoàn ACB đã thực hiện vượt mức kế hoạch với 2.838
tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, cao hơn 138 tỷ đồng so với kế hoạch. Cơ cấu lợi nhuận
của ngân hàng cũng ngày một đa dạng hơn khi tính đến hết ngày 31/12/2009 họat
động tín dụng chiếm 20%, hoạt động dịch vụ đạt 26% và hoạt động kinh doanh vốn,
vàng và ngoại hối chiếm 37% trong tổng lợi nhuận trước thuế. Tương ứng với kết
quả kinh doanh nói trên, ACB tiếp tục hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế đối với Nhà
nước. Cụ thể năm 2009 Tập đoàn nộp ngân sách 770 tỷ đồng, cao hơn 316 tỷ đồng so
với năm 2008.
Về vốn ngân hàng, trong năm 2009 ACB đã hoàn thành tăng vốn điều lệ thêm
1.458 tỷ đồng từ chuyển đối trái phiếu thành cổ phiếu và phát hành cố phiếu thưởng
từ các quỹ. Sau khi tăng vốn, ACB có tổng cộng 781.413.755 cố phiếu đang lưu hành
và 100% là cố phiếu phổ thông. Đến 31/12/2009 ACB có mức vốn điều lệ 7.814 tỷ
đồng, thuộc hàng lớn nhất trong nhóm các ngân hàng thương mại cố phần Việt Nam.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của ACB-chi nhánh Hà Nội:
Ngân hàng TMCP Á Châu-chi nhánh Hà Nội được thành lập và chính thức đi
vào hoạt động từ ngày 14-12-1993, đây là chi nhánh đầu tiên và là chi nhánh trung
tổng vốn huy động đạt 1.902.898 triệu đồng. Đến năm 2007, con số này lên đến
3.162.751 triệu đồng, tăng 66,2% so với năm 2006. Năm 2008, tổng vốn huy động
đạt mức 4.522.682 triệu đồng, tăng 43% so với năm 2007.
Nguồn vốn ngân hàng huy động các thành phần kinh tế thể hiện qua bảng biểu
sau:
9
Bảng 1.3: Tình hình huy động vốn của ACB-Chi nhánh Hà Nội
theo thành phần kinh tế
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm 2006 Năm 2007 Năm2008 Năm 2009
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Tiền
vay
NHNN
47.064 2.5 32.732 1,03 42.513 0,94 57.043 0,87
Tiền từ
TCTD
trong
nước
kinh tế tế thị trường, sự biến động của tỷ giá, lạm phát cao..ảnh hưởng tới đời sống
dân cư. Do đó ảnh hưởng tới lượng tiền gửi ngân hàng của khách hàng, dẫn đến ảnh
hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
Tiền vay của NHNN và các tổ chức tín dụng khác chiếm không đáng kể. Tiền
vay từ NHNN năm 2006 là 47.064 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 2,5% giảm xuống
1,03% năm 2007 và 0.94% năm 2008 và sang năm 2009 chỉ chiếm 0,87%
Nguồn vốn huy động của chi nhánh Hà Nội chủ yếu là huy động từ tiền gửi
tiết kiệm của dân cư và các tổ chức kinh tế. Đây là nguồn tiền gửi khá ổn định trong
tổng nguồn vốn huy động, là nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để kinh doanh, đầu tư
và cho vay. Cụ thể như sau:
Bảng 1.4: Tình hình huy động vốn của ACB-Chi nhánh Hà Nội
theo mục đích gửi tiền
Đợn vị tính: Triệu đồng
Thời gian
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Tiền gửi
thanh toán
416.735 1.002.581 1.091.323 1.532.432
Tiền gửi
tiết kiệm
1.486.163 2.160.134 3.431.395 5.023.786
Tổng
huy động
1.902.898 3.162.715 4.522.682 6.556.218
(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của ACB-chi nhánh Hà Nội 2006-2009)
Tính đến cuối năm 2006, huy động tiền gửi tiết kiệm là 1.486.163 triệu đồng,
chiếm 78,1% trong tổng vốn huy động. Tiền gửi thanh toán là 416.735 triệu đồng,
chiếm 21.9% trong tổng vốn huy động
Năm 2007, tiền gửi tiết kiệm đạt 2.160.134 triệu đồng, tăng 45,35% so với
12
Bảng 1.5: Tỷ trọng dư nợ của ACB-Chi nhánh Hà Nội
Đơn vị tính: triệu đồng
Thời gian
Chỉ tiêu
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Doanh số
cho vay
1.822.607 3.444.727 4.485.691 5.856.723
Doanh số
thu nợ
382.824 683.933 908.405 1.186.367
Tổng dư nợ 850.721 1.590.543 2.125.920 2.785.124
Tổng dư nợ
các NHTM
trên địa bàn
Hà Nội
113.429.467 191.631.867 250.108.235 323.269.420
(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động của ACB-chi nhánh Hà Nội 2006-2009)
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy doanh số cho vay và doanh số thu nợ tăng
lên qua các năm.
