Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cơ cấu quản lý tổ chức Công Ty Kinh Doanh Khí Hoá Lỏng Miền Bắc. - Pdf 32

Kế toán chungNgân quỹ
Giám Đốc
Trợ lý giám đốc
Trưởng phòng nhân sự
Phó giám đốc Marketing
Phó giám đốc
kỹ Thuật
Phó giám đốc
Sản xuất
Phó giám đốc
Tài chính
Ngiên cứu thị trường
Quản lý kỹ thuật
Lập kế hoạch sản xuất
Lập kế hoạch Tài chính
Lập kế hoạch Marketing
Quảng cáo
Quản lý bán hàng
Thiết kế
Dụng cụ
Kỹ thuật điện
Phân xưởng 1
Kỹ thuật cơ khí
Phân xưởng 2
Kế toán chi phí
Bán hàng
Kiểm tra chất lượng
Phân xưởng 3
Thống kê và xử lý số liệu
Tổng giám đốc
Phó TGĐ Marketing

Ngân hàng sự nghiệp
Giám đốc
Phó giám đốc sản xuất
Phó giám đốc tài chính
Phó giám đốc kinh doanh
Phân xưởng sợi
Phân xưởng dệt
Phân xưởng nhuộm
Giám đốc
Phòng giám đốc marketing
Phòng giám đốc R&D
Phòng giám đốc dịch vụ
Phòng giám đốc sản xuất
Phòng giám đốc tài chính
phụ trách nhân sự
phụ trách dịch vụ thông tin
phụ trách dịch vụ sản xuất
phụ trách dịch vụ pháp luật
phụ trách quan hệ giao dịch
Tổng Giám đốc
Phó TGĐ marketing
Phó TGĐ kỹ thuật
Phó TGĐ tài chính
Phó TGĐ sản xuất
trưởng phòng thiết kế
trưởng phòng
cơ khí
trưởng phòng
điện
chủ nhiệm đề án A

Phương pháp phân tích theo yếu tố
Giai đoạn 1: Xây dựng sơ đồ cơ cấu tổng quát những kết luận có tính nguyên tắc của cơ cấu
Giai đoạn 2: Xác định các thành phần cho bộ phận cơ cấu. Xác định mối liên hệ giữa các bộ phận
Giai đoạn 3: Xác định những đặc trưng của yếu tố cơ cấu (chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn) tổ chức bộ máy
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Mục lục
Nội dung Trang
Mục lục 1
Lời nói đầu 3
Chương I: Lý luận chung về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
6
1.1. Thực Chất vai trò của cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
6
1.1.1. Quản lý 6
1.1.2. Bộ máy cơ cấu tổ chức quản lý 6
1.2. Nguyên tắt đối với việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý doanh nghiệp
9
1.2.1. Những yêu cầu 9
1.2.2. Những nguyên tắc 10
1.2.3. Mối liên hệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp 11
1.3. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 12
1.3.1. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 12
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh
nghiệp
30
1.4. Những phương pháp hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 31
1.4.1. Phương pháp tương tự 31

Chương III: Một số giải pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty kinh doanh khí hoá lỏng Miền
Bắc
76
3.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý 76
3.2. Sắp xếp lại một số bộ phận phù hợp hơn với nhiệm vụ và đặc
điểm sản xuất kinh doanh
76
3.3. Nâng cao trình độ của cán bộ nhân viên thông qua công tác đào
tạo, tuyển dụng, tuyển chọn nhân viên
77
3.4. Xây dựng tiêu chuẩn cho cán bộ 78
3.5. Cải thiện điều kiện làm việc của lao động quản lý 80
Lời Kết 82
Tài liệu tham khảo 83
LỜI NÓI ĐẦU
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
1. Tính cấp thiềt của đề tài
Hiện nay, Việt Nam đã chính thức là thành viên của ASEAN, của tổ chức thương
mại thế giới WTO và từ đầu năm 2005, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng
được thực thi. Xu thế hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế thế giới này đã và đang
tạo ra nhiều cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho kinh tế Việt
Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Các doanh nghiệp nước
ta hiện nay đang phải đối mặt với các khó khăn từ nhiều phía nhưng trở ngại lớn
nhất là sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp khác trong và ngoài nước.
Muốn tạo được chỗ đứng và khẳng định vị trí của mình trên thương trường,
doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua việc khai
thác tối đa tiềm năng từ các nguồn lực sẵn có. Nhưng để làm được điều đó trước
tiên doanh nghiệp cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý. Đây là một yêu cầu mang tính

