Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơ cấu quản lý tổ chức Công Ty Kinh Doanh Khí Hoá Lỏng Miền Bắc - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Mục lục
Nội dung Trang
Mục lục
1
Lời nói đầu 3
Chương I: Lý luận chung về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
6
1.1. Thực Chất vai trò của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
6
1.1.1. Quản lý 6
1.1.2. Bộ máy cơ cấu tổ chức quản lý 6
1.2. Nguyên tắt đối với việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý doanh nghiệp
9
1.2.1. Những yêu cầu 9
1.2.2. Những nguyên tắc 10
1.2.3. Mối liên hệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp 11
1.3. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 12
1.3.1. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 12
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
30
1.4. Những phương pháp hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 31
1.4.1. Phương pháp tương tự 31
1.4.2. Phương pháp phân tích theo yếu tố 32
1.4.3. Phương pháp dựa trên mối liên hệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy 35
Chương II: Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty Kinh doanh khí hoá lỏng
Miền Bắc

2.4.3. Một số nguyên nhân dẫn đến các tồn tại 75
Chương III: Một số giải pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty kinh doanh khí hoá lỏng Miền
Bắc
76
3.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý 76
3.2. Sắp xếp lại một số bộ phận phù hợp hơn với nhiệm vụ và đặc
điểm sản xuất kinh doanh
76
3.3. Nâng cao trình độ của cán bộ nhân viên thông qua công tác đào
tạo, tuyển dụng, tuyển chọn nhân viên
77
3.4. Xây dựng tiêu chuẩn cho cán bộ 78
3.5. Cải thiện điều kiện làm việc của lao động quản lý
80
Lời Kết
82
Tài liệu tham khảo
83
LỜI NÓI ĐẦU
---2---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
1. Tính cấp thiềt của đề tài
Hiện nay, Việt Nam đã chính thức là thành viên của ASEAN, của tổ chức thương
mại thế giới WTO và từ đầu năm 2005, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng
được thực thi. Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế thế giới này đã và đang
tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho kinh tế Việt
Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Các doanh nghiệp nước

Hoá Lỏng Miền Bắc
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý giới
hạn trong phạm vi Công Ty Kinh Doanh Khí Hoá Lỏng Miền Bắc giới hạn từ
năm 2001 trở lại đây.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đã vận dụng các phương pháp phân tích, khảo sát, so
sánh, tổng hợp dựa trên lý luận kinh tế học Mác – Lênin và đường nối chính sách
của đảng, nhà nước.
5. kết quả nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm các phần sau:
Phần 1: Lý luận chung về cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty.
Phần 2: Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Công Ty Kinh Doanh Khí
Hoá Lỏng Miền Bắc.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức
bộ máy quản lý tại Công Ty Kinh Doanh Khí Hoá Lỏng Miền Bắc.
6. Ý nghĩa
- Về mặt lý luận: Đã hệ thống hoá về mặt lý luận cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
trong doanh nghiệp.
- Về mặt thực tiễn: Giúp công ty khí hoá lỏng Miền Bắc đề ra những giải pháp
trong việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại công ty, giúp công ty
vượt qua những khó khăn trước mắt.
---4---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Do thời gian thực tập và trình độ bản thân còn hạn chế, khoá luận không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô
và cấp lãnh đạo công ty khí hoá lỏng Miền Bắc.
Em xin chân thành cảm ơn cô TS Hồ Thị Bích Vân và ban lãnh đạo công ty
khinh doanh khí hoá lỏng Miền Bắc đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành khóa

