1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phạm Thị Gái
Lời mở đầu
Với xu thế hội nhập và phát triển các doanh nghiệp đều ra sức hoàn thiện bộ
máy của mình cũng như đổi mới công nghệ, củng cố về tài chính, nhân lực nhằm
nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành nâng cao khả năng cạnh tranh và
mở rộng thị trường. Cũng nằm trong xu thế đó, công ty TNHH nhà nước một thành
viên luôn luôn nỗ lực để xây dựng một hình ảnh thương hiệu Giày Thượng Đình
uy tín chất lượng và được người tiêu dùng tin tưởng. Năm 2007, Giày Thượng
Đình là thương hiệu đứng thứ 56 trong danh sách 100 thương hiệu dẫn đầu hàng
Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn.
Trong suốt hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, công ty TNHH nhà nước
một thành viên Giày Thượng Đình đã có những chuyển đổi mạnh mẽ về cả hình
thức lẫn quy mô hoạt động. Cho đến nay, công ty đã có nhà máy sản xuất với một
dây chuyền công nghệ hiện đại, tạo lập được một thị trường ổn định cả trong và
ngoài nước, tạo công ăn việc làm và ổn định thu nhập cho gần 3000 cán bộ công
nhân viên.
Trong một doanh nghiệp, tiền lương luôn là một vấn đề được nhiều đối
tượng quan tâm. Người lao động luôn mong muốn tiền lương của mình ngày càng
cao để đảm bảo cuộc sống. Nhà quản trị luôn tìm mọi cách để giảm thiểu chi phí,
kể cả chi phí tiền lương, nhưng cũng luôn băn khoăn liệu chính sách tiền lương của
doanh nghiệp mình đã hợp lý hay chưa, làm sao đảm bảo việc giảm thiểu chi phí
mà vẫn thu hút được hiền tài. Các tổ chức xã hội lại quan tâm doanh nghiệp có
đảm bảo cho người lao động được thực hiện mọi quyền lợi và nghĩa vụ của mình
hay không,… Để cung cấp thông tin nhằm thỏa mãn các đối tượng đó chúng ta
không thể không nhắc đến kế toán tiền lương. Vì thế, khi được thực tập tại Công ty
Giầy Thượng Đình, một doanh nghiệp mà có số lượng lao động rất đông đảo, em
đã rất chú ý đến phần hành kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương và
mong muốn được đi sâu tìm hiểu phần hành này.
Chuyên đề của em bao gồm ba chương như sau:
2
chúng ta có thể chia thành các giai đoạn như sau:
Những chặng đường đầu tiên (1957 – 1960).
Đây là thời kỳ khai sinh cho lịch sử truyền thống của công ty. Tháng 1/1957
xí nghiệp X30 được thành lập, dưới sự quản lý của cục Quân nhu, Tổng cục Hậu
cần quân đội nhân dân Việt Nam và chịu trách nhiệm sản xuất mũ cứng, giày vải
thay thế cho mũ nan và dép cao su cho quân đội.
Thời kỳ này hết sức khó khăn, cơ sở vật chất ban đầu gần như không có gì,
công nhân chưa quen với công việc, sản xuất hoàn toàn bằng thủ công. Nhưng
cũng chính từ những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua đó ngành chế
tạo máy Việt Nam và thế giới đã chứng kiến sự xuất hiện chiếc máy cán độc nhất
vô nhị, được chế tạo từ nòng súng cao su, vỏ xe tăng và hộp số ô tô kết hợp với sự
sáng tạo và nỗ lực của cán bộ, công nhân xí nghiệp. Với sự ra đời của chiếc máy
4
cán đầu tiên đó X30 đã dần dần vượt qua mọi khó khăn để định hình sản xuất. Tuy
sản lượng sản phẩm còn thấp, khoảng 55.000 chiếc mũ và 200.000 đôi giầy mỗi
năm nhưng xí nghiệp đã cung cấp ngày càng nhiều mũ và giầy vải cho quân đội.