của đảng, nhà nước.
5. kết quả nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm các phần sau:
Phần 1: Lý luận chung về cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty.
Phần 2: Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Công Ty Kinh Doanh Khí
Hoá Lỏng Miền Bắc.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức
bộ máy quản lý tại Công Ty Kinh Doanh Khí Hoá Lỏng Miền Bắc.
6. Ý nghĩa
- Về mặt lý luận: Đã hệ thống hoá về mặt lý luận cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
trong doanh nghiệp.
- Về mặt thực tiễn: Giúp công ty khí hoá lỏng Miền Bắc đề ra những giải pháp
trong việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại công ty, giúp công ty
vượt qua những khó khăn trước mắt.
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Do thời gian thực tập và trình độ bản thân còn hạn chế, khoá luận không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong được sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô
và cấp lãnh đạo công ty khí hoá lỏng Miền Bắc.
Em xin chân thành cảm ơn cô TS Hồ Thị Bích Vân và ban lãnh đạo công ty
khinh doanh khí hoá lỏng Miền Bắc đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành khóa
luận này.
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1.Thực chất của cơ cấu tổ chức bộ máy trong doanh nghiệp
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---5---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
1.1.1. Quản lý

quyền lực của cơ cấu tổ chức.
Cấu thành lên cơ cấu tổ chức bộ máy phải là các bộ phận chuyên môn có trình
độ, được sắp xếp theo một thứ tự cấp bậc nhất định.
Nói tóm lại, tổ chức bộ máy doanh nghiệp là nhằm đảm bảo sự vận hành của bộ
máy quản lý và không tách rời mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị
Thực chất của quản lý doanh nghiệp là quản lý con người, yếu tố cơ bản của lực
lượng sản xuất thông qua đó sử dụng hợp lý các tiềm năng, cơ hội của doanh
nghiệp vì con người được xem là nguồn lực của mọi nguồn lực. Quản lý là nhân
tố hết sức quan trọng để nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế của
sản xuất kinh doanh.
Mục đích của cơ cấu tổ chức là nhằm lập ra một hệ thống chính thức gồm các vai
trò, nhiệm vụ mà con người có thể thực hiện sao cho có sự cộng tác thồng nhất
để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.3. Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là loại hoạt động riêng biệt của lao động quản lý, thể hiện
những phương hướng tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Việc
xác định đúng đắn chức năng quản lý là tiền đề cần thiết, khách quan để quản lý
doanh nghiệp theo hướng chuyên, tinh, gọn, nhẹ và có hiệu lực.
Có hai loại chức năng quản lý:
Một là: phân loại theo nội dung và quá trình quản lý
Theo chuyên gia nổi tiếng về quản trị doanh nghiệp H.Fayd, quản lý có thể bao
gồm các chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng dự báo: Nhằm lựa chọn chiến lược dài hạn, trả lời được ba câu hỏi
cơ bản của doanh nghiệp: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào?
- Chức năng tổ chức: Nhằm sắp xếp, bố trí tận dụng mọi nguồn lực trong nội bộ,
thực hiện bổ nhiệm các chức vụ quản lý.
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---7---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
- Chức năng phối hợp: Nhằm đảm bảo kết hợp các mặt hoạt động tạo sự hài hoà,

cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp là một công cụ chứ không phải là mục
đích trong quản lý.
Nền kinh tế hiên nay đòi hỏi việc hoàn thiện bộ máy quản lý phải hợp lý, phù
hợp với từng doanh nghiệp.
1.2.1. Những yêu cầu
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là hạt nhân trung tâm, ảnh hưởng trực tiếp tới sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Tính tối ưu:
Giữa các khâu và các cấp quản trị đều thiết lập những mối quan hệ hợp lý với số
lượng cấp quản lý ít nhất không thừa, không thiếu, không chồng chéo chức năng
nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng,đảm bảo thông suốt, không bị sai lệch trong việc ra
quyết định để bộ máy quản trị luôn đi sát phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
được liên tục và phát triển
- Tính linh hoạt:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp phải có khả năng thích ứng với
mọi tìm huống, mọi sự biến động, mọi hoàn cảnh nhằm đáp ứng một cách mau
lẹ, kịp thời trong công tác quản lý của doanh nghiệp cũng như cơ cấu tổ chức bộ
máy có khả năng sáng tạo, chủ động, linh hoạt, thích ứng với sự biến động của
thị trường.
- Tính tin cậy:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải đảm bảo các thông tin được doanh nghiệp
sử dụng là chính xác, đạt hiệu quả. Nhờ đó mà sự phối hợp hoạt động nhiệm vụ
của các phòng ban bộ phận trong việc sản xuất kinh doanh được nâng cao. Muốn
vậy, cơ cấu tổ chức bộ máy phải được cấu thành bởi nhũng người có năng lực và
phẩm chất tốt.
- Tính kinh tế:
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---9---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35

