Đi tìm bí ẩn lợi nhuận của các ngân hàng
Theo Ngân hàng Nhà nước, “năm 2006 là năm
các ngân hàng thương mại đạt mức sinh lời rất
cao: tỷ lệ lãi ròng trên vốn tự có bình quân 17-
18%. Một số ngân hàng thương mại cổ phần đạt
trên mức 30%” (theo Vneconomy).
Trong điều kiện nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, các ngân hàng thương mại kinh doanh hiệu
quả là điều rất đáng mừng. Tuy nhiên, với vai trò là “hệ tuần hoàn của nền kinh tế”, lợi nhuận ngân
hàng cao có thể do độ “ma sát” lớn, làm tăng chi phí huy động của các doanh nghiệp và ảnh
hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế. Do vậy, việc nhìn sâu thêm vào con số lợi nhuận của các
ngân hàng và những vấn đề liên quan là điều cần thiết.
Quy mô và hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam
So sánh sơ bộ với các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy quy mô của các ngân hàng
Việt Nam hiện còn nhỏ, tỷ lệ giữa dư nợ cho vay và GDP là 75%, tức là bằng một nửa so với bình
quân của toàn thế giới và thấp hơn so với bình quân của các nước Asean năm 2005 (81%). Suất
sinh lời trên tài sản (ROA) bình quân 1% là chấp nhận được nhưng vẫn thấp hơn mức bình quân
chung của thế giới. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có bình quân (ROE) bằng mức bình
quân chung và cao hơn Thái Lan hay các nước Đông Âu một chút (so cùng năm). Nguyên nhân là
do tỷ lệ vốn tự có so với tổng tài sản - một thước đo độ an toàn trong hoạt động - của các NHTM
Việt Nam vẫn còn thấp (xem bảng 1).
Những con số nêu trên chỉ phần nào thể hiện hiệu quả của các ngân hàng. Để có thể nhìn nhận
toàn diện hơn, hai con số không thể thiếu là tỷ lệ lãi biên (NIM = (tổng doanh thu từ lãi - tổng chi
phí trả lãi)/tổng tài sản có sinh lời bình quân) và tỷ lệ thu dịch vụ trên tổng thu nhập từ hoạt động
(còn gọi là tỷ lệ thu phi lãi). Ở các hệ thống ngân hàng phát triển, thường thì tỷ lệ thứ nhất thấp và
tỷ lệ thứ hai cao. Rất tiếc là chúng tôi không có được những tỷ lệ này của cả hệ thống ngân hàng
Việt Nam mà chỉ có số liệu của một vài ngân hàng cụ thể.
Thu nhập ngân hàng - gánh nặng doanh nghiệp
Để có thể xem xét phần nào hiệu quả của các ngân hàng Việt Nam, bài viết dùng số liệu năm 2005
của Ngân hàng Á Châu (ACB), Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (STB), Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam (VCB), Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc (CCB), Ngân hàng UOB của Singapore và bình
quân ngành ngân hàng ở các nước phát triển (NPT) để so sánh (xem bảng 2).
các nước phát triển một chút, trong khi mức độ phát triển lại thấp hơn nhiều, nhưng các nhà đầu
tư dường như lại đang kỳ vọng quá cao vào các ngân hàng Việt Nam. Tỷ số P/E (giá so với thu
nhập trên một cổ phiếu) của các ngân hàng Việt Nam cao đột biến, cao gấp rưỡi so với CCB, gấp
gần 3 lần so với bình quân chung ở các nước phát triển, và gấp hơn bốn lần so với UOB.
Theo ước tính sơ bộ dựa vào kỳ vọng của các nhà đầu tư hiện nay, giá trị hệ thống ngân hàng
Việt Nam hiện nay là khoảng 24 tỉ đô la. Với mức sinh lợi kỳ vọng khoảng 10% (sau khi đã trừ tốc
độ tăng trưởng giả định duy trì ở mức 7% trong ba thập kỷ tới theo mô hình chiết khấu cổ tức của
Gordon), vào năm 2006 tổng lợi nhuận của ngành ngân hàng Việt Nam phải đạt khoảng 2,4 tỉ đô la
(38.000 tỉ đồng), bằng 3,8% GDP. Điều này liệu có thực tế?
Theo số liệu thống kê của một số nước, tổng lợi nhuận của các ngân hàng thương mại chỉ chiếm
khoảng 1% GDP. Giả sử các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ mở rộng hoạt động ra một số
lĩnh vực khác và có tỷ lệ lợi nhuận thu được ở mức tiềm năng là 2% GDP (tức là gấp hơn hai lần
bình quân chung) thì tổng lợi nhuận ở mức tiềm năng vào năm 2006 chỉ khoảng 20.000 tỉ đồng.
Với cùng suất chiết khấu nêu trên, tổng giá trị của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ chỉ vào
khoảng 12,5 tỉ đô la, nhỏ hơn con số 24 tỉ nêu trên rất nhiều.
Để có thể đánh giá chi tiết về lợi nhuận tiềm năng và giá kỳ vọng của các ngân hàng cần có những
nghiên cứu tỉ mỉ hơn. Tuy nhiên, những con số nêu trên đưa đến một số kết luận sơ bộ: Thứ nhất,
so với quy mô nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam còn rất khiêm tốn. Thứ hai, thu nhập của
các ngân hàng chủ yếu có được nhờ vào lãi suất với mức lãi biên cao hơn gần 50% so với mức
bình quân chung. Điều này một mặt tạo ra lợi nhuận khá cao cho các NHTM, nhưng mặt khác đã
đẩy chi phí của các doanh nghiệp lên đáng kể. Và cuối cùng là các ngân hàng Việt Nam có vẻ như
đang được đánh giá cao so với giá trị tiềm năng của nó.
Ghi chú: Trong bài viết này, một số số liệu có vẻ như mâu thuẫn nhau. Nguyên nhân là các nguồn
số liệu với các quy ước tính toán khác nhau.
admin (Theo
Thời báo kinh tế Sài Gòn