Năm 2006, doanh số cho vay đạt 1.822.607 triệu đồng, doanh số thu nợ đạt
382.842 triệu đồng và tổng dư nợ đạt 850.721 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,75% so
với tổng dư nợ của các Ngân hàng thương mại(NHTM) trên địa bàn Hà Nội.
Năm 2007, doanh số cho vay đạt 3.444.727 triệu đồng, tăng xấp xỉ 84% so với
cuối năm 2006; đồng thời doanh số thu nợ đạt 683.933 triệu đồng, tăng 78,65% so
với năm 2006. Doanh số cho vay tăng với tỷ lệ cao hơn doanh số thu nợ chứng tỏ
Ngân hàng ACB-chi nhánh Hà Nội đã thu hút được nhiều khách hàng tham gia vay
vốn tại chi nhánh; đồng thời cũng phản ánh thực trạng công tác thu nợ của chi nhánh
còn tồn tại rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên so với tổng dư nợ của các NHTM trên địa
nhanh tốc độ thanh toán, thu hút được đông đảo các tổ chức kinh tế, các cá nhân đến
mở giao dịch tại chi nhánh, đưa doanh số khách hàng tăng nhanh qua các năm, nhờ
đó tăng thu phí dịch vụ, đem lại một nguồn thu khá lớn cho chi nhánh và toàn ngân
hàng. Cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, giao dịch trực tuyến
trong toàn hệ thống; mạng lưới các phòng giao dịch được bố trí hợp lý chi nhánh đã
đáp ứng những yêu cầu mà khách hàng cần.
Năm 2007, ACB đã nâng cấp phần mềm The Complete Banking Solution
(TCBS: Giải pháp ngân hàng toàn diện) từ phiên bản năm 2000 lên phiên bản năm
2007 cho phép tất cả chi nhánh và phòng giao dịch nối mạng với nhau, giao dịch tức
thời, dùng chung cơ sở dữ liệu tập trung với khả năng xử lý và quản lý gấp 5 đến 10
lần trước đó. Do vậy, thời gian giao dịch thanh toán được rút ngắn, chất lượng thanh
toán được nâng cao, việc kiểm tra giám sát được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện,
14
đảm bảo an toàn, chính xác hơn nhiều. Điều này cũng góp phần quan trọng thu hút
khách hàng đến với chi nhánh.
- Hoạt động thanh toán quốc tế:
Đây là dịch vụ truyền thống, đã tồn tại từ rất lâu của ngân hàng và của chi
nhánh. Dịch vụ này đóng góp một tỷ trọng đáng kể trong tổng thu dịch vụ của ACB.
Với sự ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thanh toán, trình độ các thanh
toán viên ngày càng cao, mạng lưới ngân hàng đại lý ở hơn 80 quốc gia trên toàn thế
giới…hoạt động thanh toán của chi nhánh tăng trưởng không ngừng.
Gần đây ACB-Chi nhánh Hà Nội đã áp dụng một số chính sách ưu đãi đối với
khách hàng doanh nghiệp về tín dụng, tài trợ xuất khẩu, ký quỹ thư tín dụng… Hầu
hết các dịch vụ do chi nhánh cung cấp có hàm lượng công nghệ cao, phù hợp với xu
thế ứng dụng công nghệ thông tin và nhu cầu của khách hàng trong thời đại hiện nay.
Hoạt động này không những đem lại nguồn thu đáng kể cho chi nhánh mà còn nâng
cao khả năng cạnh tranh cho chi nhánh trong điều kiện nền kinh tế hội nhập hiện nay.
Vì vậy, chi nhánh cần có những kế hoạch để ngày càng nâng cao nguồn thu nhập này
và gia tăng uy tín của mình trong lĩnh vực thanh toán quốc tế.
1.3.4. Một số hoạt động khác:
chuyển tiền nhanh toàn cầu Western Union (WU). Đến nay ACB có hơn 450 điểm
chi trả tại nhiều tình, thành phố trên toàn quốc, doanh số chuyển tiền hằng năm đạt
trên 55 triệu USD.
Hoạt động Western Union của Ngân hàng ACB-chi nhánh Hà Nội đạt hiệu
quả cao với chất lượng hoạt động nghiệp vụ ngày càng tăng.