phải thoả mãn việc đảm bảo nguyên tắc chế độ một thủ trưởng, trách nhiệm cá
nhân, trên cơ sở đảm bảo và phát huy quyền làm chủ, quyền quyết định toàn diện
về các mặt liên quan đến doanh nghiệp và từng bộ phận phòng ban được giao
cho một người.
Ngoài việc phải đảm bảo những nguyên tắc trên cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
phải phù hợp với quy mô sản xuất thích ứng với đặc thù kỹ thuật của doanh
nghiệp, phải chuyên sâu, tinh gọn và rõ ràng. Đồng thời hoàn thành đầy đủ mọi
chức năng quản lý được đưa ra nhanh nhất, khoa học nhất, sát với thực tiễn,đáp
ứng nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp theo hướng phát triển.
1.2.3. Các mối liên hệ trong cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp
Một Vấn đề quan trọng trong xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là xác
định một cách đúng đắn và rõ ràng các loại liên hệ giữa các bộ phận, các cấp, các
nhân viên quản lý và doanh nghiệp. Nhìn chung trong thực tế, một tổ chức
thường có ba loại liên hệ đó là:
- Liên hệ trực thuộc: Là loại liên hệ giữa thủ trưởng và nhân viên trong bộ phận;
Giữa cán bộ có vị trí chỉ huy trực tuyến cấp trên và cấp dưới.
- Liên hệ chức năng: Là loại liên hệ giữa các bộ phận chức năng với nhau trong
quá trình chuẩn bị quyết định cho thủ trưởng hoặc giữa các bộ chức năng cấp
trên với cán bộ nhân viên chức năng cấp dưới nhằm hướng dẫn, giúp đỡ về
chuyên môn nghiệp vụ.
- Liên hệ tư vấn: Là loại liên hệ giữa cơ quan lãnh đạo chung, giữa cán bộ chỉ
huy trực tuyến với các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật, pháp chế với các hội đồng
được tổ chức theo từng loại công việc.
Trên cơ sở xác định đúng đắn, hợp lý những loại liên hệ nói trên, mỗi bộ phận,
cá nhân trong cơ cấu tổ chức quản lý nhận rõ nhiệm vụ, vị trí của mình.
1.3. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
1.3.1. Các kiểu cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---11---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35

+ Đổ trách nhiệm về vấn đề thực hiện mục tiêu chung của tổ chức cho cấp lãnh
đạo cao nhất
- Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng tương đối dễ hiểu và được hầu hết các
tổ chức sử dụng trong một giai đoạn phát triển nào đó, khi tổ chức có quy mô
vừa và nhỏ, hoạt động trong một lĩnh vực, đơn sản phẩm, đơn thị trường.
Sơ đồ1: Mô hình tổ chức bộ phận theo chức năng
1.3.1.2. Mô hình tổ chức theo bộ phận địa dư
- Việc hình thành bộ phận dựa vào lãnh thổ là một phương thức khá phổ biến ở
các tổ chức hoạt động trên phạm vi địa lý rộng. Trong trường hợp này, điều quan
trọng là các hoạt động trong một khu vực hay địa dư nhất định được hợp nhóm
và giao cho một người quản lý. Các doanh nghiệp thường sử dụng mô hình tổ
chức bộ theo địa dư khi cần tiến hành các hoạt động giống nhau ở các khu vực
địa lý khác nhau, chẳng hạn trong việc tổ chức dây chuyền láp ráp ô tô hay tổ
chức mạng lưới phân phối. Nhiều cơ quan Nhà nước như cơ quan thuế, toà án,
bưu điện…áp dụng hình thức tổ chức này nhằm cung cấp những dịch vụ giống
nhau, đồng thời ở mọi nơi trong cả nước.
Sơ đồ 2: Mô hình tổ chức bộ phận theo địa dư
- Những ưu điểm của mô hình này là:
+ Chú ý đến nhu cầu của thị trường và những vấn đề địa phương
+ Có thể phối hợp hành động của các bộ phận chức năng và hướng các hoạt động
này vào các thị trường cụ thể
+ tận dụng được hiệu quả của các nguồn lực và hoạt động tại địa phương
+ có được thông tin tốt hơn về thị trường
+ tạo điều kiện thuận lợi để đào tạo các cán bộ quản lý chung
- Những nhược điểm của mô hình này là:
+ Khó duy trì hoạt động thực tế trên diện rộng của tổ chức một cách nhất quán
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---13---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
+ Đòi hỏi phải có nhiều cán bộ quản lý

