Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính tại Sở giao dịch I ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Pdf 88

MỤC LỤC
1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
WB: Ngân hàng thế giới
NHTM: Ngân hàng thương mại
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á
AFTA: Hiệp hội mậu dịch tự do các nước ASEAN
APEC: Tổ chức diễn đàn kinh tế Thái Bình Dương
WTO: Tổ chức thương mại Thế giới
WP: Nhóm công tác về Việt Nam gia nhập WTO
PNTR: Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn với Việt Nam.
NHTW: Ngân hàng Trung ương
VTC: Vốn tự có
TCTĐ: Tổ chức tín dụng
NH: Ngân hàng
ICB: Ngân hàng công thương
ICBV: Ngân hàng công thương Việt Nam
CUB: Ngân hàng Cathay United
VNĐ: Tiền Việt Nam đồng
BIDV: Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
NHTMQD: Ngân hàng thương mại quốc doanh.
NHNo&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn.
SGD: Sở giao dịch
VCB: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội.
USD: Đô la Mỹ
Habubank: Ngân hàng nhà Hà Nội.
Techcombank: Ngân hàng kỹ thương
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
ACB: NGân hàng thương mại cổ phần Á Châu

Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng tiền gửi tại Sở giao dịch ( phân theo loại tiền).......................36
Biểu đồ 2.3 Doanh số cho vay của Sở giao dịch.......................................................38
Biểu đồ 2.4 Dư nợ cho vay phân theo thời gian........................................................39
Biểu đồ 2.5 Dư nợ cho vay phân theo thành phần kinh tế.......................................40
Biểu đồ 2.6 Tỷ trọng nợ quá hạn của Sở giao dịch năm 2007.................................41
Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu của Sở giao dịch......................................42
4
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của việc chọn đề tài
Ngày 7/11/2006, khi tiếng búa của Tổng giám đốc Tổ chức thương mại thế
giới (WTO) Pascal Lamy vang lên, hàng chục triệu người dân Việt Nam hân hoan
trong niềm vui hội nhập. Gia nhập vào đại gia đình WTO là Việt Nam chúng ta
bước vào cánh cửa của nền kinh tế thế giới với tư cách là một thành viên được đối
xử bình đẳng, công bằng như 149 thành viên khác của tổ chức thương mại lớn nhất
hành tinh này. Thuận lợi rất nhiều nhưng khó khăn cũng không thiếu. Một trong
những khó khăn của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập là việc đảm bảo
an ninh tài chính trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Đảm bảo an ninh tài chính ngày càng trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi
một quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hoá và tự do hoá nền kinh tế tài
chính đang diễn ra nhanh, mạnh mẽ như hiện nay. Đối với Việt Nam hiện nay, một
nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN thì việc đảm
bảo an ninh tài chính càng có ý nghĩa quan trọng, là môt trong những điều kiện tiên
quyết để phát triển nền kinh tế với tốc độ cao, ổn định.
Các ngân hàng thương mại hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu
sang cổ phần hoá, nhưng tiềm lực tài chính còn mỏng, trình độ thấp cho nên vẫn
tồn tại nhiều thuận lợi cũng như thách thức, trở ngại đối với việc đảm bảo an ninh
tài chính trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại là
một tổ chức tài chính có liên quan tới mọi mặt của nền kinh tế nhưng lại hết sức
nhạy cảm đối với những biến động của thị trường. Nếu không có ngay các biện
pháp củng cố và giữ vững an ninh tài chính cho các hệ thống các ngân hàng thương

dịch I NHNo&PTNT VN.
Đề tài tập trung tìm hiểu về an ninh tài chính tại Sở giao dịch I trong những năm
gần đây ( số liệu cụ thể trong 3năm gần đây nhất )
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch
sử. Đề tài đã sử dụng các phương pháp cụ thể như nhau: phương pháp điều tra,
6
phương pháp phan tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương
pháp tổng kết kinh nghiệm..
Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, nội dung của chuyên
đề tốt nghiệp bao gồm 3 chương:
Chương 1:Những vấn đề cơ bản về an ninh tài chính đối với các ngân hàng
thương mại.