khác nhau có mối liên hệ qua lại, phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá và
có nhưng cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo các chức năng quản trị và
mục đích chung đã được xác định của doanh nghiệp.
Việc tạo lập cơ cấu bộ máy quản lý doanh nghiệp cho phép chúng ta tổ chức sử
dụng một cách hợp lý nhất các nguồn nhân lực. Nó cũng cho phép chúng ta xác
định rõ mối tương quan giữa các hoạt động cụ thể và những trách nhiệm gắn liền
---6---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
với các cá nhân, các bộ phận của cơ cấu. Nó giúp cho việc ra quyết định hiệu quả
thông qua các thông tin rõ ràng, chính xác. Đồng thời nó cũng giúp ta xác định
quyền lực của cơ cấu tổ chức.
Cấu thành lên cơ cấu tổ chức bộ máy phải là các bộ phận chuyên môn có trình
độ, được sắp xếp theo một thứ tự cấp bậc nhất định.
Nói tóm lại, tổ chức bộ máy doanh nghiệp là nhằm đảm bảo sự vận hành của bộ
máy quản lý và không tách rời mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị
Thực chất của quản lý doanh nghiệp là quản lý con người, yếu tố cơ bản của lực
lượng sản xuất thông qua đó sử dụng hợp lý các tiềm năng, cơ hội của doanh
nghiệp vì con người được xem là nguồn lực của mọi nguồn lực. Quản lý là nhân
tố hết sức quan trọng để nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế của
sản xuất kinh doanh.
Mục đích của cơ cấu tổ chức là nhằm lập ra một hệ thống chính thức gồm các vai
trò, nhiệm vụ mà con người có thể thực hiện sao cho có sự cộng tác thồng nhất
để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.3. Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là loại hoạt động riêng biệt của lao động quản lý, thể hiện
những phương hướng tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Việc
xác định đúng đắn chức năng quản lý là tiền đề cần thiết, khách quan để quản lý
doanh nghiệp theo hướng chuyên, tinh, gọn, nhẹ và có hiệu lực.

- Chức năng hành chính, pháp chế
- Chức năng tổ chức đời sống tập thể và hoạt động xã hội.
Trong thực tế hoạt động của các doanh nghiệp, cả hai cách phân loại trên đều
được kết hợp thực hiện.
1.2. Nguyên Tắc đối với việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
doanh nghiệp
---8---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiệp là
vấn đề vô cùng phức tạp, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải đạt được.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được hình thành từ những mục tiêu, mục đích mà
doanh nghịêp đã chọn, nó góp phần quan trọng làm cho doanh nghiệp linh động,
sáng tạo, chủ động thích ứng với sự biến đổi của cơ chế thị trường. Vì vậy, cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là một công cụ chứ không phải là mục
đích trong quản lý.
Nền kinh tế hiên nay đòi hỏi việc hoàn thiện bộ máy quản lý phải hợp lý, phù
hợp với từng doanh nghiệp.
1.2.1. Những yêu cầu
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là hạt nhân trung tâm, ảnh hưởng trực tiếp tới sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Tính tối ưu:
Giữa các khâu và các cấp quản trị đều thiết lập những mối quan hệ hợp lý với số
lượng cấp quản lý ít nhất không thừa, không thiếu, không chồng chéo chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng,đảm bảo thông suốt, không bị sai lệch trong việc ra
quyết định để bộ máy quản trị luôn đi sát phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
được liên tục và phát triển
- Tính linh hoạt:

doanh nghiệp theo hướng phát triển. Bởi vậy, việc tiến hành tợp hợp đầy đủ
thông tin để xác định cơ cấu tổ chức là rất quan trọng. Một cơ cấu hình thành
phải thoả mãn và đáp ứng được việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đề ra, có khả
năng biến nó thành hiện thực và yêu cầu có hiệu quả cao nhất.
- Từ công việc, nhiệm vụ để biến thành tổ chức, hình thành bộ máy và lựa chọn
con người. Sự xuất hiện của tổ chức bộ máy hay bố trí con người cụ thể trong hệ
---10---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
thống quản trị là do yêu cầu nhiệm vụ sản xuất đặt ra. Sự cần thiết của nó chính
là ở chỗ phải đảm nhận những chức năng do quá trình sản kinh doanh quy định.
Việc xây dựng tổ chức và hệ thống tổ chức phải đi liền với việc xây dựng trách
nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ và lề nối phối hợp hoạt động đảm bảo cho sự chỉ
đạo thống nhất, thông suốt và mau lẹ. Muốn vậy, các hoạt động và mối quan hệ
trong hoạt động của cả hệ thống tổ chức phải được quy định bằng văn bản dưới
dạng điều lệ, nội quy, quy chế
Trong phạm vi từng doanh nghiệp, việc tổ chức cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
phải thoả mãn việc đảm bảo nguyên tắc chế độ một thủ trưởng, trách nhiệm cá
nhân, trên cơ sở đảm bảo và phát huy quyền làm chủ, quyền quyết định toàn diện
về các mặt liên quan đến doanh nghiệp và từng bộ phận phòng ban được giao
cho một người.
Ngoài việc phải đảm bảo những nguyên tắc trên cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
phải phù hợp với quy mô sản xuất thích ứng với đặc thù kỹ thuật của doanh
nghiệp, phải chuyên sâu, tinh gọn và rõ ràng. Đồng thời hoàn thành đầy đủ mọi
chức năng quản lý được đưa ra nhanh nhất, khoa học nhất, sát với thực tiễn,đáp
ứng nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp theo hướng phát triển.
1.2.3. Các mối liên hệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp
Một Vấn đề quan trọng trong xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là xác
định một cách đúng đắn và rõ ràng các loại liên hệ giữa các bộ phận, các cấp, các

động cùng lĩnh vực chức năng (như marketing, nghiên cứu và phát triển, sản
xuất, tài chính, quản lý nguồn nhân lực…) được hợp nhóm trong cùng một đơn
vị cơ cấu.
- Các ưu điểm cụ thể của mô hình này là:
+ Hiệu quả tác nghiệp cao nếu nhiệm vụ có tính tác nghiệp lặp đi lặp lại hàng
ngày
+ Phát huy đầy đủ những ưu thế của chuyên môn hoá ngành nghề
---12---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
+ Giữ được sức mạnh và uy tín của các chức năng chủ yếu
+ Đơn giản hoá việc đào tạo
+ Chú trọng hơn đến tiêu chuẩn nghề nghiệp và tư cách nhân viên
+ Tạo điều kiện cho kiểm tra chặt chẽ của cấp cao nhất
- Nhược điểm của mô hình này là:
+ Thường dẫn đến mâu thuẫn giữa các đơn vị chức năng khi đề ra các mục tiêu
và chiến lược
+ Thiếu sự phối hợp hành động giữa các phòng ban chức năng
+ Chuyên môn hoá quá mức và tạo ra cách nhìn hạn hẹp ở các cán bộ quản lý
+ Hạn chế việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chung
+ Đổ trách nhiệm về vấn đề thực hiện mục tiêu chung của tổ chức cho cấp lãnh
đạo cao nhất
- Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng tương đối dễ hiểu và được hầu hết các
tổ chức sử dụng trong một giai đoạn phát triển nào đó, khi tổ chức có quy mô
vừa và nhỏ, hoạt động trong một lĩnh vực, đơn sản phẩm, đơn thị trường.
Giám Đốc
Trợ lý giám đốc
Trưởng phòng nhân sự
Phó giám đốc Marketing

Phân xưởng 3
Thống kê và xử lý số liệu
Sơ đồ1: Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng
1.3.1.2. Mô hình tổ chức theo bộ phận địa dư
- Việc hình thành bộ phận dựa vào lãnh thổ là một phương thức khá phổ biến ở
các tổ chức hoạt động trên phạm vi địa lý rộng. Trong trường hợp này, điều quan
trọng là các hoạt động trong một khu vực hay địa dư nhất định được hợp nhóm
và giao cho một người quản lý. Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình tổ
chức bộ theo địa dư khi cần tiến hành các hoạt động giống nhau ở các khu vực
địa lý khác nhau, chẳng hạn trong việc tổ chức dây chuyền láp ráp ô tô hay tổ
chức mạng lưới phân phối. Nhiều cơ quan Nhà nước như cơ quan thuế, toà án,
bưu điện…áp dụng hình thức tổ chức này nhằm cung cấp những dịch vụ giống
nhau, đồng thời ở mọi nơi trong cả nước.
Tổng giám đốc
Phó TGĐ Marketing
Phó TGĐ nhân sự
Phó TGĐ tài chính
Giám đốc khu vực miền bắc
Giám đốc khu
vực miền trung
Giám đốc khu
Vực miền nam
kỹ thuật
sản xuất
---14---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Nhân sự
Kế toán