Đến năm1960, xí nghiệp đã được Chính phủ tặng thưởng huân chương Chiến công
hạng Ba và vinh dự được đón vị Tổng chỉ huy Quân đội – Đại tướng Võ Nguyên
Giáp về thăm.
Tất cả vì Miền Nam Ruột thịt (1961-1975)
Thời kỳ này, xí nghiệp X30 chính thức được chuyển giao sang Cục Công
Nghiệp Hà Nội. Từ đây X30 trở thành một thành viên trong đội ngũ các nhà máy,
xí nghiệp góp phần xây dựng nền công nghiệp non trẻ của Hà Nội.
Tháng 6 năm 1965, Xí nghiệp X30 tiếp nhận một đơn vị công ty tổng hợp
sản xuất giầy dép là Liên xưởng kiến thiết giầy vải ở phố Trần Phú và Phố Kỳ
Đồng ( nay là phố Tống Duy Tân) và đổi tên thành nhà máy cao su Thụy Khê. Nhờ
sự phát triển mạnh mẽ trong sự phát triển chung của nền Công nghiệp Thủ đô, quy
mô nhà máy cao su Thụy Khuê càng được mở rộng khi sát nhập thêm Xí nghiệp
giầy vải Hà Nội cũ, gồm 2 cơ sở Văn Hương-Chí Hằng) lấy tên là Xí Nghiệp Giầy
Vải Hà Nội.
cán bộ và công nhân phải ra sức để khắc phục mọi khó khăn. Sau khi nghiên cứu
nhiều mô hình sản xuất, nghiên cứu chính sách đổi mới của Nhà nước và học tập
kinh nghiệm của các đơn vị bạn, ban lãnh đạo XN đã tìm ra giải pháp tháo gỡ khó
khăn, mạnh dạn khai thác các thị trường xuất khẩu mới bằng chính sản phẩm
truyền thống của mình. Nhờ sự giúp đỡ hiệu quả về vốn của Ngân Hàng Ngoại
Thương Hà Nội, hợp đồng hợp tác xuất khẩu với công ty Kỳ Quốc ( Đài Loan)
được kí kết. Nhờ có dây chuyền sản xuất giầy vải hoàn chỉnh tiên tiến của đối tác,
tháng 9/1992, XN đã xuất khẩu lô hàng đầu tiên đạt tiêu chuẩn quốc tế sang thị
trường Pháp và CHLB Đức.
6
Đến tháng 7/1993, XN Giầy Thượng Đình chính thức được đổi tên thành
Công Ty Giầy Thượng Đình. Từ năm 1996, sản phẩm của công ty nhiều năm đạt
giải TOPTEN, một trong 10 mặt hàng được người tiêu dùng bình chọn yêu thích
nhất.
Để củng cố chất lượng, một mặt công ty tiếp tục bổ sung thêm thiết bị một
măt tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và đào tạo lại đội ngũ công nhân, xây
dựng câu lạc bộ chất lượng, tiếp cận và áp dụng thành công hệ thống quản lý chất
lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO-9001.
Hội nhập và phát triển (2002-2008)
Liên tục đổi mới và phát triển, với một thương hiệu đã được khẳng định,
Giầy Thượng Đình đã sẵn sàng bước vào thế kỉ XXI, thế kỉ hội nhập.
