Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án tại công ty kinh đô - Pdf 89

LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư là một hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo cho việc tồn tại và phát
triển không ngừng của xã hội. Muốn có sự phát triển thì tất cả mọi quốc gia, doanh
nghiệp hay công ty đều phải tiến hành đầu tư. Có thể nói nhờ có hoạt động đầu tư
mà mọi lĩnh vực được phát triển cả về chất và lượng, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh
tế. Các dự án chính là nhịp cầu nối hoạt động đầu tư đến với hiện thực. Thông qua
dự án mà các ý tưởng đầu tư được thể hiện và thực hiện. Tuy nhiên ý tưởng đầu tư
sẽ trở nên bị méo mó, không được phản ánh trung thực nếu như các dự án lập ra
không chính xác, không được kiểm tra cẩn thận. Xuất phát từ lý do đó mà môn thẩm
định dự án ra đời trong đó có thẩm định tài chính dự án. Thẩm định tài chính dự án
là công việc mà không có một dự án nào bỏ qua vì tài chính là một vấn đề sống còn
đối với dự án. Thấy được tầm quan trọng của công tác thẩm định tài chính dự án nên
trong thời gian thực tập tại công ty kinh doanh bất động sản Kinh Đô ( là một công
ty mà hoạt động chủ yếu là đầu tư vào các dự án), em đã chọn đề tài :
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TẠI CÔNG
TY KINH ĐÔ
cho chuyên đề thực tập của mình. Nội dung chuyên đề gồm có 3 phần
chính sau:
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về dự án và thẩm định tài chính dự án.
Phần 2: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án tại công ty
Kinh Đô
Phần 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án tại công ty
Kinh Đô.
Em xin chân thành cảm ơn trước hết là giảng viên TRẦN THỊ THANH TÚ vừa là
cô giáo giảng dạy bộ môn Tài chính doanh nghiệp vừa là giáo viên hướng dẫn em
làm bản chuyên đề thực tập này. Tiếp theo em xin chân thành cảm ơn các thầy cô
giáo khoa Ngân hàng-Tài chính của trường đã cung cấp cho em những kiến thức về
môn thẩm định tài chính dự án để giúp em hoàn thành chuyên đề của mình. Cuối
cùng em xin cảm ơn cán bộ công ty Kinh Đô nói chung và các cán bộ phòng kế toán
tài chính, phòng kinh doanh đầu tư tiếp thị nói riêng đã tạo điều kiện rất thuận lợi và
Trang 1

kết thúc và chịu những hạn chế nói chung là đã cho về nguồn lực( phương
tiện).
Ta cũng thấy rõ các đặc trưng sau đây cho phép nhận dạng một dự
án:
+Mục tiêu dự án.
+Thời gian (Với các giai đoạn khác nhau).
+Đặc thù (Tính độc nhất vô nhị) của dự án.
+Môi trường xung quanh dự án (nhất là phần tiếp giao giữa dự án
với môi trường xung quanh).
Khi nói đến dự án bao gìơ cũng liên quan đến hoạt động đầu tư bởi
Trang 3
lẽ nếu dự án không được đầu tư thì không thể nào tiến hành được. Khi một
doanh nghiệp có dự án thì một điều tất nhiên là doanh nghiệp đó có hoạt
động đầu tư. Đầu tư là hoạt động chủ yếu quyết định sự phát triển và tăng
trưởng của doanh nghiệp. Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động đầu
tư, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kỹ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính,
kinh tế xã hội của nó đòi hỏi khi tiến hành một hoạt động đầu tư cần phải
có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Có nghĩa là mọi hoạt động đầu tư
phải thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu quả mong muốn. Vì ta có thể
nhận thấy:
1.1.2 Vai trò của dự án.
1.1.2.1 Đối với nhà đầu tư.
-Dự án là một căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư quyết định có
nên tiến hành đầu tư hay không.
-Là phương tiện để chủ đầu tư thuyết phục các tổ chức tài chính tài
trợ vốn cho dự án.
-Là cơ sở cho các nhà đầu tư xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi
đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án.
-Là công cụ để tìm kiếm các đối tác liên doanh.
-Là công cụ giúp nhà đầu tư xác định được cơ hội đầu tư tốt, giảm

