Kinh Doanh tiền tệ làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng cung ứng các dịch vụ thanh toán - Pdf 89

CHƯƠNG I. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. Tín dụng của NHTM
1. Khái niệm NHTM
Ngân hàng thương mại đẫ được hình thành từ rất sớm là tất yếu của sự phát
triển xã hội ngày một tiến bộ về khoa học công nghệ, về một nền kinh tế hiện đại,
phát triển, là sản phẩm của nền kinh tế thị trường,song NHTM đã được hình thành
từ rất lâu có rất nhiều giả thiết về vấn đề này. Mặc dù vậy bản chất ngân hàng vẫn
là hoạt động gắn lion với sự vận động của tiền tệ, bắt đầu từ việc huy động vốn
các nguồn vốn khác nhau trong nền kinh tế, sủ dụng số vốn này, thu lợi nhuận và
cung cấp các tiện ích, dich vụ khác như trung gian thanh toán,đại lí, bảo lãnh …noi
cách khác, NHTM chính là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực “Hoạt
động kinh doanh tiền tệ làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi,sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
2. Tín dụng của NHTM
2.1. Khái niệm
Quan hệ tín dụng là sự vay mượn sử dụng vốn của lẫn nhau dựa nguyên tắc
hoàn trả và sự tin tưởng.
Thuận ngữ “ Tín dụng ngân hàng” thường được hiểu là hoạt động cho vay
của ngân hàng.
2.2. Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế thị trường
2.2.1 Tín dụng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục và ổn
định
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh không thể nào có sự trao đổi ngay trực
tiếp giữa hàng và tiền vì thế cần vốn để có thể không làm gián đoạn quá trình sản
xuất rất cần đến tín dụng của ngân hàng, làm cho quá trình sản xuất được liên tục
ổn định và có thể tồn tại được
2.2.2. Tín dụng là điều kiện tạo ra bước nhảy vọt phát triển kinh tế xã hội
Tiền luôn có mặt ở tất cả các hoạt động kinh tế xã hội. Trong hoạt động sản
kinh doanh việc rút ngắn thời gian nhằm tăng nhanh vòng quay vốn do đó mỗi chủ
Trang 1

Trang 2
2.3.2.3. Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng
hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì.Đó là số dư
tối đa tại thời điểm tính . Trong nghiệp vụ này ngân hàng không xác định trước kì
hạn nợ và thời hạn tín dụng, khi khách hàng có thu nhập ngân hàng sẽ thu nợ,do
đó tạo chủ động quản lí ngân quĩ khách hàng
2.3.2..4. Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá. Doanh nghiệp khi
mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi
doanh nghiệp bán hàng.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên ngân hàng lẫn doanh
nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch luân chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân
quỹ trong thời gian tới .Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh
nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu ki tiêu thụ ngắn ngày, có
quan hệ vay trả thương xuyên
2.3.2.5. Cho vay trả góp
Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm
nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp thường được áp
dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng
lâu bền
2.3.2.6. Cho vay gián tiếp
Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian, các tổ đội, hoặc
qua người bán lẻ. Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có
nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng
2.3..3.Cho thuê tài sản ( thuê mua)
Cho thuê của ngân hàng là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Ngân hàng
mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ
(hoặc thu đủ) giá trị tài sản cho thuê cộng lãi .Hết hạn thuê khách hang có thể mua
lại tài sản đó.

