NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC BẢO HỘ NHÃN HIỆU SẢN PHẨM TRONG MARKETING QUỐC TẾ - Pdf 89

Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
CHƯƠNG 1...............................................................................................................................................................3
TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ BẢN QUYỀN NHÃN HIỆU SẢN PHẨM TRONG MARKETING
QUỐC TẾ..................................................................................................................................................................3
Kết luận chương:......................................................................................................................................33
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, sở hữu trí tuệ đã trở thành vấn đề mà toàn cầu quan tâm.
Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
(TRIPS) được ký vào cuối năm 1994 như là một phần của Hiệp định Thương
mại Đa phương của Vòng đàm phán Uruguay là một minh chứng cho tầm
quan trọng của sở hữu trí tuệ. Bản quyền nhãn hiệu sản phẩm là một đối
tượng của sở hữu trí tuệ. Nó giữ vai trò chủ yếu trong thành công của doanh
nghiệp và thúc đẩy thương mại phát triển.
Đây là một vấn đề mang tính thời sự thương mại, một vấn đề đang
được giới doanh nghiệp cũng như các cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm.
Hơn lúc nào hết, những hiểu biết sâu sắc về bản quyền nhãn hiệu sản phẩm lại
là cấp thiết như lúc này. Chính vì lý do này, em đã chọn đề tài: “Bản quyền
nhãn hiệu sản phẩm trong Marketing Quốc tế và thực tế tại Việt Nam” cho
khoá luận tốt nghiệp của mình.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm nổi bật tầm quan trọng của bản
quyền nhãn hiệu sản phẩm trong Marketing Quốc tế, những quy định pháp lý
của quốc tế và các khu vực thị trường lớn, cảnh tỉnh về thực trạng tình hình
pháp lý liên quan đến nhãn hiệu sản phẩm của Việt Nam so với thế giới và
những xung đột nhãn hiệu sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam trên thị
trường trong nước cũng như quốc tế.
Để đạt được mục đích nêu trên, người viết đã sử dụng kết hợp các
phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, thống kê và so sánh.
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
1
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận là những công ước

hiệu, biểu tượng, hình vẽ hay sự kết hợp của các yếu tố đó nhằm xác nhận
hàng hoá hay dịch vụ của một người hay một nhóm người bán và phân biệt
chúng với hàng hoá hay dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.
Thương hiệu (trade mark) hay còn gọi là nhãn hiệu thương mại là nhãn
hiệu đã đăng ký bản quyền tại cơ quan có thẩm quyền để được bảo vệ về mặt
pháp lý, lúc này công ty sẽ in thêm vào tên hay biểu tượng nhãn hiệu một số
ký hiệu như  (Registered - đã đăng ký) hay  (copyright - giữ bản quyền ).
Xét về mặt kỹ thuật thiết kế thì nhãn hiệu và thương hiệu không có sự
khác biệt lớn (thương hiệu có thể là toàn bộ hay là một yếu tố độc đáo của
nhãn hiệu). Nhưng xét về mặt pháp lý thì chủ sở hữu thương hiệu độc quyền
sử dụng dưới sự bảo hộ của pháp luật.
Nhãn hiệu về cơ bản là sự hứa hẹn của người bán đảm bảo cung cấp
cho người mua một tập hợp nhất định những tính chất, ích lợi. Một nhãn hiệu
có thể mang tới sáu cấp độ ý nghĩa sau:
Thuộc tính : Một nhãn hiệu gợi lên các thuộc tính về hàng hoá. Chẳng
hạn nhãn hiệu Sony gợi lên thuộc tính về độ bền của hàng hoá.
Ích lợi : Khách hàng cần tới ích lợi của sản phẩm chứ không phải thuộc
tính của sản phẩm. Ví dụ thuộc tính bền có thể chuyển thành ích lợi thực dụng
là người sử dụng không phải mua nhiều sản phẩm, hay sản phẩm không bị hư
hỏng thường xuyên….