Chương 2 : Thực trạng an ninh tài chính tại sở giao dịch I NHNo & PTNT
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính tại Sở giao dịch I ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ AN NINH
TÀI CHÍNH TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 An ninh tài chính
1.1.1 Một số khái niệm về an ninh tài chính
Từ trước tới nay, khi nhắc tới an ninh, người ta thường nghĩ ngay đến an ninh
chính trị, quân sự, xã hội và việc đảm bảo an ninh bằng các biện pháp vũ trang,
thiết chế luật pháp cưỡng chế thi hành pháp luật, và vấn đề an ninh cũng gắn chặt
với chủ quyền quốc gia. Gần đây, khái niệm an ninh đã được mở rộng sang các
lĩnh vực kinh tế, tài chính và đặc biệt đã được nâng lên tầm quan trọng trong khu
vực và trên thế giới sau khi chứng kiến một số sự mất ổn định về kinh tế của một

một cách hiệu quả những tác động tiêu cực, trong mối đe doạ từ trong nước cũng
như từ nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.
Dưới ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá tài chính các nước phải
đối mặt với rủi ro tài chính ngày càng lớn và khủng hoảng tài chính đã trở thành
mối đe doạ chủ yếu đến an ninh kinh tế thế giới. Chính vì vậy, tăng cường an ninh
tài chính, hoàn thiện và cải cách thể chế giám sát tài chính, thiết lập cơ chế ứng
phó tiền tệ cần thiết, cơ chế ngăn chặn rủi ro linh hoạt, tăng cường phối hợp và hợp
tác với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực tài chính, đã trở thành nội dung chính của
an ninh kinh tế. Từ đó ta có thể thấy được an ninh tài chính là một khái niệm cơ
bản, là điều kiện thiết yếu để một nền tài chính tồn tại và phát triển, cũng như đảm
bảo an ninh kinh tế và phát triển bền vững. Vậy an ninh tài chính là gì?
An ninh tài chính là một khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chính ổn
định, an toàn, vững mạnh và không bị khủng hoảng.
Ổn định được hiểu là duy trì được hoạt động bình thường, không có những
biến động đột ngột, thất thường. Tuy nhiên, ổn định không có nghĩa là cố gắng giữ
nguyên mọi thứ như cũ mà là giữ được ổn định trong tiến trình phát triển đi lên,
không ngừng cải tiến và hoàn thiện. Theo giới tài chính quốc tế, ổn định tài chính
là cực kỳ quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và không thể có ổn định tài chính
nếu thiếu hệ thống tài chính mạnh.
9
An toàn được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm từ phía các tác động bên
trong và bên ngoài. Giữ an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hại cho mình
đồng thời ngăn chặn và chồng lại được sự tấn công phá hoại từ bên ngoài. Nếu ổn
định là tiền đề có tính chất nền tảng thì an toàn là cốt lõi chi phối toàn bộ quá trình
vận động của tình trạng tài chính.
Vững mạnh là cơ sở cho sự ổn định và an toàn, một trạng thái tài chính yếu
không thể giữ được ổn định và an toàn, một trạng thái tài chính yếu không thể giữ
được ổn định và đảm bảo an toàn.
1.1.2 Quan điểm về an ninh tài chính trong hoạt động tín dụng, ngân hàng.
Theo Ngân hàng thế giới (WB): “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi

đảm bảo an ninh tài chính của các ngân hàng không nằm ngoài những yếu tố kinh
tế xuất phát từ bản thân hoạt động của ngân hàng và mối quan hệ biện chứng giữa
hoạt động ngân hàng với các hoạt động kinh tế-xã hội.