chế hoạt động và các phương pháp kiểm tra chặt chẽ. Tầm bao của các dự
án này rộng tới mức người quản lý không thể nào đi sâu vào từng chi tiết
trong quá trình thực hiện. Trái lại, nhiệm vụ chủ yếu của người quản lý là,
một mặt thiết lập hệ thống quản lý và tổ chức (Phân chia dự án thành các dự án
bộ phận và phối kết hợp các dự án bộ phận đó) cho phép mỗi cấp thực hiện được
trách nhiệm của mình, và mặt khác đảm nhận các mối quan hệ giữa dự án với bên
ngoài.
Các dự án lớn hiện nay thường mang tính quốc gia hoặc quốc tế.
*Các dự án nhỏ, ngoài những đặc tính ngược lại với các dự án lớn,
như không đòi hỏi kinh phí nhiều, thường nằm trong một bối cảnh sẵn có
hoặc không được ưu tiên. Các nguồn lực huy động chẳng những eo hẹp, mà
thường không có ngay. Mục tiêu và trách nhiệm đôi khi không được xác
định rõ ràng, và những người tham gia không có kinh nghiệm trong hoạt
Trang 5
động dự án. Chủ nhiệm dự án thường kiêm luôn cả việc quản lý dự án ( đối
nội) lẫn việc liên hệ với các chuyên gia bên ngoài (đối ngoại).
Mỗi xí nghiệp, cơ quan ... thường chỉ chủ trì hoặc tham gia vào một
hay vài dự án lớn, trong khi đó có thể có nhiều dự án nhỏ cùng đồng thời
thực hiện.
Về phương diện quản lý, các dự án lớn và các dự án nhỏ, tuy có
những nét chung, nhưng cũng nhiều đặc điểm riêng đòi hỏi phải áp dụng
các phương pháp và công cụ quản lý khác nhau. Các dự án lớn thường đặt
ra nhiều vấn đề về quản lý cần được ngiên cứu và giải quyết. Ngược lại,
các dự án nhỏ cho phép áp dụng một cách đơn giản và công hiệu các
phương pháp định lượng.
1.1.4 Các giai đoạn của dự án.
Dự án được xây dựng và phát triển trong một quá trình gồm nhiều
giai đoạn riêng biệt, song gắn bó chặt chẽ với nhau và đi theo một tiến trình
logic. Ở đây ta phân thành 5 giai đoạn cụ thể là: Xác định dự án, phân tích
và lập dự án, duyệt dự án, triển khai thực hiện, nghiệm thu tổng kết và giải

các nguồn nguyên vật liệu tại chỗ, các quy định và chính sách có liên quan
của Chính phủ, về đặc điểm kinh tế- văn hóa - xã hội của dân cư trong vùng
có liên quan đến dự án.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn phân tích và lập dự án là nghiên
cứu một cách toàn diện tính khả thi của dự án. Tuy vậy, đối với những dự
án có quy mô lớn, thì trước khi thực hiện nghiên cứu khả thi thì nên có
bước nghiên cứu tiền khả thi. Trong bước nghiên cứu này, tất cả mọi
phương diện chuẩn bị và phân tích dự án đều được đề cập tới, song chỉ ở
mức độ chi tiết vừa đủ để chứng minh một cách khái quát rằng, ý đồ dự án
được đề xuất là đúng đắn và việc tiếp tục phát triển ý đồ này là có tiềm
năng. Nghiên cứu tiền khả thi cũng giúp loại bỏ bớt những vấn đề không
cần thiết, cũng như xác định các vấn đề cần đặc biệt chú ý, nhờ đó giúp cho
việc định hướng nghiên cứu và tiết kiệm chi phí chuẩn bị đầu tư vào dự án.
Nghiên cứu khả thi ( còn gọi là lập luận chứng kinh tế kỹ thuật) là
bước nghiên cứu dự án đầy đủ và toàn diện nhất, có nhiệm vụ tạo cơ sở để
chấp thuận hay bác bỏ dự án, cũng như để xác định một phương án tốt nhất
trong số các phương án còn lại. Nghiên cứu khả thi, đúng như tên gọi của
Trang 7
nó, nhằm chứng minh khả năng thực hiện của dự án về tất cả mọi phương
diện có liên quan.
Thiết kế và chỉ đạo nghiên cứu khả thi là một công tác phức tạp đòi
hỏi sự tham gia của nhiều lĩnh vực khác nhau. Phạm vi và thời gian nghiên
cứu khả thi phụ thuộc vào tính chất của dự án: dự án có phức tạp hay
không, đã được nhận thức đến mức độ nào, dự án có tính chất sáng tạo hay
chỉ là lặp lại. Về kinh phí, nghiên cứu khả thi thường chiếm khoảng 5%
toàn bộ chi phí đầu tư của dự án. Thời gian nghiên cứu có thể là một tháng,
hai năm hoặc dài hơn nữa phụ thuộc vào quy mô tính chất của dự án. Kết
thúc nghiên cứu khả thi cũng là hết giai đoạn phân tích và lập dự án.
Thực tế đã xác nhận tầm quan trọng của công tác chuẩn bị và phân
tích dự án. Chuẩn bị tốt và phân tích kỹ lưỡng sẽ làm giảm những khó khăn