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
3
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
Giá trị : Nhãn hiệu cũng nói lên một điều gì đó về người sản xuất. Ví
dụ Panasonic thể hiện uy tín, hoàn hảo chất lượng…
Văn hoá: Nhãn hiệu cũng phải thể hiện nền văn hoá nào đó. Ví dụ
Mercedes thể hiện nền văn hoá Đức.
Nhân cách: Nhãn hiệu cần thể hiện một nhân cách nhất định. Ví như
một quý cô sử dụng nước hoa Chanel của Pháp ắt phải là một quý cô sang
trọng.

phẩm.
Thứ hai, nhãn hiệu phải dễ đọc, dễ nhận biết và dễ nhớ. Yêu cầu này
giúp việc khuyếch trương nhãn hiệu được dễ dàng và một thực tế là nhãn hiệu
càng đơn giản thì càng khó bắt chước. Việc bắt chước nhãn hiệu Nice là hình
dấu phẩy khó hơn nhiều việc bắt chước nhãn hiệu National.
Thứ ba, nhãn hiệu phải mang tính độc đáo. Đây chính là điểm nhấn của
nhãn hiệu, nó là một tiêu chí để tạo nét khác biệt giữa nhãn hiệu này với nhãn
hiệu khác, là một trong những yêu cầu để nhãn hiệu được bảo hộ ở bất kỳ thị
trường nào.
Thứ tư, nhãn hiệu có thể dịch ra tiếng nước ngoài dễ dàng và có nghĩa.
Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà nó còn là nét văn hoá của
từng dân tộc, do đó dịch một nhãn hiệu ra tiếng nước ngoài rất khó giữ được
sự tinh tế trong ý nghĩa của tên nhãn hiệu.
Cuối cùng, nhãn hiệu phải có thể đăng ký và được bảo hộ bởi pháp luật.
Điều này đòi hỏi nhãn hiệu phải thoả mãn những yêu cầu về luật nhãn hiệu
của quốc gia đăng ký. Hầu hết tất cả các quốc gia đều có luật nhãn hiệu hàng
hoá, quy định về bản quyền nhãn hiệu, do đó để nhập khẩu hàng hoá vào thị
trường nước ngoài, doanh nghiệp cần phải đăng ký nhãn hiệu hàng hoá.
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
5
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
3. Chiến lược nhãn hiệu sản phẩm.
3.1. Chiến lược nhãn mở rộng (Brand extention).
Đó là việc công ty sử dụng một nhãn hiệu thành công để đặt tên cho
các sản phẩm của mình.
Chiến lược này cho phép sản phẩm mới dễ dàng thâm nhập thị trường
hơn nhờ vào danh tiếng của sản phẩm quen thuộc. Điều này giúp công ty
giảm được chi phí đáng kể đầu tư vào lĩnh vực quảng cáo.
Nhưng nếu chiến lược này thất bại sẽ ảnh hưởng tới lòng tin của khách
hàng đối với sản phẩm khác có cùng tên nhãn của công ty. Đôi khi tên nhãn

Tuy nhiên, nếu công ty sản xuất nhiều loại hàng khác nhau thì áp dụng
chiến lược này sẽ không thật sự hiệu quả. Bởi vì khi nhắc đến nhãn hiệu
người tiêu dùng sẽ không thể hình dung ra một nhãn hiệu nào rõ ràng.
3.5. Chiến lược nhãn toàn cầu.
Công ty sử dụng một nhãn hiệu giống nhau cho tất cả thị trường; hoặc
là việc công ty sử dụng một nhãn hiệu cho cùng một thị trường.
Đây là chiến lược đang ngày càng được các công ty quan tâm. Ngày
nay, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, ranh giới giữa thị trường
quốc gia và thị trường quốc tế đang dần dần bị xóa đi. Trên thị trường chung
châu Âu, các doanh nghiệp đang hăng hái tung ra nhãn hiệu mới, nhãn hiệu
thương mại châu Âu.