Ngân hàng là một ngành nhạy cảm, do có quan hệ giao dịch với nhiều loại
khách hàng ( doanh nghiệp, các nhân);nhiều tổ chức tín dụng, tài chính trung
gian...Hoạt động của ngân hàng gắn liền với mọi hoạt động kinh tế-xã hội không
chỉ ở trong nước mà còn trên phạm vi thế giới. Chính từ bản chất đó, hoạt động của
ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro”tiềm ẩn”, có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Có
nhiều loại rủi ro xảy ra trong hoạt động ngân hàng như: rủi ro rín dụng, rủi ro lãi
suất. rủi ro hối đoái, rủi ro thanh toán,...nhưng tiêu biểu nhất, trầm trọng nhất là rủi
ro tín dụng.
Do đặc thù của hoạt động ngân hàng, các ngân hàng không thể tự mình
chống đỡ rủi ro. Nếu có sự thất thoát dù chỉ ở một ngân hàng và ở một mức độ
nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ đến tính an toàn và ổn định của cả hệ thống ngân
hàng. Dù rủi ro xảy ra ở một ngân hàng hay rủi ro hệ thống đều gây nên sự xuất
hiện bất ngờ, thất thoát tài sản, hiệu quả kinh doanh giảm sút nhanh chóng, đe dọa
đến tình hình tài chính của ngân hàng.
Tóm lại, an ninh tài chính trong ngân hàng là trạng thái các tài sản( tài sản
nợ- nguồn vốn, tài sản có, tài sản ròng) ổn định, an toàn và vững mạnh. Bảo đảm
an ninh tài chính đối với hoạt động của các NHTM nói chung và của một ngân
11
hàng nói riêng là việc sử dụng các biện pháp giữ cho các tài sản của ngân hàng đó
luôn luôn ổn định, an toàn, vững mạnh và không khủng hoảng. Thiết lập được
mạng lưới an ninh có khả năng phòng ngừa, ứng phó kịp thời, nhanh nhạy, hiệu
quả đối với các loại hình tội phạm kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng phát
triển với hình thức ngày càng đa dạng, phức tạp, tính chất mức độ vi phạm ngày
càng tinh vi.
1.1.3 Sự cần thiết phải đảm bảo an ninh tài chính trong thời kỳ hội nhập.
1.1.3.1 Tiến trình Việt Nam ra nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Việt Nam. Dự luật này được thông qua đã đánh dấu việc bình thường hóa hoàn toàn
quan hệ song phương giữa hai nước, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế-thương mại.
Trên đây là những bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế của nước ta. Quá trình hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới sẽ tạo ra cho
chúng ta những thuận lợi, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn đối với
việc phát triển kinh tế, trong đó có vấn đề đảm bảo an ninh tài chính trong các
ngân hàng thương mại
1.1.3.2 Sự cần thiết phải đảm bảo an ninh tài chính trong các ngân hàng thương
mại Việt Nam.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ có tác động tới rất nhiều
lĩnh vực, nhiều yếu tố, trong đó có các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh tài chính
trong các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặc biệt là các nhân tố bên ngoài ngân
hàng như trạng thái phát triển kinh tế, sự biến động của thị trường, chính sách pháp
luật của nhà nước...Khi Việt Nam gia nhập WTO, và tới năm 2010 khi mà các
ngân hàng thương mại nước ngoài có thể kinh doanh, phát triển tại Việt Nam thì
thi trường của các ngân hàng thương mại trong nước sẽ bị sụt giảm một cách
nghiêm trọng. Các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ phải đối mặt với mức độ
cạnh tranh cao hơn trước. Các ngân hàng thương mại Việt Nam với vốn và kinh
nghiệm non nớt sẽ phải đối mặt với những ngân hàng dày dặn kinh nghiệm, khoa
học kỹ thuật hiện đại, tiềm lực tài chính to lớn và lợi thế cạnh tranh cao.Ngoài ra,
các quy định của Chính phủ sẽ phải thay đổi cho phù hợp với các quy định, thông
13
lệ quốc tế, hay các hiệp ước mà Việt Nam tham gia. Các ngân hàng thương mại
Việt Nam sẽ khó lòng có được sự bảo trợ của nhà nước cũng như của NHTW như
hiện nay...
Những sự thay đổi của các nhân tố bên ngoài này sẽ có tác động với mức độ,
tính chất và khía cạnh khác nhau tới an ninh tài chính trong ngân hàng thương mại.