Phó
TGĐ
sản
Phó
TGĐ
Market
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Sơ đồ 3: Mô hình tổ chức bộ phận theo sản phẩm
- Những ưu điểm của mô hình này là:
+ Việc quy định trách nhiệm đối với các mục tiêu cuối cùng tương đối dế dàng
+ việc phối hợp hành động giũa các phòng ban chức năng vì mục tiêu cuối cùng
có hiệu quả hơn
+ Tạo khả năng tốt hơn cho việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý chung
+ Các đề xuất đổi mới công nghệ dế được quan tâm
+ có khả năng lớn hơn là khách hàng sẽ được tính tới khi đề ra quyết định
- Những nhược điểm tiềm ẩn của mô hình này là:
+ Sự tranh giành ngồn lực giữa các tuyến sản phẩm có thể dẫn đến phản hiệu quả
+ Cần nhiều người có năng lực quản lý chung
+ Có su thế làm cho việc thực hiện các dịch vụ hỗ chợ tập chung chở nên khó
khăn
+ làm nảy sinh khó khăn đối với việc kiểm soát của cấp quản lý cao nhất
1.3.1.4. Mô hình tổ chức bộ phận theo khách hàng ở một công ty thương mại
---16---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Giám
đốc khu
vực đo
lường
Giám

dịch vụ đã dẫn nhiều nhà cung ứng đến với việc hình thành bộ phận duạe trên cơ
sở khách hàng. Ví dụ một trường đại học có các lớp học buổi tối để thu hút
những người có nhu cầu học tập nhưng không thể đến trường vào ban ngày. Các
hoạt động quyên góp cứu tế được sắp sếp trên cơ sở phân loại những nhóm
người cần giúp đỡ. Một doanh nghiệp có thể có một chi nhánh bán hàng công
nghiệp và một chi nhánh bán hàng tiêu dùng. Minh hoạ một cách tổ chức phân
chia bộ phận điển hình theo khách hàng ở một công ty thương mại
- Tuy mô hình tổ chức bộ phận theo khách hàng ít được sử dụng như một mô
hình duy nhất hoặc như một dạng cơ cấu tổ chức chính, song nó thường sử dụng
cho một tổ chức tổng thể.
Tổng giám đốc
Phó TGĐ tài chính
Phó TGĐ kinh doanh
Phó TGĐ nhân sự
Giám đốc phân phối sản phẩm
Giám đốc nghiên cứu thị trường
Quản lý bán buôn
Quản lý bán lẻ
Quản lý giao dịch với cơ quan nhà nước
Sơ đồ 4: Mô hình tổ chức bộ phận theo khách hàng ở một công ty thương
mại
- Mô hình theo chức năng khách hàng có ưu điểm:
+ Tạo ra sự hiểu biết khách hàng tốt hơn
+ Đảm bảo khả năng chắc chắn hơn là khi soạn thảo các quyết định, khách hàng
sẽ được dành vị trí nổi bật để xem xét
+ Tạo cho khách hàng cảm giác họ có những nhà cung ứng đáng tin cậy
+ Tạo ra hiệu năng lớn hơn trong việc định hướng các nỗ lực phân phối
---17---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
17