Chiến lược này có rất nhiều lợi thế. Thứ nhất, tiết kiệm do mở rộng
chuẩn bao bì chuẩn nhãn hiệu, khuyến mãi và quảng cáo. Thứ hai, mức tiêu
thụ có thể tăng lên do nhãn hiệu được quảng cáo trên các thị trường khác
nhau. Thứ ba, các kênh thương mại sẽ sẵn sàng hơn trong việc chấp nhận một
nhãn hiệu toàn cầu đã được quảng cáo trên thị trường của mình. Cuối cùng,
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
7
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
một tên nhãn được cả thế giới tín nhiệm thừa nhận sẽ tạo nên uy tín cho nước
xuất xứ.
Tuy nhiên, nhãn hiệu toàn cầu cũng có thể có những rủi ro nhất định.
Nếu công ty thay thế một cái tên địa phương đã có tiếng tăm bằng một tên
toàn cầu thì cái giá phải trả cho việc thay thế này sẽ rất lớn. Công ty phải
thông báo cho hàng triệu người biết sản phẩm của mình vẫn tồn tại dưới một
tên gọi mới. Việc tiêu chuẩn hóa toàn cầu đã bỏ qua những điểm khác biệt
không chỉ giữa các nước mà ngay cả giữa các khu vực trong cùng một nước.
Hơn nữa, việc tiêu chuẩn hoá nhãn hiệu toàn cầu cũng khó có thể tiêu chuẩn
hóa những liên tưởng về nhãn hiệu của mình ở tất cả các nước.
4. Ý nghĩa của việc thiết kế và xây dựng nhãn hiệu.

2001
(Triệu
USD)
Thay
đổi giá
trị nhãn
hiệu
(%)
Tên công ty
1
COCA-COLA
69,637 68,945 1 Coca-Cola Company
2
MICROSOFT
64,091 65,068 -2 Microsoft Corp
3
IBM
51,188 52,752 -3 International Business Machines
Corp
4
GE
41,311 42,396 -3 Genegal Electric Company
5
INTEL
30,861 34,665 -11 Intel Corp
6
NOKIA
29,970 35,035 -14 Nokia Corp
7
DISNEY

sản phẩm để đánh dấu người sản xuất hoặc người chủ sở hữu sản phẩm đó.
Khi sản xuất hàng hoá phát triển, nhất là khi nền sản xuất cơ khí ra đời, nhiều
nhà sản xuất khác nhau đưa ra thị trường cùng một loại hàng hoá thì các dấu
hiệu nói trên bắt đầu có chức năng phân biệt sản phẩm của người này với sản
phẩm của người khác. Trong quá trình cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường, tiêu
thụ sản phẩm, hiện tượng bắt chước nhãn hiệu của người khác ngày càng trở
nên phổ biến, các vụ tranh chấp kiện cáo về nhãn hiệu sản phẩm tại toà án
ngày càng nhiều. Vấn đề mà toà án thời đó phải giải quyết là việc xác định
xem nhãn hiệu hàng hoá thuộc về ai? Trong các trường hợp này nguyên tắc
thường được áp dụng là: quyền thuộc về người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu
hàng hoá đó. Để xác định xem ai là người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu hàng
hoá đó, Toà án cho lập sổ ghi nhãn hiệu hàng hoá. Lúc đầu chỉ ghi những
nhãn hiệu hàng hoá đang tranh chấp, sau đó là ghi nhãn hiệu hàng hoá hiện có
để đề phòng tranh chấp và cuối cùng là ghi nhãn hiệu hàng hoá mà chủ nhân
có ý định sử dụng trong tương lai. Sổ theo dõi nhãn hiệu hàng hoá dần dần trở
thành sổ Danh bạ nhãn hàng, từ đó hình thành phương thức đăng ký nhãn
hiệu hàng hoá tại Toà án. Tuy nhiên việc đăng ký như vậy chỉ được hình
thành theo thông lệ chứ không theo quy định của một văn bản pháp luật nào.
Luật nhãn hiệu hàng hoá đầu tiên được ban hành tại Pháp năm 1857.