Đối với Việt Nam, sự biến động về tình hình an ninh tài chính trong ngân hàng
thương mại sẽ tác động tới các khâu còn lại trong hệ thống tài chính quốc gia.
Nghĩa là, tình hình tài chính của ngân hàng thương mại trong điều kiện hội nhập

động ngân hàng là mâu thuẫn giữa mục tiêu lợi nhuận cao và mục tiêu tính thanh
khoản cao. Về bản chất an ninh tài chính ngân hàng chịu tác động và phải giải
quyết được mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tính thanh khoản và lợi nhuận, giữa rủi
ro và lợi nhuận. bài toán đặt ra cho các ngân hàng là tối đa hoá lợi nhuận trong
điều kiện giữ được tính thanh khoản và hạn chế rủi ro.
Trong việc đánh giá an ninh tài chính có các chỉ tiêu định tính và định lượng
và những chỉ tiêu đó phải thoả mãn các yêu cầu sau:
-Tính hệ thống: Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh nào đó trong hoạt động ngân
hàng song đều phải liên kết với nhau, là cơ sở để đánh giá mức độ an ninh tài chính
chung của từng ngân hàng hay hệ thống ngân hàng.
-Tính toàn diện: Các chỉ tiêu phải bao quát được toàn bộ hoạt động cơ bản của
ngân hàng. Sự thiếu chú ý đến một chỉ tiêu liên quan tới một hoạt động cơ bản nào
đó có thể phải trả giá bằng sự phá sản của cả ngân hàng
-Tính điển hình: Hoạt động ngân hàng là rất đa dạng, phức tạp và không ngừng
phát triển nên các chỉ tiêu đánh giá rất nhiều và tăng liên tục. Chính vì vậy, các chỉ
tiêu đánh giá an ninh tài chính phải được lựa chọn tiêu biểu, có tính chất then chốt,
tránh tràn lan.
-Tính khả thi: Các chỉ tiêu phải thực tế, dễ tính toán và theo dõi.
-Tính quốc tế: Do sự phát triển của xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nên các chỉ tiêu
cũng cần được quốc tế hoá, tuân thủ các chuẩn mực chung đã được quốc tế thừa
nhận. Đây cũng là cơ sở để các quốc gia phối hợp với nhau trong việc đảm bảo an
ninh tài chính khu vực và toàn cầu
-Tính đặc thù: Mỗi quốc gia, mỗi khu vực có những đặc thù kinh tế xã hội khác
nhau nên an ninh tài chính cũng có những đặc điểm riêng. Chính vì vậy các chỉ
tiêu đánh giá an ninh tài chính phải phản ánh được những đặc thù này. Tính đặc
thù biểu hiện ở cả số lượng các chỉ tiêu cũng như tính chất của mỗi chỉ tiêu. Tuy
15
nhiên thính đặc thù sẽ giảm dần cùng với việc nâng cao trình độ hội nhập kinh tế
quốc tế.
-Tính phát triển: Như đã khẳng định ở trên, hoạt động ngân hàng luôn luôn phát

Đối với các ngân hàng và doanh nghiệp rủi ro có nghĩa là sự không ổn định
của thu nhập tương lai và tác động của nó tới giá trị doanh nghiệp. Các ngân hàng
cần có đủ vốn để chống lại rủi ro. Mỗi hợp đồng tài chính đều chứa đựng rủi ro tín
dụng, rủi ro về giá và rủi ro vể tính thanh khoản. Rủi ro tín dụng là nguy cơ người
cho không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Rủi ro về giá là nguy cơ bị lỗ do những thay
đổi không lường được của giá cả, chẳng hạn thay đổi về lãi suất hay tỷ giá hối
đoái. Rủi ro về lãi suất có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động ngân hàng. Nếu
ngân hàng có tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất hơn tài sản có thì lãi suất tăng sẽ làm
giảm lợi nhuận của ngân hàng và ngược lại lãi suất giảm sẽ lại làm tăng lợi nhuận
của ngân hàng đó. Tương tự, nếu ngân hàng có tài sản nợ nhạy cảm với thay đổi tỷ
giá hơn tài sản có thì tỷ giá tăng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng và ngược lại.