rất dễ xảy ra rủi ro và thiệt hại là rất lớn do tiền được có mặt ở bất cứ hoạt động
nào và được luân chuyển qua rất nhiều người. Trong hoạt động kinh doanh ngân
Trang 4
hàng thường xảy ra những rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh
khoản, rủi ro tỷ giá …những rủi ro này rất dễ xảy ra làm tác động gây thiêt hại đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.1.2. Rủi ro tín dụng
Trong hoạt động ngân hàng thì hoạt động tín dụng rất dễ xảy ra rủi ro tín
dụng nhất vì hoạt động tín dụng là hoạt động thường xuyên và chủ yếu nhất của
ngân hàng.
Bản chất của tín dụng là sự ứng tiền trước của ngân hàng cho người vay sau
một chu ki sản xuất hoặc luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ,
do đó mà hoạt động tín dụng của ngân tham gia vào mọi giai đoạn của hoạt động
sản xuất kinh doanh,do đó mà việc xảy ra rủi ro rất đẽ vì nó phải qua một thời gian
nhất định và qua nhiều giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.
Có rất nhiều quan điểm rủi ro tín dụng khác nhau và khai niệm rủi ro tín
dụng là rất rộng. Nhưng có thể nói chung rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những
tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả
hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi
Do thời gian và phạm vi của đề tài có hạn em xin phép đựợc nghiên cứu tập
chung vao rủi ro tín dụng:
- Rủi ro mất vốn: là rủi ro không thu hồi được một phần hay toàn bộ vốn
- Rủi ro sai hẹn: là rủi ro không thu hồi được vốn đúng hạn
Rủi ro tín dụng là kết quả của mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng
vay vốn, vi phạm đến nguyên tắc tín dụng chung, là tính hoàn trả và thời gian gay
nên sự mất lòng tin của ngân hàng với người vay vốn
1.2. Tác động của rủi ro tín dụng
Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm ảnh hưởng đến rất nhiều chủ thể, đầu tiên là
làm ảnh hưởng xấu tới ngân hàng sau đó là tới nền kinh tế và người đi vay
1.2.1. Đối với ngân hàng

một ngân hàng xảy ra co nguy cơ làm ngân hàng đó đổ vỡ sẽ làm ảnh hưởng dây
chuyền đến ngân hàng khác, mà hầu như hết các chủ thể kinh tế đều liên quan chặt
chẽ đến các ngân hàng sẽ làm rối loạn toàn bộ nền kinh tế, như vậy rủi ro tín dụng
Trang 6
ở mức độ lớn là một trong những nguyên nhân làm khủng hoảng kinh tế, đưa nền
kinh tế đi lùi lại sau mấy chục năm.
1.2..2. Đối với người đi vay
Đối với người đi vay khi rủi ro tín dụng xảy ra thì các chủ thể kinh tế chủ
yếu dựa vào nguồn vốn ngân hàng thì sẽ bị giảm hoặc mất nguồn vốn đầu tư và
mở rộng qui mô, nhất là ảnh hưởng tới tính liên tục của quá trình sản xuất có thể
gây đến phá sản doanh nghiệp. Đối với chủ thể kinh doanh gây ra rủi ro tín dụng
thì mất đi hẳn nguồn vốn từ ngân hàng đó và gần như không thể đi tìm được
nguồn vốn khác trong nền kinh tế vì không còn uy tín trong khả năng trả nợ.
2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
2.1. Nguyên nhân khách quan
2.1.1. Môi trường pháp lí
Đó là các văn bản, qui định, chính sách của nhà nước thay đổi bất thường
làm tổn thất nặng nề đến các chủ thể kinh doanh, làm thay đổi đến kế hoạch sản
xuất kinh doanh như thế sẽ làm cho doanh nghiệp mất khả năng trả nợ đúng hạn
hay không ttrả nợ được khi đó ngân hàng sẽ không thu hồi được vốn dẫn đến rủi
ro tín dụng.
Ngoài ra các chính sách quy dịnh của pháp luật còn chưa chặt chẽ tạo ra
những khe hở cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt động phi pháp gây ra những rủi
ro tổn thất lớn cho ngân hàng. Đặc biệt là sự thiếu đồng bộ, chồng chéo giữa các
qui định và văn bản dưới luật của các bộ nghành khác nhau để điều kiện kinh
doanh và hoạt động kinh doanh gây nên các tổn thất tín dụng của ngân hàng.
2.1.2. Các yếu tố thị trường
Tình hình diễn biến trong nước cả về kinh tế lẫn chính trị đều tác động đến
rủi ro tín dụng một cách đáng kể. Đối với những thời kì kinh tế khủng hoảng suy
thoái thì việc sản xuất đình trệ, hay phá sản gây nên rủi ro tín dụng rất lớn.