Theo luật này, quyền đối với nhãn hiệu hàng hoá thuộc về người thực hiện
sớm nhất một trong hai việc: sử dụng nhãn hiệu và đăng ký nhãn hiệu theo
quy định của luật. Nếu một người đăng ký nhãn hiệu nhưng thời điểm sử
dụng nhãn hiệu của người đó lại sau người đăng ký thứ 2 thì quyền đối với
nhãn hiệu thuộc về người thứ 2.
Tiếp theo Pháp là các nước Ý (1868), Bỉ (1879), Mỹ (1881), Anh
(1883), Đức (1894), Nga (1896)…đã lần lượt ban hành Bộ luật nhãn hiệu
hàng hoá của mình. Đến nay, hầu hết các nước đã có luật về nhãn hiệu hàng
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
10
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam

ngăn cấm đề ra các yêu cầu đặc biệt đối với việc sử dụng thương hiệu, cấp và
chuyển nhượng thương hiệu, huỷ thương hiệu.
Định nghĩa thương hiệu (Điều 15): Hiệp định quy định các ký hiệu hoặc
tập hợp ký hiệu có thể được đăng ký như một thương hiệu khi chúng có thể
phân biệt hàng hoá dịch vụ này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một công ty
khác. Nó bao gồm tên, chữ, chữ số, các ký tự tượng trưng hoặc sự kết hợp các
màu sắc. Các nước có thể quy định rằng một thương hiệu khi đã được sử dụng
trong một khoảng thời gian nhất định thì được quyền đăng ký.
Độc quyền (Điều 16): Chủ sở hữu thương hiệu được độc quyền cấm
bên thứ ba sử dụng những ký hiệu giống hoặc tương tự đối với hàng hoá, dịch
vụ đã đăng ký thương hiệu, nếu điều đó có thể gây nên nhầm lẫn… Khi một
trường hợp giống hệt được sử dụng trên hàng hoá hoặc dịch vụ tương tự thì
“được phép giả định là có khả năng gây nhầm lẫn”.
Các yêu cầu đặc biệt (Điều 20): Hiệp định này quy định các nước
không được đặt ra các yêu cầu đặc biệt đối với việc sử dụng thương hiệu, ví
dụ như những yêu cầu làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt hàng hoá hoặc
dịch vụ của một công ty này với hàng hoá hoặc dịch vụ của một công ty khác.
Hiệp định này cũng yêu cầu các nước chấm dứt cho phép sử dụng các thương
hiệu nước ngoài, trừ khi những thương hiệu đó được kết hợp với một thương
hiệu khác có xuất xứ của một nước.
Cấp và chuyển nhượng thương hiệu(Điều 21): Hiệp định TRIPS cho
phép các thành viên quyền tự do quyết định “các điều kiện để cấp đăng ký và
chuyển nhượng thương hiệu”. Tuy nhiên, Hiệp định quy định các chủ sở hữu
không được cấp giấy phép sử dụng thương hiệu. Nhưng các chủ sở hữu “có
quyền chuyển nhượng thương hiệu cùng hoặc không cùng với việc chuyển
nhượng công việc kinh doanh mang thương hiệu đó”.
Huỷ bỏ thương hiệu(Điều 19): Việc bảo hộ chủ sở hữu một thương hiệu
đã đăng ký dựa trên cơ sở người đó sẽ sử dụng nhãn hiệu đó với mục đích
thương mại. Luật của hầu hết các quốc gia cho phép huỷ bỏ thương hiệu nếu
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D

tên thương mại, dấu hiệu địa lý và cạnh tranh không trung thực (Điều 1).
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
13
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
Các quy định nội dung của Công ước được chia thành ba nhóm chính:
đối xử quốc gia, quyền ưu tiên và các quy tắc chung.