Rủi ro về tính thanh khoản là nguy cơ không bán được các tài sản nhanh chóng, trừ
khi chịu chiết khấu lớn. Rủi ro hệ thống là nguy cơ một hay một số khách hàng lớn
không trả được nợ gây nguy hiểm cho toàn bộ hệ thống tài chính. Rủi ro thanh toán
hay rủi ro hệ thống thường liên quan tới các khoản thanh toán liên ngân hàng có
giá trị lớn và việc mất khả năng thanh toán của một ngân hàng thường lây lan ra
toàn bộ hệ thống theo con đường này. Rủi ro đạo đức là một khía cạnh quan trọng
và có liên quan mật thiết đến động cơ hành động. Hậu quả tất yếu của rủi ro cho
vay là nợ quá hạn. Chỉ tiêu nợ quá hạn/tổng cho vay hay nợ quá hạn/vốn ngân hàng
phản ánh rõ nhất tình trạng an toàn cho vay của từng ngân hàng và toàn bộ hệ
thống ngân hàng. Khủng hoảng cho vay hay khủng hoảng nợ xảy ra khi tỷ lệ nợ
quá hạn quá cao, các ngân hàng mất khả năng thanh toán, lâm vào tình trạng phá
sản. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ nợ quá hạn tối đa là 3-5% tổng dư nợ vốn vay.
Vượt quá giới hạn này, ngân hàng đứng trước nguy cơ khủng hoảng và phá sản. Có
nhiều cách lý giải khác nhau về nguyên nhân khủng hoảng nhưng theo IMF có 3
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khủng hoảng tài chính:Thứ nhất là sự nới lỏng quy
chế tài chính trong nước diễn ra trước khi thực hiện cải cách cơ chế quản lý và
giám sát rủi ro. Thứ hai, đổi mới tài chính tạo ra những công cụ mới và ít được biết
đến làm cho các nhà quản lý không thể nắm bắt kịp thời. Thứ ba, tự do hoá tài
17

18
Vững mạnh của ngân hàng một mặt thể hiện ở quy mô vốn của ngân hàng và
từ đó quy định quy mô tài sản có và tài sản nợ của một ngân hàng hay một hệ
thống ngân hàng. Quy mô của ngân hàng càng lớn thì uy tín càng cao và khả năng
đổ vỡ càng được hạn chế do có tiềm lực tài chính để đối phó với các rủi ro, có điều
kiện đa dạng hoá tín dụng để phân tán rủi ro, có thể thiết lập hệ thống thanh toán
nội bộ rộng lớn để giảm các chi phí hoạt động và nhiều lợi thế khác do quy mô. Xu
thế sát nhập các ngân hàng lớn trên thế giới đang chứng minh điều đó. Quy mô
ngân hàng phụ thuộc vào quy mô của nền kinh tế và chiến lược phát triển hệ thống
ngân hàng của mỗi quốc gia. Nhìn chung, ngân hàng ở các nước đang phát triển có
quy mô nhỏ, chủ yếu hoạt động trong nước, hoạt động quốc tế còn hạn chế.
Nhiều nước đang phát triển chủ trương phát triển mạnh các ngân hàng nhỏ
và vừa phù hợp với quy mô của nền kinh tế, với trình độ quản lý còn hạn chế đồng
thời tránh những đổ vỡ quá lớn, tạo điều kiện cho các khách hàng tiếp cận dễ dàng
hơn. Tuy nhiên, trước xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá, sự xâm nhập của các ngân
hàng khổng lồ nước ngoài đang đe doạ khả năng cạnh tranh thậm chí khả năng tồn
tại của các ngân hàng nhỏ bé nội địa, chính phủ các nước thường quy định mức
vốn tối thiểu của ngân hàng đồng thời khuyến khích các ngân hàng tăng vốn vổ
phần thông qua phát hành cổ phiếu, sáp nhập và hợp nhất các ngân hàng với nhau.