+ Do tình trạng tham nhũng, gian lận diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp chủ yếu
là doanh nghiệp quốc doanh làm thiệt hại lớn đến chất lượng hoạt động doanh
nghiệp.
+ Rủi ro đạo đức, khách hàng cố tình lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng qua
nhiều hình thức, thực hiện công ty ma, hoá đơn khống …
Trang 8
Tóm lại nguyên nhân rủi ro tín dụng chính từ phía khách hàng là việc làm ăn, kinh
danh kém hiệu quả, muốn duy trì hoạt lại tiếp tục vay vốn của ngân hàng, chủ yếu
trông chờ vào nguồn vốn của ngân hàng do vốn tự có của doanh nghiệp là rất nhỏ.
2.2.2. Từ phía ngân hàng.
Nguyên nhân rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng là rất đáng kể và quan trọng.
Chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá
không tốt,cố tình làm sai…mặt khác nhân viên ngân hàng phải tiếp cận với nhiều
nghành nghề, nhiều vùng thậm chí với nhiều quốc gia do đó để cho vay tốt họ phải
am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh, môi trường mà khách
sống, phải có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến người vay… hơn nữa họ
tiếp xúc với tiền bạc thương xuyên và khối lượng lớn dễ bị đồng tiền cám dỗ. Như
vậy để hạn chế được rủi ro tín dụng ở mức tối đa cầm phải đào tạo và tự đào tạo
cán bộ nhân viên tín dụng một cách liên tục và toàn diện cả về học vấn và đạo đức.
Ngoài ra chính sách cho vay của ngân hàng thiếu rõ dàng và không phù hợp
của bọ máy quản lí như chế độ tín dụng, các quy định về thế chấp…Trong qua
trình đã cho vay thiếu sự giám sát hoạt động kinh doanh, quá tin tưởng vào những
khách hàng quen..rất dễ tạo nên rủi ro tín dụng.
Có thể thấy nguyên nhân rủi ro tín dụng xuất phát từ ngân hàng là nguyên
nhân xuất phát đầu tiên dẫn đến một số nguyên nhân khác của rủi ro tín dụng, do
đó cần phải chú trọng ngay từ khâu xet duyệt cho vay.
3. Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
- Dấu hiệu dựa vào các ngân hàng khác có thể phát hiện ra khách hàng vay phát
hành séc quá số dư, khó khăn trong thanh toán lương, số dư của tài khoản tiền gửi
giảm liên tục, gia tăng nợ thương mại,thường sử dụng các nguồn tài trợ ngắn hạn

Tổng giá trị NQH
Tổng dư nợ
Tỷ trọng NQH =
Nợ khó đòi
NQH
Tỷ trọng =
Tổng giá trị Nợ khó đòi
Tổng dư nợ
Tỷ trọng nợ
khó
đòi
=
X 100
X 100
X 100
Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả công tác xử lí rủi ro tín dụng của ngân hàng,
cho biết bao nhiêu NQH không xử lí được.
Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi
ro tín dụng khác nhau. Đối với ngân hàng việc khách hàng không trả đúng hạn có
liên quan đến thanh khoản: Chi phí gia tăng để tím nguồn mới để chi trả tiền gửi
và cho vay đúng hợp đồng
Trang 11
CHƯƠNG II. TÌNH HÌNH RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN LÀO CAI TRONG
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
I. Khái quát tình hình hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát
Triển Lào Cai
1. Một vài nét sơ lược về Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Lào Cai
1.1. Giai đoạn 1957-1976
Cùng với sự ra đời của ngân hàng kiến thiết VN 26/4/1957, trong 19 năm