Theo các điều khoản về đối xử quốc gia (Điều 2), Công ước quy định:
Công dân của bất kỳ nước thành viên nào cũng được hưởng mọi quyền lợi tại
tất cả các nước thành viên khác mà luật tương ứng của các nước đó quy định
hoặc sẽ quy định cho công dân của nước mình, hoàn toàn không ảnh hưởng
tới các quyền quy định riêng trong công ước này. Điều khoản này cũng được
áp dụng đối với công dân của các nước không phải thành viên liên hợp nhưng
định cư hoặc có cơ sở thương mại hoặc công nghiệp thực sự và có hiệu quả
trên lãnh thổ của một trong những nước thành viên liên hiệp (Điều 3).
Quyền ưu tiên đối với việc xin đăng ký nhãn hiệu (Điều 4) được quy
định rằng: Bất kỳ người nào nộp đơn hợp lệ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá
tại một trong các nước thành viên của liên hợp sẽ được hưởng thời hạn ưu tiên
khi gửi đơn xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá đó tại các nước khác. Các đơn
nộp sau này sẽ được xét là nộp cùng của thời hạn ưu tiên. Thời hạn này là 6
tháng bắt đầu từ ngày nộp đơn đầu tiên (ngày này không tính trong thời hạn
ưu tiên). Nếu ngày cuối cùng của thời hạn ưu tiên là ngày lễ chính thức hoặc
ngày cơ quan sở hữu công nghiệp không nhận đơn thì thời hạn này sẽ kéo dài
đến ngày làm việc đầu tiên tiếp theo đó. Để được hưởng quyền ưu tiên này,
người nộp đơn phải làm tờ khai có ghi rõ ngày nộp và nước nhận đơn đó. Các
nước thành viên có thể yêu cầu người nộp đơn nói trên phải nộp bản sao của
đơn nộp trước có xác nhận cơ quan có thẩm quyền đã nhận đơn đó trong thời
hạn nộp đơn, sau đó có thể yêu cầu nộp một số bằng chứng khác
Các quy tắc chung mà mọi nước tham gia Công ước phải tuân thủ:
(1) Công ước không điều chỉnh điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn
hiệu mà để cho các quốc gia của từng nước tham gia Công ước quyết định.

(4) Theo điều 6
quiquis
, bất cứ nhãn hiệu nào được đăng ký hợp lệ tại nước
xuất xứ cũng được chấp nhận nộp đơn và bảo hộ duới hình thức nguyên bản
của nó ở các nước thành viên khác khi có yêu cầu. Tuy nhiên việc đăng ký có
thể bị từ chối trong các trường hợp sau:
Khi nhãn hiệu đó xâm phạm quyền của bên thứ ba tại nước có yêu cầu
bảo hộ.
Khi các nhãn hiệu đó không có bất cứ dấu hiệu phân biệt nào, hoặc chỉ
bao gồm toàn các dấu hiệu, chỉ dẫn được sử dụng trong thương mại để chỉ
chủng loại, chất lượng, số lượng, mục đích sử dụng, giá trị xuất xứ hàng hoá
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
15
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
hoặc thời gian sản xuất hoặc đã trở thành thông dụng trong ngôn ngữ hiện
thời hoặc trong tập quán thương mại lành mạnh và lâu đời tại các nước được
yêu cầu bảo hộ.
Khi các nhãn hiệu đó trái với đạo đức hoặc trật tự công cộng, đặc biệt
về bản chất chúng có khả năng gây nhầm lẫn cho công chúng.
(5) Chủ nhãn hiệu có quyền phản đối việc đăng ký hoặc đề nghị huỷ bỏ
đăng ký nhãn hiệu cho đại lý hoặc đại diện của chủ nhãn hiệu tại một trong
các nước thành viên của liên hiệp mà không được sự đồng ý của chủ nhãn
hiệu (Điều 6
septies
).
(6) Việc đăng ký nhãn hiệu không phụ thuộc vào bản chất hàng hoá đó
(Điều 7).
(7) Nhãn hiệu chung, tập thể phải được đăng ký và bảo hộ nếu tập thể
đó tồn tại hợp pháp (Điều 7
bis

một trong ba điều kiện sau (Điều 1 khoản 3): (1) Người nộp đơn có cơ sở kinh
doanh thực thụ và nghiêm túc tại đó; (2) Người nộp đơn có chỗ ở cố định tại
đó; (3) Người nộp đơn là công dân của nước đó.