Ở giai đoạn này,công ty lại tiếp tục tập trung đầu tư chiều sâu và chiều rộng
đổi mới trang thiết bị để có một cơ sở vật chất xứng tầm với các nước trong khu
vực. Đồng thời đổi mới cung cách quản lý, chỉ đạo, điều hành kinh doanh. Thay vì
chỉ sản xuất gia công cho nước ngoài như thời kì trước, đến giai đoạn này có tới
90% hàng hóa xuất khẩu theo phương thức mua đứt bán đoạn ( trọn gói). Không
nhũng thế, công ty đã dần dần thay thế vật tư nhập khẩu bằng vật tư sản xuất trong
nước, tạo lập được một hệ thống khách hàng quốc tế ổn định, hợp tác lâu dài. Năm
2006 đánh dấu bước phát triển vượt bậc của công ty khi xuất khẩu lô hàng đầu
tiên trực tiếp vào thị trường nhiều tiềm năng và khó tính Mỹ. . Riêng Nhà máy mới
10 LN/DT %
0,12 0,172 0,26
Biểu 1.1:Một số chỉ tiêu tài chính
(Nguồn: Báo cáo tài chính đã được kiểm toán)
Qua các số liệu trên ta thấy, kết quả kinh doanh của công ty đã có sự tăng
lên rõ rệt trong những năm qua, đặc biệt là năm 2007 doanh thu tăng lên gần 50 tỷ
đồng ( tăng khoảng 28%) đã làm lợi nhuận tăng lên gấp hai lần năm 2006, 3 lần so
với năm 2005, tỷ lệ LN/Tổng TS và LN/VCSH cũng tăng lên với tỷ lệ tương ứng.
Đây là một kết quá rất đáng được thán phục ở các doanh nghiệp ngành giày da.
Cũng thông qua bảng số liệu trên ta thấy, giá trị tổng tài sản cũng như tổng
tài sản cố định, vốn chủ sở hữu tăng lên không đáng kể trong năm 2006, và không
có biến động trong năm 2007 điều này cho thấy hoạt động của công ty đã đi vào ổn
định, hệ thống dây chuyền sản xuất cũng như máy móc thiết bị đã được lắp đặt đầy
8
đủ. Điều này cho thấy trong năm 2007dù không mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh đầu tư thêm trang thiết bị mới mà sự tập trung phát triển về chiều sâu, nâng
cao năng suất lao động sử dụng hiệu quả các nguồn lực sản xuất, nâng cao chât
lượng sản phâm cũng như mở rộng thị trường, tăng nhanh số lượng sản phẩm tiêu
thụ để từ đó tăng nhanh doanh thụ tiêu thụ đồng thời tăng nhanh lợi nhuận trong
các kỳ.
1.2.Đặc điểm tổ chức quản lý và sản xuất của công ty
1.2.1.Đặc điểm bộ máy quản lý:
Công ty Giày Thượng Đình là công ty nhà nước một thành viên, là một đơn
vị kế toán độc lập có đặc điểm sản xuất tập trung với quy mô lớn, hoạt động theo
định hướng của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước và bộ máy tổ
chức được xây dựng theo kiểu trực tuyến - chức năng, và theo chế độ một thủ
trưởng.
Hệ thống trực tuyến bao gồm ban giám đốc công ty và quản đốc các phân
xưởng. Ban giám đốc bao gồm một giám đốc , một trợ lý giám đốc và bốn phó
giám đốc. Tổng giám đốc sẽ là người chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cơ
Phòng kỹ thuật, công nghệ: Phòng này sẽ chịu trách nhiệm về phần kỹ thuật
cho việc sản xuất sản phẩm như sữa chữa máy móc, thiết bị, nghiên cứu các quy
trình công nghệ mới dựa trên các thông tin mà phòng thử mẫu cung cấp.
Phòng quản lý chất lượng, đây là phòng giám sát và kiểm tra từng quy trình
sản xuất, chất lượng của các loại nguyên vật liệu đầu vào cũng như của bán thành
phẩm sau từng công đoạn nhằm có được sản phẩm với chất lượng cao nhất.
Phòng kế hoạch vật tư: Phòng này là phòng có trách nhiệm đưa ra kế hoạch
mua vật tư, định mức vật tư cũng như kế hoạch hạ giá thành sản phẩm.