phần ổn định lưu thông tiền tệ trên địa bàn.
1.4. Giai đoạn cuối 1994 đến nay
Cuối 1994, sau khi bàn giao toàn bộ nhiệm vụ cấp phát vốn đầu tư xây dựng
cơ bản sang cho cục đầu tư và phát triển tỉnh, Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển
Lào Cai chuyển sang hoạt động như 1 NHTM, đây là bước ngoặt đánh dấu thời kì
đổi mới toàn diện, sâu sắc cùng toàn hệ thống chuyển hẳn sang kinh doanh đa
năng tổng hợp, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho chiến lược phát triển bền
vững trong những năm tiếp theo.
Để đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn đầu tư cho nền kinh tế,công tác nguồn vốn
được đổi mới toàn diện.Bằng những giải pháp cụ thể, linh hoạt trong từng giai
đoạn như: Mở rộng mạng lưới huy động, hình thức phục vụ khách hàng, đưa ứng
dụng công nghệ tin học vào nghiệp vụ, làm tốt công tác tuyên truyền,quảng cáo
tiếp thị…chỉ sau 6 năm (1995-2001) tổng nguồn vốn đạt mức 200 tỷ 120 triệu
(tăng 5 lần so với năm 1994)riêng vốn tự huy động đạt 122 tỷ 520 triệu (tăng gấp
11 lần so với năm 1994),từ chỗ nguồn vốn cho vay hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn
tiền gửi của các tổ chức kinh tế ,nguồn cấp phát tạm thời nhàn rỗi thì đến cuối
2001 Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Lào Cai đã từng bước cân đối để chủ
động tăng trưởng tín dụng đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh
và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.
Hoạt động tín dụng và dịch vụ từ 1995 đến nay cũng được tích cực đổi mới
theo hướng an toàn vững chắc,thúc đảy sản xuất và lưu thông hàng hoá. Phục vụ
có hiệu quả cho đầu tư phát triển kinh tế của tỉnh.Với kinh nghiệm trong thẩm
định và cho vay các trương trình,dự án trung và dài hạn, Ngân Hàng Đầu Tư Và
Phát Triển Lào Cai đã nhanh chóng khẳng định vị thế chủ đạo trong lĩnh vực đầu
tư và phát triển. Trong giai đoạn 1995-2001 chi nhánh đã tích cực huy động các
Trang 13
nguồn vốn nhàn rỗi, tranh thủ sự hỗ trợ của NHTW để đầu tư 114 tỷ 332 triệu
đồng vốn trung và dài hạn cho trên 40 dự án thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn của
tỉnh,các dự án đổi mới thiết bị sản xuất của các DN. Nhiều dự án như: nhà máy xi
măng, nhà máy gạch tuynen, dây chuyền thiết bị vận tải, dây chuyển tuyển đồng,

nghiệp vụ không ngừng được đổi mới và hoàn thiện,các phần mềm tin học có mặt
trong hoạt động quản lí va hầu hết các phần hành nghiệp vụ cơ bản (kế toán-thanh
toán ,huy đọng vốn,ín dụng…).
Cùng với việc đẩy mạnh tăng trưởng nguồn vốn, tín dụng,dịch vụ…Ngân Hàng
Đầu Tư Và Phát Triển Lào Cai thường xuyên coi trọng công tác kiểm tra,kiểm soát
toàn diện các mặt hoạt động,hạn chế thấp nhất những rủi ro trong kinh doanh.Liên
tục trong 13 năm qua,chất lượng hoạt động không ngừng được nâng cao,đảm bảo
hiệu quả và an toàn:nợ quá hạn dưới 1%, kinh doanh có lãi, hoàn thành tốt nghĩa
vụ với NSNN và đảm bảo đời sống cho người lao động.