nghiệp và một chi nhánh bán hàng tiêu dùng. Minh hoạ một cách tổ chức phân
chia bộ phận điển hình theo khách hàng ở một công ty thương mại
- Tuy mô hình tổ chức bộ phận theo khách hàng ít được sử dụng như một mô
hình duy nhất hoặc như một dạng cơ cấu tổ chức chính, song nó thường sử dụng
cho một tổ chức tổng thể.
Sơ đồ 4: Mô hình tổ chức bộ phận theo khách hàng ở một công ty thương
mại
- Mô hình theo chức năng khách hàng có ưu điểm:
+ Tạo ra sự hiểu biết khách hàng tốt hơn
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---15---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
+ Đảm bảo khả năng chắc chắn hơn là khi soạn thảo các quyết định, khách hàng
sẽ được dành vị trí nổi bật để xem xét
+ Tạo cho khách hàng cảm giác họ có những nhà cung ứng đáng tin cậy
+ Tạo ra hiệu năng lớn hơn trong việc định hướng các nỗ lực phân phối
- Các nhược điểm có thể là:
+ Tranh giành nguồn lực một cách phản hiệu quả
+ Thiếu sự chuyen môn hoá
+ Đôi khi không thích ứng với hoạt động nào khác ngoài marketing
+ Các nhóm khách hàng có thể không phải luôn xác định rõ ràng
Những nhược điểm này có thể được khắc phục một cách đáng kể nếu mô hình tổ
chức theo khách hàng được sử dụng để bổ trợ cho các mô hình khác chứ không
dùng như một mô hình tổ chức chính
1.3.1.5. Mô hình tổ chức theo đơn vị chiến lược ở một ngân hàng lớn
- Khi mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức đã trở nên quá phức tạp, ngăn
cản sự phối hợp, các nhà lãnh đạo cấp cao sẽ tìm cách tạo nên các đơn vị chiến
lược mang tính độc lập cao, có thể tự tiến hành các hoạt động thiết kế, sản xuất
và phân phối sản phẩm của mình. Về thực chất, mô hình tổ chức bộ phận theo
đơn vị chiến lược là biến thể của các mô hình tổ chức bộ phận theo sản phẩm,

cuối thế kỷ XX
1.3.1.6. Mô hình tổ chức theo quá trình
- Tổ chức theo quá trình là phương thức hình thành bộ phận trong đó các hoạt
động được hợp nhóm trên cơ sở giai các giai đoạn của dây chuyền công nghệ.
Cho ví dụ về cách theo quá trình taị một công ty dệt.
- Việc hình thành bộ phận theo quá trình là phương thức khá phổ biến đối với các
tổ chức có dây chuyền hoạt động chặt chẽ, có thể phân chia thành cung đoạn
mang tính độc lập tương đối rất thích hợp với phân hệ sản xuất.
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---17---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
Sơ đồ 6: Mô hình tổ chức bộ phận theo quá trình
1.3.1.7. Mô hình tổ chức theo dịch vụ hỗ trợ tại một công ty sản xuất đa sản
phẩm
- Để thực hiện các hoạt động cơ bản của tổ chức marketing, R&D, tài chính, sản
xuất, cần có các dịch vụ “hậu cần” như thông tin, pháp luật, quan hệ giao dịch,
hỗ trợ giao dịch v.v. Những dịch vụ ấy có thực hiện một cách phi tập trung tại
các bộ phận chính, nhưng cũng có thể được tập hợp lại trong một bộ phận
chuyên môn hoá nhằm mục đích tận dụng lợi thế quy mô hay nâng cao khả năng
kiểm soát.
- Ưu điểm của mô hình này là tiết kiệm được chi phí do lợi thế quy mô của các
hoạt động được chuyên môn hoá và sử dụng được các chuyên gia giỏi với tư
cách những tham mưu.
- Nhược điểm lớn nhất là nguy cơ gây tốn kém nhiều hơn cho các bộ phận được
phục vụ, tạo nên “tính phí hiệu quả của hiệu quả” và có vấn đề trong việc đạt
được dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của các bộ phận được phục vụ. Những
nhược điểm trên có thể khắc phục được nếu những người ở bộ phận dịch vụ hiểu
được rằng nhiệm vụ của họ là hỗ trợ các bộ phận khác thực hiện mục tiêu chung
của tổ chức chứ không phải chỉ là tiết chi phí khi thực hiện các dịch vụ. Có một
cách để đảm bảo rằng mọi người sẽ tỏ ra biết điều hơn khi đòi hỏi sự phục vụ