---18---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Sơ đồ 5: Mô hình tổ chức bộ phận theo đơn vị chiến lược ở một ngân hàng
lớn
- Ưu điểm của mô hình là:
+ Xây dựng trên cơ sở phân đoạn chiến lược nên giúp đánh giá được vị trí của tổ
chức trên thị trường
+ Hoạt động dựa vào những trung tâm chiến lược, cho phép tiến hành kiểm soát
trên một cơ sở chung thống nhất
+ Có những đơn vị đủ độc lập với mục tiêu rõ ràng, và điều này cho phép tăng
cường phối hợp bằng phương thức giảm thiểu nhu cầu phối hợp
- Nhược điểm:
+ Có khả năng xuất hiện tình trạng cục bộ, khi lợi ích của đơn vị chiến lược lấn
át lợi ích của toàn tổ chức
+ Chi phí cho cơ cấu tăng do tính trùng lắp của công việc
+ Những kỹ năng kỹ thuật không được chuyển giao dễ dàng vì các kỹ thuật gia
và chuyên viên đã bị phân tán trong các đơn vị chiến lược
+ Công tác kiểm soát của cấp quản lý cao nhất có thể gặp nhiều khó khăn
- Mô hình tổ chức theo đơn vị chiến lược hiện đang được các công ty như
General Electric, General Foods và Armco Steel áp dụng. Nhiều người cho rằng
đây là hình thái cơ cấu chủ yếu của các cơ cấu tổ chức rát lớn trong những năm
cuối thế kỷ XX
1.3.1.6. Mô hình tổ chức theo quá trình
- Tổ chức theo quá trình là phương thức hình thành bộ phận trong đó các hoạt
động được hợp nhóm trên cơ sở giai các giai đoạn của dây chuyền công nghệ.
Cho ví dụ về cách theo quá trình taị một công ty dệt.
- Việc hình thành bộ phận theo quá trình là phương thức khá phổ biến đối với các
tổ chức có dây chuyền hoạt động chặt chẽ, có thể phân chia thành cung đoạn

cách để đảm bảo rằng mọi người sẽ tỏ ra biết điều hơn khi đòi hỏi sự phục vụ
phải nộp phí tổn. Cần bố trí các bộ phận dịch vụ gần các đối tượng được phục
vụ, và không bao giờ nên coi nhẹ khả năng sử dụng các dịch vụ từ bên ngoài.
---20---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Giám đốc
Phòng giám đốc marketing
Phòng giám đốc R&D
Phòng giám đốc dịch vụ
Phòng giám đốc sản xuất
Phòng giám đốc tài chính
phụ trách nhân sự
phụ trách dịch vụ thông tin
phụ trách dịch vụ sản xuất
phụ trách dịch vụ pháp luật
phụ trách quan hệ giao dịch
Sơ đồ 7: Hình thành bộ phận theo dịch vụ hỗ trợ tại một công ty sản xuất đa
sản phẩm
1.3.1.8. Mô hình tổ chức theo ma trận trong kỹ thuật
- Mô hình ma trận là sự kết hợp của hai hay nhiều mô hình tổ chức bộ phận khác
nhau. Mô hình theo chức năng kết hợp với mô hình theo sản phẩm. Ở đây, các
cán bộ quản lý theo chức năng và theo sản phẩm đều có vị thế ngang nhau. Họ
chịu trách nhiệm báo cáo cho cùng một cấp lãnh đạo và có thẩm quyền ra quyết
định thuộc lĩnh vực mà họ chịu trách nhiệm.
- Ưu điểm của mô hình: Định hướng các hoạt động theo kết quả cuối cùng. Tập
trung nguồn lực vào khâu xung yếu. Kết hợp được năng lực của nhiều cán bộ
quản lý và chuyên gia. Tạo điều kiện đáp ứng nhanh chóng với những thay đổi
của môi trường.