Trang 15
2. Tình hình hoạt động tín dụng của Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển
Lào Cai
2.1. Hoạt động huy động vốn
Ở bất kì ngân hàng nào thì việc thu hút vốn là hoạt động rất quan trọng, là cơ
sở đểc ho các hoạt động khác của ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng mang tính
chất như một đầu vào và là chi phí chính của ngân hàng do đó cần phải có một cơ
cấu vốn hợp lí để tránh bị quá thừa hay thiếu vốn sẽ ảnh hưởng lớn đến ngân hàng.
Đối với Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Lào Cai hoạt động huy động vốn
ngày càng mở rộng và có nhiều nguồn được huy động ở nhiều lĩnh vực và tầng lớp
dân cư tạo nên cho ngân hàng có một nguồn vốn rất đa dạng phù hợp với dự phát
triển của tỉnh. Tính từ những năm trước năm 1992 thì nguồn vốn của ngân hàng
chủ yếu là trông chờ vào nguồn vốn của ngân hàng cấp trên thì nay nay nguồn vốn
chủ yếu và tăng đều qua các năm chứng tỏ ngân hàng có những nguồn rất ổn định
và ngày càng mở rộng được nguồn tự huy động. Ngân hàng đã thu hút được nhiều
khách hàng có nguồn vốn mở tài khoản tại ngân hàng với điều kiện thủ tục nhanh
gọn đơn giản, thực hiện nhiều chiến lược khách hàng, nâng cao chất lượng huy
động. Tính đến cuối năm 2003 tổng nguồn vốn huy động đạt 444tỷ 406triệu (tăng
gấp 10 lần so năm 1994) riêng vốn tự huy động đạt 219tỷ 968 triệu ( tăng gấp 22
lần so với năm 1994). Với sự tăng trưởng về nguồn vốn một cách có hiệu quả,

trọng
(%)
so năm
2001(%)
doanh
số
Tỷ
trọng
(%)
So năm
2002(%)
1. Cho vay ngắn hạn 87 733 64,44
193
643 70,4 120,72 288 034 77,4 48,74
-Dư nợ VLĐ 85 145 62,54
188
709 68,61 121,63 284 146 76,4 50,57
-Dư nợ vay tiêu
dùng 2 588 1,9 4 934 1,8 90,64 3 887 1,05 -21,21
2. Cho vay trung-dài
hạn 48 407 35,56 81 414 29,6 68,19 83 889 22,6 3,04
-Dư nợ theo dự án 38 359 28,17 71 170 25,9 85,53 77 705 20,9 9,18
-Dư nợ CBCNV 10 047 7,38 10 244 3,7 1,96 6 184 1,7 -39,63
Tổng dư nợ 136 139 100 27 505 100 102,04 371 923 100 35,2
Đối với tiền gửi kỳ phiếu và trái phiếu của dân cư do nhu cầu vốn trong nền
kinh tế của tỉnh, các nguồn trên chưa đủ đáp ứng, ngân hàng đã huy động bằng
phát hành kỳ phiếu và trái phiếu với lãi suất phù hợp để thu hút được một lượnh
vốn còn thiếu mà lại chịu một chi phí tối thiểu, tránh thu hut thừa. Nhìn vào bảng
ta thấy mức độ phát hành kì phiếu và trái phiếu rất phù hợp với ngân hàng là cần
vốn trung và dài hạn, kỳ phiếu chỉ tăng 6,3% so năm 2002 trong khi đó trái phiếu

số
Tỷ
trọng
(%)
Doanh
số
Tỷ
trọng
(%)
so năm
2001(%)
doanh
số
Tỷ
trọng
(%)
So năm
2002(%)
1. cho vay ngắn
hạn 87 733 64,44
193
643 70,4 120,72
288
034 77,4 48,74
-Dư nợ VLĐ 85 145 62,54
188
709 68,61 121,63
284
146 76,4 50,57
-Dư nợ vay tiêu

Đơn vị: triệu đồng
Tỉnh Lào Cai là một tỉnh mà có tiềm năng rất lớn về du lịch, cửa khẩu và
quặng, là nơi thu hút rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư . Khi mà nền kinh tế đang
phát triển đi lên với một nền kinh tế hiện đại, máy móc, phương tiện, kỹ thuật
công nghệ đang rất phát triển giúp các nhà đầu tư có thể đầu tư ở bất cứ đâu có
tiềm năng, thuận lợi nhanh chóng và dễ dàng hơn trong việc đầu tư ở một nền kinh
tế thị trường đang rất có nhiều tiềm năng như ở nước ta. Tỉnh Lào Cai là một trọng
điểm rất đáng quan tâm của các nhà có vốn trong một nền kinh tế đang mở cửa
khuyến khích,tạo điều kiện cho việc đầu tư như ở nước ta.Chính vì thế những năm
Trang 20
Chỉ tiêu
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Doanh số
Tỷ
trọng
(%)
Doanh
số
Tỷ
trọng
(%)
So năm
2001(%)
Doanh
số
Tỷ
trọng
(%)
So năm
2002(%)