10
Phòng tiêu thụ tiến hành phân tích thị trường, lập kế hoạch tiêu thụ, quảng
bá sản phẩm đồng thời kết hợp với bộ phận sản xuất cũng như kho bãi nhằm đảm
bảo sản phẩm luôn luôn có đủ hàng để bán và bán với số lượng lớn nhất.
Phòng cơ năng là phòng thực hiện nhiệm vụ đảm bảo điện nước, cung cấp
đầy đủ năng lượng cho hoạt động của các phân xưởng và các phòng ban trong toàn
doanh nghiệp.
Phòng bảo vệ giữ chức năng kiểm tra, bảo vệ tài sản của công ty cũng như
đảm bảo an ninh trật tự trong công ty.
Phòng vệ sinh môi trường thường xuyên giọn dẹp các phân xưởng, xử lý
chất thải, trang trí khuôn viên nhằm tạo ra môi trường sạch đẹp, an toàn cho sức
khỏe của công nhân và cán bộ trong công ty.
Trạm y tế, đây là trung tâm chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, công nhân viên
trong công ty. Phòng này có trách nhiệm khám chữa bệnh thường xuyên, chăm sóc
công nhân khi ốm đau, tai nạn lao động cũng như tiến hành tiêm phòng khi có dịch
bệnh.
Các phân xưởng chịu sự quản lý của phó giám đốc sản xuất. Đây chính là bộ
phận trực tiếp sản xuất ra sản phẩm của công ty và hiệu quả hoạt động của bộ phận
này có tác động rất lớn trong việc xúc tiến quá trình tiêu thụ cũng như thực hiện
mục tiêu tiết kiệm chi phí.
Mặc dù mỗi phòng ban chức năng có một nhiệm vụ riêng nhưng lại có mối
liên hệ rất chặt chẽ với nhau. Hiệu quả của phòng này sẽ hỗ trợ cho công việc của
xưởng chính như sau:
Phân xưởng bồi cắt: Phân xưởng này đảm nhiệm hai khâu đầu của quy trình sản
xuất là bồi tráng và cắt vải bạt. Nguyên vật liệu chủ yếu là vải bạt các màu, vải lót,
mút xốp,… sẽ được chuyển đến máy bồi. Máy bồi có chức năng kết dính các loại
vải này với nhau bằng một lớp keo dính và ở nhiệt độ từ 180-2000 độ C. Các loại
vải được bồi thành ba lớp là lớp mặt, lớp giữa và lớp lót. Vải sau khi bồi xong sẽ
chính là nguyên liệu để may mũ giày. Chúng được chuyển sang phân xưởng cắt để
cắt thành các chi tiết của mũ giày.
Phân xưởng may: đảm nhận công việc tiếp theo của phân xưởng bồi cắt là may các
chi tiết của mũ giày thành mũ giày hoàn chỉnh. Ngoài vải đã bồi cắt ở trên, nguyên
vật liệu chủ yếu của phân xưởng này còn có vải phin, dây, xăng… Quá trình may ở
công đoạn này cũng trải qua nhiều thao tác kỹ thuật phức tạp và liên tiếp nhau như
can góc, may nẹp, kẻ chỉ,… và cuối cùng là may thành mũ giày hoàn chỉnh.Phân
xưởng cán thực hiện việc chế biến các hóa chất để sản xuất đế giày bằng cao su.
Với nguyên liệu chủ yếu là cao su, các hóa chất như kẽm ôxit, barisunfat,… sau
khi chế biến sẽ cho ra loại cao su có độ cứng vừa phải, độ đàn hồi cao và nó được
cán cho vào khuôn để cán thành đế giày hoàn chỉnh.