Thoả ước cũng cho phép công dân của nước không tham gia hiệp hội
đặc biệt về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá có quyền như công dân của
nước tham gia hiệp hội nếu người nộp đơn có trụ sở thương mại hoặc công
nghiệp thực sự và hoạt động có hiệu quả trên nước thành viên hiệp hội hoặc
người nộp đơn cư trú tại nước thành viên hiệp hội (Điều 2).
Đăng ký quốc tế.
Người nộp đơn phải thoả mãn các quy định của hiệp hội về mẫu đơn
đăng ký quốc tế và cơ quan tại nước phải chứng nhận rằng các chi tiết trong
đơn đăng ký đó tương ứng với các chi tiết ghi trong Đăng bạ quốc gia và phải
thông báo ngày nộp đơn đăng ký quốc tế (Điều 3 khoản 1).
Văn phòng quốc tế sẽ đăng ký ngay những nhãn hiệu nộp theo quy định
trên. Ngày đăng ký sẽ là ngày nộp đơn đăng ký quốc tế tại nước xuất xứ, nếu
đơn này được văn phòng quốc tế nhận được trong vòng 2 tháng kể từ ngày đó.
Nếu sau 2 tháng văn phòng quốc tế mới nhận được đơn này thì ngày đăng ký
sẽ tính từ ngày văn phòng quốc tế nhận được đơn (Điều 3 khoản 4).
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
17
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
Để đảm bảo sự minh bạch, văn phòng quốc tế sẽ công bố các nhãn hiệu
đã được đăng ký cho tất cả các nước thành viên, công bố qua Công báo của
mình (Điều 3 khoản 5).
Các nước thành viên có quyền từ chối bảo hộ hàng hoá đó trên lãnh thổ
nước mình. Tất cả việc từ chối chỉ được dựa trên cơ sở được áp dụng trong
trường hơp quốc gia. Các nước không được phép từ chối chỉ với lý do luật
quốc gia không cho phép. Việc từ chối phải được thông báo cho văn phòng
quốc tế trong thời hạn một năm kể từ ngày đăng ký quốc tế của nhãn hiệu.
Quá thời hạn này việc từ chối là vô hiệu (Điều 5).

nào có liên quan đến nhãn hiệu đã đăng ký trước.
Việc bổ xung các hàng hoá, dịch vụ mới vào danh mục hoặc thay thế
hàng hoá, dich vụ bằng một hàng hoá, dịch vụ khác chỉ được thực hiện bằng
cách nộp đơn đăng ký mới.
Mọi thay đổi trong đăng bạ quốc gia: huỷ bỏ, đình chỉ hiệu lực, chuyển
nhượng, giảm danh mục hàng hoá, dịch vụ ghi trong đăng bạ quốc tế đều phải
được cơ quan của nước của người có tên trong đăng bạ quốc tế thông báo cho
văn phòng quốc tế và văn phòng quốc tế sẽ ghi nhận những thay đổi đó vào
đăng bạ quốc tế và thông báo cho các nước thành viên biết điều đó và công bố
trên tạp chí của mình.
Việc chuyển nhượng nhãn hiệu quốc tế:
Trường hợp nhãn hiệu được đăng ký quốc tế được chuyển giao cho
người tại một nước khác với nước của người có tên đăng ký quốc tế thì việc
chuyển giao này phải được cơ quan của nước người chuyển giao thông báo
cho văn phòng quốc tế. Văn phòng quốc tế sẽ ghi nhận việc chuyển giao vào
Đăng bạ quốc tế và thông báo cho cơ quan của nước thành viên, công bố trên
Công báo của mình. Nếu việc chuyển giao đó có hiệu lực trước khi hết thời
hạn 5 năm kể từ ngày đăng ký quốc tế, văn phòng quốc tế sẽ yêu cầu sự đồng
ý của nước của chủ mới và công bố, nếu có thể, ngày và số nhãn hiệu tại nước
của người chủ mới (Điều 9
bis
khoản 1).