phần- TNHH đạt 189 tỷ 864 triệu chiếm 51% tổng dư nợ và tăng 25,52% so 2002.
10 doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn nhất tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển
Lào Cai:
+ Công ty xi măng Lào Cai
+ Công ty xây dựng công trình Nam Tiến
+ Ban quản lí công trình giao thông Lào cai
+ Văn phòng đại diện xí nghiệp giao thông vận tải Quyết Tiến
+ Tổng công ty đầu tư xây dựng hạ tầng Lào Cai
+ Công ty xây dựng tổng hợp Minh Đức
+ Công ty TNHH Cương Lĩnh
+ Doanh nghiệp Thành Tài
+ Công ty khoáng sản Lào Cai
+ Công ty TNHH Chiến Thắng
Sự tiến triển của tỉnh Lào Cai đang trên đà đổi mới trong lĩnh đàu tư, ngân
hàng đã từng bước chuyển đổi tín dụng phát triển từ cách truyền thống sang cơ chế
mới trong nền kinh tế thị trường bằng việc đưa ra các chính sách tín dụng tập trung
vào các nghành mũi nhọn của tỉnh đang có rất nhiều tiềm năng đưa nền kinh tế của
tỉnh lên bằng chính những gì mà tỉnh vốn có.
Nguồn vốn đầu tư vào tín dụng của Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Lào
Cai tập trung phần lớn vào kinh tế ngoài quốc doanh song kinh tế quốc doanh vẫn
không thể thiếu được và kinh tế quốc doanh vẫn phải giữ vị thế quan trọng và
chủ lực. Nhìn vào bảng ta thấy năm 2003 đạt 155tỷ 76triệu chiếm 41,7% tổng dư
nợ tăng 74,9% so năm 2002, kinh tế quốc doanh luôn được chú trọng hàng đầu và
đó là kinh tế chủ đạo của tỉnh, sở dĩ cơ cấu đầu tư của ngân hàng vào kinh tế ngoài
quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng dư nợ vì một phần lớn vốn đầu tư
Trang 21
vào kinh tế quốc doanh là do nhà nước cấp theo kế hoach nhà nước, đầu tư xây
dựng cơ bản theo chỉ định.
Trang 22


193643
288034
0
50000
100000
150000
200000
250000
300000
350000
n¨m 2001 n¨m2002 n¨m 2003
n¨m
triÖu ®ång
cho vay trung dµi h¹n
cho vay ng¾n h¹n
Trang 24
2.4. Đánh giá tình hình kinh doanh tín dụng tại Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát
Triển Lào Cai
Qua các số liệu được đánh giá ở trên có thể thấy rằng tình hình kinh doanh tín
dụng của ngân hàng là rất tôt, liên tục tăng qua các năm, một điệu đặc biệt có thể
nhận thấy rõ dàng nhất là đối với Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Lào Cai thì dư
nợ ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn và là chủ yếu trong hoạt tín dụng của ngân
hàng, xét theo thành phần kinh tế thì cho vay ngoài kinh tế quốc doanh luôn lớn hơn
cho vay kinh tế quốc doanh và là hoạt động chủ yếu của ngân hàng trong hoạt động
tin dụng, thế nhưng cho vay trung và dài hạn của năm sau luôn lớn hơn cho vay ngắn
hạn của năm trước và cho vay kinh tế quốc doanh của năm sau luôn cao hơn cho vay
kinh tế ngoài quốc doanh của năm trước. Để đạt được những thành quả như vậy
trước tiên phải nói đến khả năng huy động vốn của ngân hàng để có thể đáp ứng
được nhu cầu vay vốn, thực hiện nhiều biện pháp huy động vốn, phát huy các chinh
sách khách hàng nhằm thu hut, tạo nên sự hấp dẫn về lãi suất, về các ưu đãi khác…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status