Phân xưởng gò: Phân xưởng này sẽ thực hiện công đoạn cuối cùng của công
nghệ sản xuất giày. Băng việc dính quét keo, dán đế, dán viền các chi tiết như mũ
giày, đế giày, dây giày, dây gai, giấy lót,… được gắn kết lại với nhau thành từng
chiếc giày hoàn chỉnh. Sau đó chúng sẽ được đưa sang bộ phận lưu hóa để hấp ở
Giám đốc
Phó giám đốc sản
xuất-chất lượng
Phó giám đốc kỹ
thuật-công nghệ
Phòng
kế
toán-
TC
cắt 2
Phân
xưởng
cán
Phân
xưởng
may
giày vải
Phân
xưởng
may giày
thể thao
Phân
xưởng gò,
bao gói
GV
Phân
xưởng gò,
bao gói
giày TT
13
nhiệt độ khoảng 130 độ C trong vòng từ 3-4 giờ nhằm đảm bảo độ bền của giày.
Giày sau khi lưu hóa xong sẽ được kiểm tra chất lượng rồi xâu dây và đóng gói.
Ngoài các phân xưởng chính trên, còn có các phân xưởng sản xuất phụ phục vụ
cho sản xuất. Đó là các phân xưởng cơ năng, chịu trách nhiệm cung cấp điện, lắp
đặt, sữa chữa, bảo dưỡng thiết bị, cung cấp hơi nóng, áp lực cho các phân xưởng
chính.
Sản phẩm của công ty có chu kỳ ngắn, quy trình công nghệ sản xuất phức
tạp kiểu liên tục nhưng ổn định và thuộc loại sản xuất khối lượng lớn. Trên các dây
chuyền có thể sản xuất hàng loạt với các mã giày khác nhau có thể theo đơn đặt
Sữa giày
Thu hóa
Lên đôi
Đóng gói
Cán luyện cáo su
Cán luyện tổ
Ép đế
Đánh sờm
Thu hóa
15
chính được trang bị sáu máy tính và một máy in. Kế toán phụ trách phần hành nào
thì chịu trách nhiệm nhập, xử lý dữ liệu và trang in, bảng biểu của phần hành đó.
Kế toán trưởng có trách nhiệm điều hành bộ máy kế toán thực thi theo đúng
quy chế, chế độ, đồng thời cũng là người đề xuất với ban giám đốc về các chính
sách tài chính, các chiến lược kinh doanh cũng như chịu trách nhiệm trước ban
giám đốc về độ chính xác, kịp thời, và đầy đủ của số liệu mà kế toán cung cấp.
Hai kế toán phó là người thay mặt kế toán trưởng giải quyết các công việc
khi kế toán trưởng đi vắng đồng thời trực tiếp làm công tác kế toán tập hợp chi phí
và tính giá thành, theo dõi tình hình tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh.
Thủ quỹ hàng ngày thực hiện thu chi tiền theo lệnh chi và giấy đề nghị nộp
tiền, đề nghị thanh toán, lập phiếu thu, phiếu chi tiền mặt đồng thời cuối ngày, cuối
tháng tổng hợp thu chi tồn quỹ.
Kế toán vật tư gồm 4 nhân viên, có nhiệm vụ ghi chép tình hình nhập xuất
và sử dụng vật tư đồng thời thực hiện đối chiếu thường xuyên với thủ kho nhằm
mục đích kiểm soát chặt chẽ vật tư cũng như đề xuất với van lãnh đạo những
trường hợp vật tư nhập kho không đảm bảo chất lượng.
Kế toán tài sản cố định thường xuyên theo dõi tình hình biến động của tài
sản cố định và hàng tháng sẽ tiến hành trích khấu hao tài sản cố định, phân bổ chi
phí khấu hao cho từng đối tượng có liên quan.
Kế toán tiền lương đảm nhiệm các công việc như tính lương, tính và trích
Kế
toán
tiền
lương
Kế toán ngân
hàng, tập hợp
CPSX và tính giá
thành sản phẩm
Phó kế toán trưởng
Kế
toán
BHX
H
Thủ
quỹ
Kế
toán
thanh
toán
17
Một niên độ kế toán ở công ty Giày Thượng Đình bắt đầu từ ngày 01/01 và
kết thúc ngày 31/12 hàng năm. Đầu mỗi niên độ kế toán sẽ mở sổ mới, và cuối
niên độ, sau khi hoàn tất công tác cộng sổ, tính tổng số phát sinh, số dư cuối kỳ, kế
toán sẽ thực hiện khóa sổ.