giá cả hay do việc thiếu các nguồn vốn cần thiết trong quá trình thực hiện.
Hậu quả là dự án bị trì hoãn, chi phí tăng và trong một số trường hợp quy
mô của dự án bị thu hẹp lại.
+Các hạn chế về mặt quản lý: Phổ biến nhất đối với nhiều dự án
trong các nước đang phát triển là thiếu những cán bộ quản lý giỏi, cơ cấu tổ
chức, phân công trách nhiệm không rõ ràng, sự phối hợp kém hiệu quả giữa
các cơ quan khác nhau tham gia dự án. Những yếu kém trong quản lý
thường gây ra tình trạng chậm trễ khi thực hiện và chi phí vượt mức, giám
sát thiếu chặt chẽ và kém linh hoạt, phản ứng chậm trước những thay đổi
trong môi trường kinh tế- xã hội.
+Các vấn đề kỹ thuật: Thường xuyên phát sinh trong quá trình thực
hiện các dự án do việc cung ứng vật tư, máy móc, thiết bị (gồm cả đất đai)
không thích hợp hay kém chất lượng, hoặc do những sai phạm, khuyết điểm
ngay trong thiết kế ban đầu hoặc do sự tiến bộ không ngừng trong việc áp
dụng công nghệ mới.
+Các biến động chính trị: Những án thực hiện trong một thời gian
dài, có thể vài chục năm, thường phải đối phó với những khó khăn về chính
trị. Không kể tới các biến động hay sự hỗn loạn chính trị, dự án thường
chịu tác động của những thay đổi trong các chính sách kinh tế - xã hội của
Chính phủ, hay do mức độ ưu tiên và ủng hộ của Chính phủ đối với dự án
không còn như trước.
Trang 9
Những khó khăn và biến động thường xảy ra trong giai đoạn thực
hiện dự án, như vậy đòi hỏi các nhà quản lý dự án phải hết sức linh hoạt.
Đồng thời phải thường xuyên đánh giá và giám sát quá trình thực hiện để
kịp thời thấy được vướng mắc khó khăn và đề ra các biện pháp giải quyết
thích hợp, thậm chí xem xét điều chỉnh lại các mục tiêu và phương tiện nếu
cần.
1.1.4.5 Nghiệm thu, tổng kết và giải thể.
Giai đoạn đánh giá nghiệm thu tiến hành sau khi thực hiện xong dự