quyền hạn chia làm ba loại: Quyền hạn trực tuyến, quyền hạn tham mưu và
quyền hạn chức năng, được phân biệt chủ yếu bằng mối quan hệ với quá trình
quyết định.
a. Quyền hạn trực tuyến
- Quyền hạn trực tuyến là quyền hạn cho phép người quản lý ra quyết định và
giám sát trực tiếp đối với cấp dưới. Đó là mối quan hệ quyền hạn cấp trên và cấp
dưới trải dài từ cấp cao nhất xuống tới cấp thấp nhất trong tổ chức, tương ứng
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---19---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
với dây truyền chỉ huy theo nguyên lý thứ bậc. Là một mắt xích trong dây truyền
chỉ huy, mỗi nhà quản lý với quyền hạn trực tuyến có quyền ra quyết định cho
cấp dưới trực tiếp và nhận sự báo cáo từ họ
- Thuật ngữ trực tuyến có thể được hiểu theo nhiều nghĩa. Trong thực tế, trực
tuyến còn được sử dụng dùng chỉ các bộ phận có mối quan hệ trực tiếp với việc
thực hiện các mục tiêu của tổ chức như bộ phận thiết kế sản phẩm và dịch vụ,
sản xuất và phân phối sản phẩm (đòi hỏi cả bộ phận tài chính). Người đứng đầu
bộ phận trực tuyến được gọi là quản lý trực tuyến hay quản lý tác nghiệp.
b. Quyền hạn tham mưu
Bản chất của mối quan hệ tham mưu cố vấn. Chức năng của tham mưu (hay bộ
phận tham mưu) là điều tra, khảo sát, nghiên cứu, phận tích và đưa ra những
những ý kiến tư vấn cho những người quản lý trực tuyến mà họ có trách nhiệm
phải quan hệ (xem sơ đồ 9). Sản phẩm lao động của cán bộ hay bộ phận tham
mưu là những lời khuyên chứ không phải là các quyết định cuối cùng.
Hiện nay vai trò của các tham mưu ngày càng gia tăng cùng với tính phức tạp
ngày càng cao của các hoạt động trong các tổ chức và của môi trường. Dù là
trong doanh nghiệp, cơ quan nhà nước hay các tổ chức khác, những nhà quản lý
khi ra quyết định luôn cần đến kiến thức của các chuyên gia trong các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý, công nghệ v.v. Bên cạnh đó, các tham mưu có
kiến thức chuyên sâu sẽ tiến hành thu thập số liệu, phân tích và đưa ra các