Là doanh nghiệp có quy mô lớn, số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong
ngày rất nhiều, liên quan đến nhiều tài khoản khác nhau do bậy để thuận tiện cho
việc ghi chép và hệ thống hóa số liệu, phòng kế toán của công ty áp dụng hình thức
sổ “nhật ký chứng từ” đồng thời sử dụng phần mềm kế toán để hỗ trợ cho quá trình
xử lý số liệu.
Kế toán máy tại công ty: Hiện nay, do khối lượng công việc ngày càng nhiều
hợp và phân loại trong các bảng phân bổ, sau đó lấy số liệu từ các bảng phân bổ
ghi vào Bảng kê và Nhật ký chứng từ có liên quan.
Cuối tháng khóa sổ kế toán tiến hành cộng số liệu trên các Nhật ký chứng
từ, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên Nhật ký chứng từ với các sổ chi tiết, bảng tổng
hợp chi tiết có liên quan, đồng thời lấy số liệu tổng cộng trên Nhật ký chứng từ để
ghi vào Sổ cái.
Đối với các chứng từ liên quan đến các sổ và thẻ kế toán chi tiết, như chứng
từ về vật tư, chứng từ về TSCĐ, chứng từ thanh toán,… thì được dùng để ghi sổ
trực tiếp vào các sổ và thẻ chi tiết có liên quan. Cuối tháng cộng các sổ và thẻ chi
tiết và lấy số liệu lập bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với sổ
cái.
Số liệu tổng cộng ở sổ cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong Nhật ký chứng từ,
Bảng kê, Bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính.
Ta có thể mô tả trình tự ghi sổ kế toán tại công ty theo sơ đồ sau:
20
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu
Sơ đồ 1.4: Sơ đồ tổ chức chứng từ kế toán
CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG TẠI CÔNG TY
TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN GIÀY THƯỢNG ĐÌNH
Chứng từ gốc
Bảng kê
Nhật ký chứng từ
Sổ, thẻ kế toán
chi tiết
Sổ cái
Bảng tổng hợp
chi tiết
Báo cáo tài chính
KPCĐ.
Lao động thời vụ là lao động bên ngoài được công ty huy động thêm khi cần
vào thời vụ sản xuất hoặc khi cần hoàn thành gấp các đơn đặt hàng lớn.
Sản xuất giày là một trong số những ngành được xếp vào ngành nghề có yếu
tố độc hại. Công nhân thường xuyên phải tiếp xúc với các dung môi hữu cơ, một số
bộ phận phải tiếp xúc với nguồn nhiệt hay môi trường nóng. Hiện nay, phần lớn các
công việc được hỗ trợ bằng máy móc như gò mũi, gò eo, gò gót, cát, may, cán,... và
tiến hành trên các băng chuyền tự động do vậy họ phải liên tục thao tác theo tốc độ
của băng chuyền, không chủ động thay đổi được. Công việc sản xuất giày không yêu
cầu trình độ chuyên môn cao vì phần lớn các thao tác lặp đi lặp lại tuy nhiên yêu cầu
nhiều thao tác, tần số cao, nhiều khi phải cúi vặn người, với tay lấy dụng cụ, chi tiết
ở khoảng cách xa, cường độ lao động tương đối lớn, không được nghỉ ngắn giữa giờ,
và ít có sự luân phiên trong bố trí công việc. Thời gian làm việc thông thường là 8
giờ một ngày, tuy nhiên vào thời vụ như đầu mùa đông công nhân phải làm việc
tăng ca có khi từ 10-12 giờ một ngày. Để tận dụng hết công suất của máy móc, lao
động ở các phân xưởng được bố trí làm 3 ca.