huy của một nhà quản lý, và sự phối hợp giữa các đơn vị có thể được nâng cấp
dần. Nó chính là công cụ để nhà quản lý có thể thực hiện quyền tự chủ và tạo ra
môi trường thuận lợi việc thực hiện nhiệm vụ của từng người. Trong tổ chức
quyền hạn chia làm ba loại: Quyền hạn trực tuyến, quyền hạn tham mưu và
---22---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
quyền hạn chức năng, được phân biệt chủ yếu bằng mối quan hệ với quá trình
quyết định.
a. Quyền hạn trực tuyến
- Quyền hạn trực tuyến là quyền hạn cho phép người quản lý ra quyết định và
giám sát trực tiếp đối với cấp dưới. Đó là mối quan hệ quyền hạn cấp trên và cấp
dưới trải dài từ cấp cao nhất xuống tới cấp thấp nhất trong tổ chức, tương ứng
với dây truyền chỉ huy theo nguyên lý thứ bậc. Là một mắt xích trong dây truyền
chỉ huy, mỗi nhà quản lý với quyền hạn trực tuyến có quyền ra quyết định cho
cấp dưới trực tiếp và nhận sự báo cáo từ họ
- Thuật ngữ trực tuyến có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Trong thực tế, trực
tuyến còn được sử dụng dùng chỉ các bộ phận có mối quan hệ trực tiếp với việc
thực hiện các mục tiêu của tổ chức như bộ phận thiết kế sản phẩm và dịch vụ,
sản xuất và phân phối sản phẩm (đòi hỏi cả bộ phận tài chính). Người đứng đầu
bộ phận trực tuyến được gọi là quản lý trực tuyến hay quản lý tác nghiệp.
b. Quyền hạn tham mưu
Bản chất của mối quan hệ tham mưu cố vấn. Chức năng của tham mưu (hay bộ
phận tham mưu) là điều tra, khảo sát, nghiên cứu, phận tích và đưa ra những
những ý kiến tư vấn cho những người quản lý trực tuyến mà họ có trách nhiệm
phải quan hệ (xem sơ đồ 9). Sản phẩm lao động của cán bộ hay bộ phận tham
mưu là những lời khuyên chứ không phải là các quyết định cuối cùng.
Hiện nay vai trò của các tham mưu ngày càng gia tăng cùng với tính phức tạp
ngày càng cao của các hoạt động trong các tổ chức và của môi trường. Dù là

Quản đốc C
Luồng quan hệ trực tuyến
Quan hệ tham mưu
Sơ đồ 9: Mối quan hệ quyền hạn trực tuyến và tham mưu
- Nguy cơ xói mòn quyền hạn trực tuyến, nếu các tham mưu quên mất rằng họ
cần góp ý chứ không phải ra lệnh, nếu họ bỏ qua một thực tế là giá trị của họ
nằm ở chỗ giúp thêm sức mạnh cho những người quản lý trực tuyến. Có quá
nhiều trường hợp, vị lãnh đạo lập ra một số vị trí tham mưu, khoác lên mình họ
những quyền hạn (thường là rất mơ hồ), và ra lệnh cho tất cả các nhà quản lý
khác phải hợp tác với. Đề xuất của các tham mưu được lãnh đạo tiếp nhận với sự
---24---
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
Quản

vật tư
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
hăng hái nhiệt tình và ép buộc những người quản lý có liên quan phải thực hiện.
Điều thực tế xảy ra ở đây quyền hạn của những nhà quản lý trực tuyến bị tước
dần. Khi đó, các đề xuất của tham mưu được chấp nhận một cách miễn cưỡng và
bực tức. Việc kéo dài tình trạng này có thể làm bùng nổ xung đột trong tổ chức.
- Thiếu trách nhiệm của các tham mưu: Bộ phận tham mưu đưa ra các kế hoạch.
Những bộ phận khác phải xem có chấp nhận kế hoạch và đưa vào áp dụng hay
không. Điều đó đã tạo ra môi trường lý tưởng làm nảy sinh tình trạng đổ lỗi cho
nhau. Phía tham mưu tuyên bố rằng đó là một kế hoạch tốt và nó thất bại là vì
những nhà quản lý tác nghiệp không có trình độ, không quan tâm, hoặc có ý
ngầm phá hoại. Con người quản lý chịu trách nhiệm triển khai kế hoạch thì lại
tuyên bố rằng đó là một kế hoạch nghèo nàn. được thai nghén bởi nhà lý thuyết
suông không có kinh nghiệm.
- Suy nghĩ vô căn cứ. Lập luận cho rằng một cương vị tham mưu cho phép người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status