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
19
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
Việc chuyển giao nhãn hiệu được đăng ký quốc tế vì lợi ích của những
người không được hưởng quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu quốc tế sẽ không
được ghi nhận (Điều 9
bis
khoản 2)

của Cộng đồng châu Âu. Cuối cùng, đơn xin do Nghị định thư điều chỉnh có
thể nộp không chỉ ở Pháp mà cả ở Anh.
2.5. Thoả ước NICE về phân loại quốc tế đối với hàng hoá và dịch vụ
vì mục đích đăng ký nhãn hiệu (1957) (Do WIPO quản lý).
Thoả ước NICE được ký vào ngày 15/6/1957 tại Nice và được sửa đổi
tại Stockhom 14/7/1967 và tại Giơnevơ ngày 13/5/1977 và được bổ sung tại
Giơnevơ ngày 28/9/1979.Mặc dù chỉ có 58 nước tham gia, nhưng Văn phòng
nhãn hiệu của hơn 140 nước cũng như Văn phòng quốc tế của WIPO, tổ chức
sở hữu trí tuệ Châu Phi và Văn phòng nhãn hiệu Benelux, Văn phòng vì sự
thống nhất thị trường nội địa (Nhãn hiệu và kiểu dáng) của cộng đồng châu
Âu, thực sự sử dụng hệ thống phân loại này.
Thoả ước NICE quy định về việc phân loại hàng hoá và dịch vụ vì mục
đích đăng ký thương hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ. Văn phòng nhãn
hiệu của các nước thành viên phải cho biết, liên quan đến từng đăng ký, biểu
tượng của từng cấp hạng.
Hệ thống đăng ký bao gồm một danh mục các cấp hạng: có 34 cấp
hạng cho hàng hoá và 8 cấp hạng cho dịch vụ. Danh sách gồm 11000 mục.
Tuỳ từng lúc mà cả 2 danh sách được sửa đổi và bổ sung bởi 1 uỷ ban gồm
các chuyên gia đại diện cho tất cả các nước thành viên. (Xem phụ lục 1).
2.6. Hiệp ước luật nhãn hiệu hàng hoá (1994) (Do WIPO quản lý thực
hiện).
Các thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá khác nhau theo mỗi nước được
quy định trong các Công ước quốc tế. Nhưng các thủ tục này đôi khi đòi hỏi
các thể thức rất khác nhau gây khó khăn cho người nộp đơn và chủ sở hữu
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
21
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
nhãn hiệu hàng hoá. Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hoá nền
kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ tại tất cả các quốc gia trên thế giới,
một thị trường chung đang dần dần được hình thành.

yêu cầu làm theo mẫu tờ khai quốc tế nếu tờ khai được làm bằng ngôn ngữ
được cơ quan chấp nhận. Tuy nhiên, các nước thanh viên có thể lập ra “mẫu
Tờ khai quốc tế riêng”. Các mẫu Tờ khai này không được có các yêu cầu bắt
buộc ngoài hoặc trái với Hiệp ước hoặc Quy chế.
Hiệp ước mang lại lợi ích cho người nộp đơn, chủ sở hữu, cơ quan
nhãn hiệu hàng hoá và các đại diện nhãn hiệu hàng hoá. Người nộp đơn và
chủ sở hữu có lợi từ việc Hiệp ước tạo ra tính pháp lý chắc chắn hơn vì họ có
thể dựa vào một thực tế là các cơ quan nhãn hiệu hàng hoá không được phép
yêu cầu những gì không được đề cập rõ ràng trong Hiệp ước. Điều đó cùng
với việc cấm đặt ra các yêu cầu rườm rà và tốn kém sẽ làm cho việc nộp đơn
nhãn hiệu hàng hoá và việc quản lý hành chính các đăng ký ở nước ngoài dễ
dàng hơn. Vì vậy, các chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá dễ dàng nhận được sự
bảo hộ quốc tế nhãn hiệu hàng hoá với chi phí thấp.