định rõ phương hướng và quy mô của dự án.
Thẩm định thị trường bao gồm các nội dung sau:
- Thẩm định nhu cầu hiện tại và tương lai về sản phẩm của dự án
trên thị trường dự kiến xâm nhập chiếm lĩnh: Xác định xem ai là khách
hàng tiềm năng, ai là khách hàng mới, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trong hiện
tại và tương lai, mức gia tăng nhu cầu hàng năm về sản phẩm của dự án.
- Thẩm định các nguồn và các kênh đáp ứng nhu cầu: Mức độ đáp
ứng nhu cầu hiện tại, xác định khối lượng sản phẩm của dự án dự kiến bán
ra hàng năm
- Thẩm định các yếu tố về sản phẩm: Chất lượng, giá bán, quy cách,
hình thức trình bày, dịch vụ sau khi bán sản phẩm của dự án…
- Thẩm định các vấn đề về tiêu thụ sản phẩm: Các cơ sở tiếp thị và
phân phối sản phẩm, chi phí cho công tác tiếp thị và phân phối sản phẩm,
kênh phân phối dự kiến ( bán trực tiếp, bán qua các đại lý..), phương thức
thanh toán…
-Xem xét các vấn đề về cạnh tranh: Các đối thủ cạnh tranh, mức độ
cạnh tranh trên thị trường, lợi thế so sánh ( về chi phí sản xuất, kiểu dáng,
chất lượng, giá cả…)và khả năng thắng trong cạnh tranh của sản phẩm dự
án.
- Thẩm định mức độ thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của dự án
trong suốt thời gian tồn tại.
1.2.2.2 Thẩm định kỹ thuật
Trang 11
Là việc phân tích mặt kỹ thuật của dự án. Thẩm định kỹ thuật là
công việc phức tạp, đòi hỏi phải có các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu về
từng khía cạnh kỹ thuật của dự án. Sự đúng đắn trong thẩm định kỹ thuật sẽ
quyết định tính khả thi của dự ánvề mặt kỹ thuật, làm cơ sở để tiếp tục các
bước thẩm định tiếp theo, nhằm đưa ra quyết định đầu tư chính xác cho chủ
doanh nghiêp.
Nội dung của thẩm định kỹ thuật gồm:

- Xác định nguyên vật liệu đầu vào: Nguyên vật liệu đầu vào bao
gồm tất cả các nguyên vật liệu chính và phụ, vật liêu bao bì đóng gói. Đây
là một khía cạnh kỹ thuật quan trọng của dự án.
- Xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng: Nhu cầu năng lượng,
nước, giao thông, thông tin liên lạc.. của dự án phải được xem xét, nó có
ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và chi phí sản xuất hay không.
- Xem xét lựa chọn địa điểm thực hiện dự án: Các khía cạnh về địa
lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ thuật… có liên quan đến sự hoạt
động và hiệu quả h oạt động của dự án.
- Thẩm định kỹ thuật xây dựng công trình của dự án: Tìm các giải
pháp kỹ thuật xây dựng vừa đảm bảo yêu cầu sản xuất sau này, vừa rút
ngắn được thời gian xây dựng công trình, mau chóng đưa công trình vào sử
dụng, vừa đảm bảo chi phí xây dựng công trình phải căn cứ vào yêu cầu về
đặc tính kỹ thuật của máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, cơ sở hạ tầng,
cách tổ chức điều hành, nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu và sản phẩm, về lao
động sẽ sử dụng.
- Thẩm định tiến độ thi công dự án: Việc lập lịch trình thực hiện dự án
phải đảm bảo dự án đi vào hoạt động đúng thời gian dự định.
- Thẩm định vấn đề xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường: Xác
định các chất thải có khả năng gây ô nhiễm môi trường của dự án. Lựa chọn
phương pháp và phương tiện xử lý chất thải căn cứ vào điều kiện cụ thể về
luật bảo vệ môi trường tại địa phương, địa điểm và quy mô hoạt động của
dự án, loại chất thải, chi phí để xử lý chất thải…
1.2.2.3 Thẩm định tổ chức, quản lý dự án.
Là việc phân tích mặt tổ chức, quản lý nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt
động của dự án.
Trang 13
Cần phân tích nội dung sau:
- Xây dựng bộ máy tổ chức, quản lý dự án đảm bảo các nguyên tắc
sau:

tiến độ dự án.
- Xác định các tiêu thức đánh giá kết quả thực hiện dự án: Chỉ tiêu
hiệu qủa sử dụng nguyên vật liệu cho dự án, hiệu quả sử dụng lao
động máy móc…
1.2.2.4 Thẩm định kinh tế - xã hội dự án.
Là đánh giá việc thực hiện dự án có những tác động gì đối với nền
kinh tế và xã hội. Ta phải tiến hành xem xét những lợi ích kinh tế xã hội
ròng do thực hiện dự án đem lại. Lợi ích kinh tế xã hội ròng của dự án là
chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế và xã hội thu được so với các
đóng góp mà nền kinh tế và xã hội đã phải bỏ ra khi thực hiên dự án.
Lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đóng góp của dự án đối với
việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế. Những lợi
ích nàycó thể được xem xét mang tính chất định tính như đáp ứng các mục
tiêu phát triển kinh tế, phục vụ việc thực hiện các chủ trương chính sách
của Nhà nước, góp phần chống ô nhiễm môi trường, cải tạo môi sinh…hoặc
đo lường bằng cách tính toán định lượng như mức tăng thu cho ngân sách,
mức gia tăng số người có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ…
Những chi phí mà xã hội phải bỏ ra cho việc thực hiện dự án cũng được
xem xét trên khía cạnh mang tính chất định tính và định lượng.
Khi thẩm định kinh tế - xã hội dự án cần căn cứ vào các mục tiêu
chủ yếu sau:
 Nâng cao mức sống của dân cư được thể hiện gián tiếp qua các số
liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích
luỹ vốn, mức gia tăng đầu tư, tốc độ phát triển, tốc độ tăng
trưởng…
 Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của dự án vào việc
phát triển các vùng kinh tế, nâng cao đời sống của tầng lớp dân cư
nghèo.
 Gia tăng số lao động có việc làm.
Trang 15

nhà đầu tư và cho cả cộng đồng. Đánh giá được hiệu quả về mặt tài chính
Trang 16
của việc đầu tư nhằm quyết định có nên đầu tư hay không? Nhà nước cũng
căn cứ vào đây để xem xét lợi ích tài chính có hợp lý hay không? Dự án có
đạt được các lợi ích tài chính hay không và dự án có an toàn về mặt tài
chính hay không? Thẩm định tài chính là cơ sở để tiến hành phân tích kinh
tế xã hội.
Thẩm định tài chính dự án đầu tư giúp cho bảo vệ dự án tốt khỏi bị
bác bỏ, ngăn chặn những dự án tồi, góp phần đảm bảo cho việc sử dụng có
hiệu quả vốn đầu tư. ý nghĩa của thẩm định tài chính dự án đầu tư được thể
hiện:
+Giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất.
+Giúp cho cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước đánh giá được tính
phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng lãnh thổ
và của cả nước trên các mặt mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả.
+Giúp cho việc xác định được mặt lợi, mặt hại của dự án trên các
mặt khi đi vào hoạt động, từ đó có biện pháp khai thác các khía cạnh có lợi
và hạn chế các mặt có hại.
+Giúp đỡ các nhà tài chính ra quyết định chính xác về cho vay hoặc
tài trợ cho dự án đầu tư.
+Qua thẩm định giúp cho việc xác định rõ tư cách pháp nhân của
các bên tham gia đầu tư.
Ta có thể thấy sự cần thiết của thẩm định tài chính dự án còn bắt
đầu từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động đầu tư.
Nhà nước với chức năng công quyền của mình sẽ can thiệp vào quá trình
lựa chọn dự án đầu tư. Tất cả các dự án đầu tư thuộc mọi nguồn vốn, mọi
thành phần kinh tế đều phải đóng góp vào lợi ích chung của đất nước. Bởi
vậy trước khi ra quyết định đầu tư hay cho phép đầu tư, các cơ quan có
thẩm quyền của Nhà nước cần biết xem dự án đó góp phần đạt được mục
tiêu của quốc gia hay không? Nếu có thì bằng cách nào và đến mức độ nào.