tuyên bố rằng đó là một kế hoạch nghèo nàn. được thai nghén bởi nhà lý thuyết
suông không có kinh nghiệm.
- Suy nghĩ vô căn cứ. Lập luận cho rằng một cương vị tham mưu cho phép người
lập kế hoạch có thời gian phân tích là rất hấp dẫn, Nhưng có thể bỏ qua khả năng
là tham mưu có thể suy nghĩ vô căn cứ bởi vì họ không phải thực hiện những họ
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---21---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
đề xuất. Tính phí thực hiện của các đề xuất của tham mưu thường dẫn đến va
chạm, sự nhụt ý, thậm chí cả sự ngầm phá hoại.
d. Làm công tác tham mưu trở nên có hiệu quả
Mối quan hệ trực tuyến - tham mưu không chỉ là một trong những vấn đề phức
tạp nhất mà các tổ chức phải đương đầu; đó còn là một trong những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng phi hiệu quả. Việc giải quyết hợp lý mối quan hệ này đòi hỏi
kỹ năng quản lý ở trình độ cao với sự tuân thủ các yêu cầu sau đây:
- Nhận thức đúng đắn mối quan hệ quyền hạn. Trực tuyến có nghĩa là ra quyết
định và thực hiện chúng. Ngược lại, mối quan hệ tham mưu lại chứa đựng quyền
hỗ trợ và cố vấn, Trực tuyến có thể ra lệnh, còn tham mưu phải đề xuất những
kiến nghị của mình.
Việc hiểu được mối quan hệ quyền hạn trực tuyến – tham mưu sẽ đặt cơ sở cho
lối sống lành mạnh trong tổ chức. Chủ yếu, nhiệm vụ của các tham mưu là làm
cho những nhà quản lý trực tuyến trở nên “dế coi” và giúp họ làm tốt công việc.
Các tham mưu phải giành và giữ được sự tin cậy của những người cùng cộng tác.
Họ phải có được tiếp xúc chặt chẽ với các bộ phận tác nghiệp và hiểu được mọi
vấn đề của các bộ phận này. Bằng thực tế, họ phải thuyết phục được những đồng
nghiệp trực tuyến của mình rằng mối quan tâm chủ yếu của họ là vì quyền lợi
của người quản lý tác nghiệp. Họ phải khiên tốn nhìn nhận sự đóng góp của
chính mình, khi tô vẽ cho đóng góp của những người mà họ trợ giúp. Những
người ở cương vị tham mưu sẽ thành công trong vai trò của mình một khi những
nhà quản lý viên trực tuyến tìm kiếm sự cố vấn của họ, và yêu cầu họ tìm hiểu

định. Các tham mưu phải là những người đưa ra cách giải quyết vấn đề chứ
không phải người nêu lên hàng núi vấn đề làm rối trí người phải quyết định.
Tham mưu toàn diện bao hàm việc đưa ra được và trình bày rõ ràng phương án
quyết định tối ưu trên cơ sở xem xét đầy đủ vấn đề, làm rõ những khía cạnh có
liên quan, lựa chọn xác đáng những khả năng hành động và phương tiện có thể;
sao cho nhà quản lý có thể chấp nhận hay từ chối đề xuất mà không mất nhiều
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---23---
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Khoa Quản Lý Kinh Tế. K: 35
công nghiên cứu, không phải hội họp nhiều, hay không cần đến công việc không
cần thiết khác. những người ở cương vị tham mưu làm được những điều trên sẽ
tự khẳng định được mình và sẽ được đánh giá cao.
1.3.1.10. Uỷ quyền chức năng cơ cấu trực tuyến - chức năng
- Quyền hạn chức năng là quyền trao cho một cá nhân hay bộ phận được ra quyết
định và kiểm soát những hoạt động nhất định của các bộ phận khác. Nếu nguyên
lý thống nhất mệnh lệnh được thực hiện vô điều kiện, quyền kiểm soát các hoạt
động này chỉ thuộc về những người phụ trách trực tuyến mà thôi. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp, do sự hạn chế về kiến thức chuyên môn, thiếu khả năng
giám sát quá trình, quyền hạn này lại được người phụ trách chung giao cho một
cán bộ tham mưu hay một người quản lý bộ phận nào khác.
- Giao phó quyền hạn chức năng: Ta có thể hiểu rõ hơn quyền hạn chức năng khi
coi đó là một phần quyền hạn của người phụ trách trực tuyến. Ví dụ, một tổng
giám đốc có toàn quyền điều hành công ty, chỉ phụ thuộc vào những hạn chế
được đặt ra bởi các cơ quan quyền hạn cao hơn như hội đồng quản trị và các quy
định của nhà nước. Trong một tình huống tham mưu đơn thuần, những cố vấn về
các vấn đề liên quan đến nhân sự, kế toán, mua sắm hay quan hệ giao dịch không
có chút quyền hạn trực tuyến nào, nghĩa vụ của họ chỉ là đưa ra những lời
khuyên. Những khi tổng giám đốc giao cho những người cố vấn này đưa ra chỉ
thị trực tiếp cho các bộ phận khác, như thấy ở sơ đồ 10, thì quyền đó được gọi là
quyền hạn chức năng.

1.3.2.2. Nhóm các nhân tố thuộc lĩnh vực quản trị
- Quan hệ sở hữu tồn tại trong doanh nghiệp .
- Mức độ chuyên môn hoá và tập trung các hoạt động quản trị, trình độ của cán
bộ có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất lao động của từng cá nhân
Sinh viên: Lê Mạnh Hà
---25---

Trích đoạn Phòng Kỹ thuật Phòng Dự án đầu tư Phòng An toàn chất lượng Trạm nạp LPG Hà Nộ Trạm nạp LPG Nam Định
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status