Các thủ tục thông suốt sẽ làm giảm gánh nặng về mặt hành chính của
các cơ quan nhãn hiệu hàng hoá của các nước phát triển cũng như các nước
đang phát triển. Ngoài ra, việc người nộp đơn dễ dàng thực hiện việc nộp đơn
làm tăng số đơn. Cả hai yếu tố này làm tăng thu nhập, người nộp đơn được
hưởng lợi do lệ phí nộp đơn giảm xuống. Số đơn tăng lên làm cải thiện tình
hình kinh doanh của các đại diện nhãn hiệu hàng hoá.
3. Các quy định về bản quyền nhãn hiệu hàng hoá trên các khu vực thị
trường.
3.1. Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá của Hoa Kỳ.
Pháp luật liên bang và pháp luật các bang về nhãn hiệu hàng hoá.
Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá được quy định bởi hai hệ thống pháp
luật liên bang và pháp luật của từng bang trong hợp chủng quốc Hoa Kỳ
không có một quy định cụ thể nào dành cho Liên bang toàn quyền ban hành
Nguyễn Thị Hằng lớp Pháp 2 - K 37 D
23
Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
v2

Vấn đề bản quyền nhãn hiệu sản phẩm trong marketing quốc tế và thực tế tại Việt Nam
tín (good will) của chủ nhãn hiệu và lợi ích của người tiêu dùng trước hành vi
gây nhầm lẫn. Nhãn hiệu hàng hoá được áp dụng cho hàng hoá, dịch vụ
(service mark) và cả những nhãn hiệu xác nhận nguồn gốc, chất lượng, độ
nguyên chất…, nếu chúng thoả mãn các yêu cầu của một nhãn hiệu
(certification marks). Các quy định này về cơ bản có thể so sánh với các quy
định của pháp luật Việt Nam.
Để đảm bảo tính phân biệt, nhãn hiệu hàng hoá phải có những dấu hiệu
làm nó biệt lập với nhãn hiệu của người khác. Tên gọi loại hàng, mô tả hàng,
các tên đơn thuần phục vụ những chức năng như tên gọi của dòng họ, địa
danh; những nhãn hiệu trái đạo đức xã hội; những nhãn hiệu có nguy cơ gây
nhầm lẫn với những nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký (likehood of confusion)
đều không được đăng ký.
Trước đây đạo luật Lanham quy định: nhãn hiệu chỉ được đăng ký nếu
đã được sử dụng trong thực tiễn. Quy định này có xuất xứ từ thông luật bảo
vệ nhãn hiệu như là tài sản của doanh nghiệp trong kinh doanh không lành
mạnh. Đây là quy định rất khác biệt của Hoa Kỳ so với các nước theo hệ
thống dân luật, cũng như so với pháp luật của Việt Nam tuy nhiên từ khi sửa
đổi vào năm 1988, đạo luật này chỉ quy định người muốn đăng ký chỉ cần có
bằng chứng là mình có ý định sử dụng là đủ (bona intent to use).
Phạm vi và thời hạn bảo hộ.
Từ sau lần sửa đổi năm 1988, thời hạn được bảo hộ của hàng hoá được
rút ngắn xuống còn 10 năm (trước đó là 20 năm) kể từ ngày đăng ký. Thời
hạn bảo hộ có thể được gia hạn nhiều lần không hạn chế nếu nhãn hiệu hàng
hoá vẫn sử dụng trong thực tế.
Sau khi được đăng ký, chủ sở hữu văn bằng có độc quyền sử dụng nhãn
hiệu cho hàng hoá đã đăng ký, có quyền yêu cầu toà án bảo hộ các quyền hợp
pháp của mình trước các hành vi vi phạm nhãn hiệu, có quyền yêu cầu cơ
quan hải quan Hoa Kỳ cấm nhập hàng hoá từ nước ngoài vi phạm nhãn hiệu
hàng hoá. Sau khi được đăng ký, nhãn hiệu được công bố công khai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status