trình. Vốn lưu động thường bao gồm: Nguyên vật liệu, tiền lương, phụ tùng,
thành phẩm tồn kho, hàng hoá bán chịu, chi phí đột xuất.
Việc xác định đúng chi phí khác như chi phí thành lập, chi phí trả
lãi vay có chú ý đến giá trị thời gian của tiền, chi phí dự phòng… cũng là
yếu tố rất quan trọng trong quyết định bỏ vốn đầu tư.
Trang 18
Các khoản tài chính dài hạn phải trang trải đủ các chi phí đầu tư của
dự án bao gồm vốn cố định và vốn lưu động cần thiết cho việc vận hành
bình thường. Các khoản tài chính có thể huy động dưới dạng vốn cổ phần
và vốn vay dài hạn. Việc giải quyết nhu cầu của dự án không những quyết
định khả năng sinh lợi trong tương lai mà cả những cân đối thu chi của nó.
Bởi vậy, trong quá trình đánh giá dự án, cơ cấu vốn do chủ đầu tư dự tính
sẽ được xét một cách chặt chẽ trên cơ sở xét đoán khả năng sinh lợi trong
tương lai của doanh nghiệp.
Việc xác định đúng lượng vốn cần thiết cho một vòng đời của dự án
là chưa đủ nếu không xem xét đến tiến độ bỏ vốn. Tiến độ bỏ vốn được căn
cứ theo tiến độ triển khai đầu tư dự án, các điều kiện về tạm ứng vốn hoặc
thanh toán khối lượng trong các hợp đồng giao nhận thầu cũng như khả
năng tham gia của các nguồn vốn đầu tư vào dự án.
1.3.2.2 Xem xét các nguồn tài trợ cho dự án, khả năng đảm bảo
vốn từ mỗi nguồn về mặt số lượng và tiến độ.
Các nguồn tài trợ cho dự án có thể là vốn chủ sở hữu, vốn vay và đi
thuê.
Vì vốn đầu tư phải được thực hiện theo tiến độ ghi trong dự án vừa
để đảm bảo tiến độ thực hiện các công việc chung của dự án, vừa tránh ứ
đọng vốn nên các nguồn tài trợ được xem xét không chỉ về mặt số lượng
mà cả thời điểm nhận được tài trợ. Tiếp đó phải so sánh nhu cầu với khả
năng đảm bảo vốn cho dự án từ các nguồn về số lượng và tiến độ. Nếu khả
năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm quy mô của dự án, xem xét lại khía
cạnh kỹ thuật, lao động để đảm bảo tính đồng bộ trong việc giảm quy mô

Ci
CoNPV
)1( +
+−=

Trong đó:
Co:Vốn đầu tư ban đầu
Ci: Luồng tiền ròng dự tính năm thứ i
r : Tỷ lệ chiết khấu
Việc tính toán giá trị hiện tại ròng liên quan đến việc tính toán:
 Dự tính lượng tiền đầu tư ban đầu, tức là luồng tiền tại thời điểm
0. Co là luồng tiền ra nên nó mang dấu âm. Co bao gồm các khoản
đầu tư vào tài sản, tạo ra tài sản của dự án. Nó có thể dưới dạng
tiền sẵn sàng cho dự án hoạt động, tạo ra tồn kho, mua sắm tài sản
cố định. Đó là các khoản chi tiêu cho dự án hoạt động. Trong thực
Trang 20
tế, nó bao gồm các khoản chi tại các thời điểm khác nhau trong
giai đoạn đầu tư của dự án.
 Dự tính các luồng tìên trong thời gian kinh tế của dự án. Đây là
các khoản thực thu bằng tiền trong các năm hoạt động của dự án.
Nó được tính bằng doanh thu ròng trừ đi các chi phí bằng tiền của
từng năm. Các khoản này có thể thu được tại các thời điểm khác
nhau trong năm, nhưng trong tính toán phân tích, người ta thường
giả định các luồng tiền diễn ra vào thời điểm cuối năm.
 Dự tính tỷ lệ chiết khấu. Rất khó để xác định một tỷ lệ chiết khấu
hoàn toàn chính xác. Tỷ lệ chiết khấu là chi phí cơ hội của việc
đầu tư vào dự án mà không đầu tư trên thị trường vốn. Cho đến
nay vần đề tỷ lệ chiết khấu cho dự án vẫn đang là một vấn đề
tranh cãi cho các nhà nghiên cứu, chưa tìm ra được tiếng nói
chung. Tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát rằng tỷ lệ này

của vốn đầu tư vào dự án. Đó chính là tỷ lệ hoàn vốn nội bộ.
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại
ròng của dự án bằng 0.