Vững mạnh của ngân hàng ngoài quy mô còn được thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận.
Lợi nhuận vừa phản ánh hiệu quả hoạt động ngân hàng vừa là nguông bù đắp
những tổn thất xảy ra trong hoạt động ngân hàng đồng thời là nguồn đóng góp cho
NSNN. Để tăng lợi nhuận cần giảm chi phí và tăng chênh lệch lãi suất cho vay và
lãi suất tiền gửi.
Tóm lại, muốn đảm bảo an ninh tài chính của các ngân hàng cần theo dõi sát
sao các chỉ tiêu phản ánh mức độ an ninh tài chính của từng ngân hàng và toàn bộ
hệ thống ngân hàng, có những biên pháp ứng phó kịp thời đối với những thay đổi
đe doạ làm mất an ninh tài chính nhằm giữ cho trạng thái tài chính của ngân hàng
19
hay cả hệ thống ngân hàng luôn luôn ổn định, an toàn và vững mạnh, ngăn ngừa có

Tỷ lệ vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro theo quy định của Uỷ ban thanh
tra ngân hàng quốc tế tối thiểu là 8%
Vốn huy động : đây là nguồn vốn chiếm phần lớn trong tổng số vốn kinh
doanh của một TCTD. Tăng nguồn vốn này với một cơ cấu vốn theo thời hạn phù
hợp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng :
-Là cơ sở cho việc mở rộng, tăng doanh số cho vay, đầu tư và các hoạt động kinh
doanh khác. Từ đó, mức lợi nhuận thu được và quy mô cảu TCTD ngày càng lớn,
năng lực tài chính càng vững mạnh
-Khi có một cơ cấu vốn theo thới hạn phù hợp sẽ thoả mãn kịp thời nhu cầu vay
vốn của khách hàng, khả năng thanh toán tăng lên, khi khách hàng rút tiền. Đảm
bảo cho TCTD duy trì hoạt động nình thường và ngày càng phát triển
Chính vì vậy, bên cạnh làm tăng vốn tự có, các TCTD cần tăng cường huy động
vốn từ các doanh nghiệp, các nhân, vay vốn của các ngân hàng khác,... để có đủ
mức vốn kinh doanh của mình
Thoả ước Basle 1988 đòi hỏi ngân hàng phải thoả mãn hai điều kiện về vốn:
-Vốn cổ phần tối thiểu bằng 4% tổng tài sản có đã được hiệu chỉnh theo rủi ro
-Vốn ngân hàng( vốn cổ phản và các khoản dự trữ mất tiền cho vay và các công cụ
nợ khác) tối thiểu bằng 8% tổng tài sản có được hiệu chỉnh theo rủi ro.
Trong thực tế, các ngân hàng có xu hướng không muốn duy trì mức vốn ngân hàng
cần thiết do: khoản tài sản đó không sinh lợi và ngân hàng không phải gánh chịu
toàn bộ tổn thất khi nó vỡ nợ. Chính vì vậy phải có các quy định bắt buộc ngân
hàng phải duy trì mức vốn tối thiểu.
Vốn ngân hàng
Tỷ lệ vốn tối thiểu = -------------------------------------------- X 100%
Tài sản có đã hiệu chỉnh rủi ro
Quy mô vốn tối thiểu = Quy định của Chính phủ
1.3.2 Chất lượng tài sản có
21
Tài sản có và tài sản có sinh lời là những nội dung rất quan trọng trong hoạt
động của TCTD, quyết định sự thành bài của nó. Mỗi TCTD đều phải luôn tạo ra tài

chất lượng quản lý bằng hiệu quả trong kinh doanh. Năng lực quản lý được thể
hiện theo các nội dung sau:
- Năng lực đề ra sách lược trong kinh doanh, có sức cạnh tranh và đứng vững
trong thị trường.
-Đưa ra được kế hoạch triển khai các công việc hợp lý, rõ ràng, có hiệu quả.