Về môi trường làm việc, cũng giống như những công ty sản xuất giày khác,
môi trường làm việc ở công ty Giày Thượng Đình có mức độ ô nhiễm trong giới hạn
cho phép, tuy nhiên cũng có những ảnh hưởng không tốt đến tình hình sức khoẻ của
công nhân. Nhìn chung, nhiệt độ trong các dây chuyền may là khá cao, vượt quá
mức độ cho phép, có vị trí lên tới 38 độ C, về mua hè có thể lên tới 39 độ. Tiếng ồn
trung bình đạt mức giới hạn cho phép tuy nhiên có những vị trí công nhân phải
thường xuyên làm việc trong môi trường mức ồn cao như các phân xưởng gò ráp,
hoàn thành. Điều kiện chiếu sáng ở công ty là rất tốt đặc biệt là trong các xưởng
may. Nồng độ bụi trong không khí cao, đặc biệt là ở bộ phận đế, nơi có bộ phận mài
đế là nơi phát sinh nguồn bụi cao su độc hại, còn về hơi xăng, và nồng độ SO2,
23
CO2, NH3 nhìn chung đạt giới hạn cho phép. Với những điều kiện như trên, mặc dù
công nhân được trang bị bảo hộ lao động đầy đủ nhưng vẫn có nguy cơ bị đau mỏi
và mắc bệnh nghề nghiệp khác.
Đối với nhân viên quản lý phân xưởng, tiền lương được tính như sau:
24
Tiền lương nhân viên quản lý PX = đơn giá luơng quản lý x số lượng sản phẩm
Tiền lương thời gian của nhân viên khối quản lý, phục vụ được tính dựa trên
thời gian làm việc thực tế của họ. Lương thường được tính theo tháng và được quy
định trong hợp đồng lao động cho riêng từng nhân viên. Công thức tính lương theo
thời gian như sau:
2.2.Hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương
2.2.1.Chứng từ và thủ tục kế toán trong hạch toán tiền lương và các khoản trích
theo lương
Bảng chấm công: theo dõi ngày công thực tế làm việc, ngày nghỉ việc, nghỉ
bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính trả lương và bảo hiểm xã hội cho từng công
nhân. Hàng ngày dựa vào tình hình thực tế lao động trong bộ phận mình, trưởng
phòng, quản đốc các phân xưởng sẽ chấm công cho ngày đó. Cuối tháng trưởng
phòng, quản đốc ký vào bảng chấm công và chuyển cho bộ phận kế toán cùng các
chứng từ có liên quan.
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành: dùng để xác nhận số
sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của công nhân, từ đó làm căn cứ để lập bảng
thanh toán tiền lương cuối tháng. Trên phiếu xác nhận ghi rõ số ngày lập phiếu, họ
tên công nhân, mã giày, số lượng hoàn thành, đơn giá cho và thành tiền của phần
công việc hay mã giày được công nhân đó hoàn thành. Phiếu này được lập thành
hai liên, có đủ chữ ký của người giao việc, người thực hiện và người kiểm tra chất
lượng, người duyệt, một liên được lưu tại bộ phận quản lý phân xưởng, một liên
được chuyển cho phòng kế toán để làm thủ tục thanh toán lương cho người lao
động.
X
Số ngày làm việc thực tế trong
tháng
Lương thời gian
=
giấy tờ để người phụ trách xác nhận và kèm theo các chứng từ cần thiết để làm thủ
tục thanh toán tiền công tác phí, thanh toán tiền tạm ứng.
Bảng thanh toán tiền lương: Hàng tháng, dựa vào bảng chấm công, phiếu
xác nhận sản phẩm, công việc hoàn thành, bảng tính phụ cấp, trợ cấp, giấy xin
phép nghỉ ốm, phiếu báo làm thêm giờ,...để tính ra số lương hàng tháng, các khoản
phụ cấp, các khoản khấu trừ và số tiền mà người lao động được nhận. Sau khi lập,