=
+
+− 0
)1(
i
IRR
Ci
Co
Trong đó:
Co: Vốn đầu tư ban đầu
Ci: Luồng tiền dự tính năm thứ i
IRR : Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ.
Để xác định IRR người ta thường sử dụng phương pháp nội suy
tuyến tính:
)(
)(1
21
121
NPVNPV
rrNPVr
IRR
+
−+
=
Trong đó:
r

của dự án tính bằng tiền.
Khi dự án được lập trong nhiều năm, việc tính toán chỉ tiêu là rất
phức tạp. Đặc biệt loại dự án có các luồng tiền ròng vào ra xen kẽ năm này
qua năm khác, kết quả tính toán có thể cho nhiều IRR khác nhau gây khó
khăn cho việc ra quyết định.
Sử dụng hai chỉ tiêu NPV và IRR để đánh giá dự án có thể đưa tới
cùng một kết luận, đồng thời lại có thể đưa tới hai kết luận trái ngược. Điều
đó tùy thuộc vào các luồng tiền trong tương lai và tỷ lệ chiết khấu. Vì IRR
không đề cập tới độ lớn, quy mô của dự án và không giả định đúng tỷ lệ tái
đầu tư đồng thời để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của dự án đầu
tư, nên chủ đầu tư thường coi trọng chỉ tiêu NPV hơn để đưa ra quyết định
trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa hai chỉ tiêu.
Trang 23
* Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn: Thời gian hoàn vốn của một dự án là
số năm mà tại đó các luồng tiền của dự án được luỹ kế đến một khoản mà
bù đắp được chi phí đầu tư ban đầu.
Công thức như sau:
Vốn đầu tư ban đầu
Thời gian hoàn vốn =
Luồng tiền mỗi năm
Trong công thức thời gian hoàn vốn không đề cập đến giá trị thời gian của
tiền. Nguyên lý thời gian hoàn vốn trong đánh giá dự án có hai hạn chế chủ
yếu sau:
 Bỏ qua giá trị thời gian của tiền: Nguyên lý thời gian hoàn vốn
giả định là luồng tiền nhận được trong tương lai cũng ngang
bằng về giá trị của luồng tiền nhận được trong năm hiện tại.
Trong thực tế, chúng ta cần chiết khấu các luồng tiền trong
tương lai để làm chúng ngang bằng về giá trị với các luồng tiền
hiện tại, bởi vì các luồng tiền có thể được đầu tư để thu được lãi
trong tương lai. Tuy nhiên, trong khi nguyên lý thời gian hoàn

ích - chi phí, là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của các luồng tiền dự án mang lại
và giá trị đầu tư ban đầu. Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị đầu tư sẽ mang
lại bao nhiêu đơn vị giá trị. Nếu PI lớn hơn 1 có nghĩa là dự án mang lại giá
trị cao hơn chi phí và khi đó có thể chấp nhận được. Chỉ số doanh lợi được
tính dựa vào mối quan hệ tỷ số giữa thu nhập ròng hiện tại so với vốn đầu
tư ban đầu.
PI = PV
CFo
Trong đó:
Cfo : Số vốn đầu tư ban đầu
PV: Dòng tiền sau mốc 0
Nếu PI >= 1 cho thấy dự án có chỉ số doanh lợi càng lớn thì hiệu
quả tài chính dự án càng cao, dự án càng hấp dẫn.
Cũng như chỉ tiêu NPV, chỉ tiêu PI cũng rất được quan tâm. Chỉ tiêu
này có quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu NPV , thường cùng đưa tới một quyết
Trang 25

Trích đoạn Các quy định của Nhà nước Quá trình hình thành và phát triển Công tác thẩm định tài chính dự án tại công ty Những kết quả đạt được Một số nguyên nhân dẫn đến những kết quả trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status