1.3.4.3. Dịch vụ ngân hàng điện tử:
Ở Việt Nam, ACB là một trong những ngân hàng đầu tiên ứng dụng công
nghệ thông tin trong giao dịch điện tử. Từ năm 2003, ACB-chi nhánh Hà Nội đã cung
cấp một số dịch vụ Ngân hàng điện tử như: Home banking, Internetbanking, Phone
banking, Mobile banking. Đây là những dịch vụ ngân hàng mang tính hiện đại, công
nghệ hóa cao, mang đến sự tiện ích không chỉ cho khách hàng mà còn cho ngân hàng.
Hiệu quả của dịch vụ ngân hàng điện tử đối với khách hàng là tiết kiệm thời gian và
có thể thực hiện các giao dịch mọi lúc, mọi nơi. Lợi ích đối với ngân hàng cũng
không nhỏ, các dịch vụ ngân hàng điện tử giúp ACB tiết kiệm nhiều chi phí, do phải
thuê nhân viên và đầu tư cho mặt bằng, cũng như trang thiết bị. Năm 2004, ACB-chi
nhánh Hà Nội đã đưa vào hoạt động tổng đài 247 nhằm tăng thêm các tiện ích cho
khách hàng thông qua việc giao dịch qua điện thoại. Tổng đài này tiếp tục được phát
triển thành Call Center 247 vào tháng 4 năm 2005.
Ngoài ra, trong những năm qua ACB-Chi nhánh Hà Nội đã và đang nỗ lực đa
dnagj hóa danh mục sản phẩm. Một loạt sản phẩm tiết kiệm và tín dụng mới được
16
tung ra nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một khắt khe của khách hàng như tiết kiệm tuần,
tiết kiệm 5+, vay siêu tốc 24h, vay qua mạng, tín dụng lãi suất cố định, tăng thời hạn
cho vay đối với cho vay mua nhà để ở. Bên cạnh đó, ACB-Chi nhánh Hà Nội là đơn
vị đi đầu trong việc giới thiệu loại hình đầu tư mới tại Việt Nam và cũng là đầu tiên
trên địa bàn Hà Nội là lĩnh vực đầu tư vàng.
1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của ACB-chi nhánh Hà Nội trong những
năm gần đây:
Bảng 1.6: Kết quả kinh doanh của ACB-Chi nhánh Hà Nội
Đơn vị:Triệu đồng
hàng tận dụng được cơ hội trong cơn biến động về vàng (đặc biệt là kinh doanh vàng
ở nước ngoài) và trái phiếu để bù đắp lợi nhuận. Sang năm 2009, tuy vẫn còn chịu
những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này, tuy nhiên Chính phủ và NHNN Việt
Nam đã có những biện pháp kịp thời nhằm cải thiện nền kinh tế. Vì vậy nền kinh tế
nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đã có những chuyển biến đáng kể.. Qua đó ta
có thể thấy, mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng lợi nhuận
của chi nhánh không ngừng tăng lên qua các năm.
18
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
CHI NHÁNH HÀ NỘI
2.1. Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
chứng từ tại Ngân hàng Á Châu chi nhánh Hà Nội
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, trong những năm qua, ACB-
Chi nhánh Hà Nội đã không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh
toán, đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán L/C để phục vụ tốt cho khách hàng của mình,
đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hóa xuất nhập khẩu qua ACB-Chi nhánh Hà Nội, từ
đó chi nhánh đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ.
2.1.1. Tình hình thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng
từ:
Hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ cho hàng hóa nhập
khẩu tại ACB-Chi nhánh Hà Nội không những đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đem
lại một nguồn lợi nhuận cho Ngân hàng mà còn góp phần nâng cao uy tín của hệ
thống ngân hàng ACB nói chung, của chi nhánh Hà Nội nói riêng.
Thanh toán hàng nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ hiện nay
đang là hoạt động chủ yếu của bộ phận TTQT tại chi nhánh Hà Nội. Nguyên nhận là
do:
- Thứ nhất, do đặc điểm kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay đã có những
số(USD)
Số
lượng
hồ sơ
51.332.066 134 35.116.000 187 61.887.465 241 87.461.752 296
(Nguồn:Báo cáo tình hình hoạt động TTQT của ACB-Chi nhánh Hà Nội hằng năm)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, doanh số và số lượng L/C nhập khẩu tăng dần
trong những năm gần đây.
Năm 2006 là năm mà hoạt động TTQT của chi nhánh có những kết quả đáng
khích lệ, số lượng L/C được mở là 134 bộ với tổng giá trị là 35.116.000 USD, gia
tăng đột biến so với năm 2005 là 120 bộ L/C được mở với tổng giá trị là 11.569.744
USD.