-Vạch ra được các thủ tục quản lý nghiệp vụ, quy trình thực hiện nghiệp vụ và
bảo đảm sự tuân thủ các thủ tục và quy trình này trong giao dich kinh doanh.
-Tạo nên một cơ cấu tổ chức hợp lý, có hiệu quả, có sự phân định rõ ràng
trách nhiệm và quyền hạn giữa các nhân viên và chuyên gia, cũng như giứa các
khâu, các bộ phận của guồng máy.
-Có chính sách nhân sự khuyến khích tính tích cực của mọi thành viên trong
công việc
-Năng lực quản lý được đánh giá ngay từ khi thành lập NHTM. Đây là một
trong những tiêu chuẩn được quy thành điều kiện ra đời của một NHTM và được
ghi thành điều luật.
Trong quá trình hoạt động của một NHTM, chất lượng quản lý được thể
hiện ở các tiêu chuẩn :
Hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, biểu hiện ở mức độ và sự tăng trưởng
của kết quả kinh doanh. NHTM giữ vững kết quả kinh doanh trong tình trạng có
những biến động (những cú sốc) ảnh hưởng của thị trường. Năng lực quản lý của
NHTM còn thể hiện ở khả năng hạn chế những tổn thất khi có những biến động bất
khả kháng.
Sự tuân thủ pháp luật, các quy chế về hoạt động ngân hàng, tính lành mạnh
trong kinh doanh.
Độ tín nhiệm của ngân hàng trong môi trường hoạt đông. Sự tín nhiệm của
khách hàng dân cư đối với ngân hàng trong việc gửi tiền, mở tài khoản, thực hiện
giao dịch
1.3.4 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là một chuẩn mực hoạt động quan trọng của một ngân
hàng thương mại. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của bất cứ một ngân hàng

Khả năng sinh lời hay kết quả tài chính là kết quả cụ thể nhất trong kinh
doanh. Nó là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển
của một ngân hàng. Mọi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường chỉ có thể tồn tại và
phát triển bằng kinh doanh có lãi.
Một ngân hàng để có lãi trong kinh doanh phải có những điều kiện sau:
-Chi phí kinh doanh hợp lý, tiết kiệm
-Phải tạo được nguồn thu nhập chủ yếu trên cơ sở hoạt động kinh doanh chủ yếu là
ưu thế của ngân hàng
-Các hoạt động kinh doanh phải đem lại lợi nhuận
24
-Phải tránh được những rủi ro lớn nhờ chính sách và biện pháp quản lý rủi ro hợp lý.
-Bảo đảm được tài sản Có sinh lời ở mức trên 70% so với tổng tài sản Có.
Trên đây là 5 chỉ tiêu quan trọng, cốt lõi để đánh giá mức độ đảm bảo an
ninh tài chính của một tổ chức tín dụng trong đó có ngân hàng thương mại. Các nội
dung đó có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Vì vậy các TCTD hay các
ngân hàng thương mại muốn kinh doanh hiệu quả, đảm bảo được an ninh tài chính
phải có những giải pháp hợp lý, đồng thời cho cả 5 nội dung.
An ninh tài chính trong hoạt động của các TCTD-NH được đảm bảo, có vai
trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. Bởi lẽ, hoạt động của các
TCTD, các trung gian tài chính là “mạch máu” cảu nền kinh tế quốc dân. Hoạt
động của các TCTD-NH mà yếu kém, an ninh tài chính không đảm bảo làm cho
“mạch máu” bị tắc nghẽn, nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn, khủng hoảng.
Ngược lại an ninh tài chính luôn luôn được đảm bảo trong mọi điều kiện về kinh
tế, chính trị,... ở trong nước và trên thế giới là nhân tố tác động tích cực đến sự
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Vai trò đó được thể hiện trên các mặt sau:
-Góp phần quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế-xã hội ổn định và phát triển vững chắc
-Đảm bảo nền tiền tệ ổn định
-Đảm bảo cho sự phát triển bền vững của hệ thống các TCTD-NH
-Nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới an ninh tài chính của NHTM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status