Sang năm 2007, số lượng L/C được mở vẫn tiếp tục tăng, đạt 187 bộ, tăng 53
bộ so với năm 2006; tuy nhiên doanh số thanh toán hàng hóa nhập khẩu bằng phương
thức tín dụng chứng từ lại có một sự giảm sút lớn. Doanh số chỉ đạt 35.116.000 USD,
giảm 16.216.066 USD, tương ứng với giảm 46,2% so với năm 2006. Phần lớn kết
quả của những biến động này xuất phát từ sự thay đối bất thường trong doanh số giao
dịch của khách hàng. Sở dĩ có sự giảm sút này là do trong năm 2007, một khách hàng
lớn của chi nhánh bị giảm doanh số trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
Điều này dẫn đến sự sút giảm trong doanh số về L/C nhập khẩu của ACB-Chi nhánh
Hà Nội.
Năm 2008, nhờ sự cố gắng của các thanh toán viên cùng sự quan tâm chỉ đạo
và hướng dẫn của ban lãnh đạo ACB-Chi nhánh Hà Nội nên doanh số thanh toán
hàng nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ gia tăng trở lại, đạt 61.887.465
USD, tăng 76,2% so với năm 2007. Số bộ hồ sơ L/C nhập khẩu đạt 241 bộ, tăng 54
bộ so với năm 2007. Năm 2008 là một năm nhiều biến động của kinh tế thế giới. Ở
Việt Nam, bên cạnh những vấn đề nội tại, kinh tế cũng chịu nhiều tác động xấu từ
những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế
chậm lại, đạt mức thấp nhất kể từ năm 2000, tuy còn giữ được ở mức khá cao so với
các nước khác; xuất khẩu gặp khó khăn, nhập siêu tăng đột biến; hoạt động sản xuất
lượn
g hồ
sơ
Doanh số
(USD)
Số
lượn
g hồ
sơ
L/C
NK
51.332.06
6
134 35.116.00
0
187 61.887.465 241 87.461.752 296
T/T 44.157.46
1
1960 50.210.00
0
2102 39.751.000 1832 49.832.000 2067
Nhờ
thu
nhập
1.748.594 70 1.907.160 75 2.142.033 78 2.427.277 82
Doan
h số
nhập
97.238.12
1
nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ nói riêng trong hai năm gần đây vẫn
gia tăng. Đây là kết quả của sự nỗ lực từ phía ngân hàng: không ngừng nâng cao trình
độ thanh toán viên, liên tục đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, tăng cường các hoạt động
marketing sản phẩm, tạo ra những dịch vụ mới hấp dẫn khách hàng...
Để có được sự tăng trưởng đáng kể qua các năm hoạt động một phần phải kể
đến biểu phí hấp dẫn mà ngân hàng đã xây dựng và không ngừng hoàn thiện.
22
Bảng 2.3: Biểu phí giao dịch thanh toán hàng nhập khẩu
bằng phương thức tín dụng chứng từ của ACB
STT Giao dịch Mức phí
1 Phát hành thư tín dụng
- Ký quỹ 100% 0,075% - 10,0%; TT
20USD, TĐ 10.000USD
- Ký quỹ <100% (Kể cả trường hợp ký quỹ
bằng 0%)
TT: 20USD
Số tiền ký quỹ 0,075% - 10,0%, TĐ
10.000USD
Số tiền không ký quỹ 0,15% - 10,0%
2 Tu chỉnh thư tín dụng
Tu chỉnh tăng số tiền Như phát hành thư tín dụng
Các tu chỉnh khác 10USD
3 Ký hậu vận đơn/ phát hàng ủy quyền nhận
hàng
2USD
4 Chấp nhận hối phiếu/ chấp nhận thanh toán
thư tín dụng trả chậm (phí tính trọn tháng)
- Ký quỹ 100% 0,05%/ tháng; TT:50USD
- Ký quỹ <100% 0,08%/ tháng; TT: 50USD
5 Thanh toán thư tín dụng 0,20% - 10,0% ; TT
phần nhỏ vào sự tăng trưởng của hoạt động TTQT nói chung và hoạt động TTQT
bằng tín dụng chứng từ nói riêng của chi nhánh. Trong những năm qua, cùng với sự
phát triển của đất nước, giao lưu thương mại quốc tế ngày càng được mở rộng, theo
đó hoạt thanh toán hàng hóa xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại ACB-
Chi nhánh Hà Nội cũng đã có những bước tăng trưởng tích cực, đáng kể. Điều đó
được thể hiện qua doanh số và số lượng L/C xuất khẩu qua các năm từ 2006 đến
2009, như sau:
Bảng 2.4: Giá trị L/C xuất khẩu qua các năm từ 2006 đến 2009
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Doanh
số(USD)
Số
lượng
hồ sơ
Doanh
số(USD)
Số
lượng
hồ sơ
Doanh
số(USD)
Số
lượng
hồ sơ
Doanh
số(USD)
Số
lượng
hồ sơ
246.918 13 1.050.000 40 8.065.432 52 13.378.982 67