BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG TÁC ĐỘNG CỦA THANH KHOẢN ĐỐI VỚI LỢI
NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình
PHẦN MỞ ĐẦU - 1 -
1. Lý do chọn đề tài - 1 -
2. Mục tiêu nghiên cứu - 2 -
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - 2 -
3.1. Đối tượng nghiên cứu - 2 -
3.2. Phạm vi nghiên cứu - 2 -
4. Câu hỏi nghiên cứu - 3 -
5. Phương pháp nghiên cứu: - 3 -
6. Kết cấu của luận văn: - 3 -
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH KHOẢN, RỦI RO THANH
KHOẢN, LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THANH KHOẢN ĐẾN LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG - 4 -
1.1. Lý luận chung về thanh khoản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng - 4 -
1.1.1. Lý luận chung về thanh khoản của ngân hàng - 4 -
1.1.1.1. Khái niệm thanh khoản của ngân hàng - 4 -
1.1.1.2. Đo lường thanh khoản của ngân hàng - 4 -
1.1.2. Lý luận chung về Rủi ro thanh khoản của ngân hàng: - 7 -
2.2.1.3. Tăng trưởng tín dụng cao - 32 -
2.2.1.4. Tỷ lệ cho vay so với nguồn vốn huy động cao - 34 -
2.2.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản các ngân hàng thương mại Việt Nam
giai đoạn 2008-2012 - 35 -
2.2.2.1. Nguyên nhân khách quan - 35 -
2.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan - 37 -
2.3. Thực trạng về lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-
2012 - 41 -
2.3.1. Sự tăng trưởng về quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu - 41 -
2.3.2. Các tỷ số phân tích khả năng sinh lời - 44 -
2.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn
2008-2012: - 46 -
2.4. Tác động của thanh khoản đến lợi nhuận các ngân hàng thương mại Việt Nam giai
đoạn 2008-2012 - 52 -
2.4.1. Kết quả phỏng vấn một số chuyên gia tại Việt Nam - 52 -
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu: - 53 -
2.4.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất - 53 -
2.4.4. Kết quả nghiên cứu: - 54 -
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 - 59 -
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO THANH
KHOẢN VÀ GIA TĂNG LỢI NHUẬN TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM - 60 -
3.1. Định hướng phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2020 - 60 -
3.2. Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản và gia tăng lợi nhuận tại các
ngân hàng thương mại Việt Nam - 62 -
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật - 62 -
BCTC
: Báo cáo tài chính
CSTT
: Chính sách tiền tệ
DN
: Doanh nghiệp
HĐV
: Huy động vốn
NHNN
: Ngân hàng nhà nước
NHTM
: Ngân hàng thương mại
NHTMCP
: Ngân hàng thương mại cổ phần
RRTK
: Rủi ro thanh khoản
TCTD
: Tổ chức tín dụng
TSC
: Tài sản có
TSN
: Tài sản nợ
TTS
: Tổng tài sản
VTC
: Vốn tự có
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới
Trang
Bảng 2.1: Lãi suất huy động không kỳ hạn tháng 3/2011 tại một số NHTM 38
Bảng 2.2: Tổng tài sản và vốn tự có phân theo nhóm các loại hình TCTD năm 2012 43
Bảng 2.3: Tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu của các nhóm ngân hàng giai đoạn 2008-2012 46
Bảng 2.4: Các thông số thống kê mô tả 54
Bảng 2.5: Phân tích tương quan 54
Bảng 2.6: Kết quả kiểm định độ phù hợp của các biến giải thích 55 DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Số lượng các ngân hàng từ năm 2008 đến 6 tháng đầu năm 2013 22
Hình 2.2: Tăng trưởng tín dụng và HĐV trong các năm 2008-2012 23
Hình 2.3: Tỷ lệ tài sản thanh khoản 2008-2012 27
Hình 2.4: Chỉ số chứng khoán thanh khoản 2008-2012 28
Hình 2.5: Tỷ lệ nắm giữ GTCG do NN phát hành của một số NHTM có hội sở tại
TP.HCM 29
Hình 2.6: Lãi suất cơ bản năm 2008-2010 29
Hình 2.7: Tăng trưởng HĐV trong các năm 2008-2012 31
Hình 2.8: Tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2008-2012 32
Hình 2.9: Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giai đoạn 2008-QIII/2012 34
Hình 2.10: Cơ cấu dư nợ phi sản xuất cuối tháng 8/2011 40
Hình 2.11: Cơ cấu dư nợ tín dụng năm 2012 41
Hình 2.12: Tốc độ tăng trưởng TTS và VTC theo loại hình TCTD năm 2012 42
Hình 2.13: Tỷ số ROA của các nhóm ngân hàng giai đoạn 2008-2012 44
Hình 2.14: Tỷ lệ ROE các nhóm ngân hàng giai đoạn 2008-2012 45
Hình 2.15: So sánh cơ cấu cho vay theo loại hình DN của VCB và ACB năm 2012 50
nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam” để nghiên cứu.
- 2 -
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu mong muốn sẽ tìm ra được mối liên hệ giữa tỷ lệ nắm giữ tài sản thanh
khoản với lợi nhuận của ngân hàng, từ đó giúp cơ quan quản lý có những chính sách
điều hành phù hợp; đồng thời giúp nhà quản trị của các ngân hàng có thể cân đối tỷ lệ
nắm giữ tài sản có tính thanh khoản hợp lý để đạt được lợi nhuận mong muốn mà vẫn
đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Thanh khoản của ngân hàng thương mại, tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng
thương mại;
- Mối quan hệ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại
Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu một số chỉ tiêu thanh khoản tác động đến tỷ suất sinh lợi của
các ngân hàng thương mại phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
- Trên cơ sở dữ liệu thu thập được báo cáo tài chính từ năm 2008-2012
1
, tác giả
phân chia hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam thành ba nhóm chính để nghiên
cứu, bao gồm:
Nhóm 1: Nhóm các ngân hàng thương mại có sự chi phối của nhà nước.
Nhóm 2: Nhóm 5 ngân hàng thương mại cổ phần lớn (dựa trên quy mô Vốn điều
lệ và Tổng tài sản) bao gồm NHTMCP Á Châu, NHTMCP Xuất Nhập Khẩu
Việt Nam, NHTMCP Kỹ Thương, NHTMCP Sài Gòn Thương Tín và
NHTMCP Quân Đội.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục hình, danh mục tài
liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia ra làm ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về thanh khoản, rủi ro thanh khoản, lợi nhuận của ngân
hàng và các mô hình nghiên cứu về tác động của thanh khoản đến lợi nhuận ngân
hàng
Chương 2: Thực trạng thanh khoản, lợi nhuận và tác động của thanh khoản đối với
lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012
Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản và gia tăng lợi nhuận đối
với các ngân hàng thương mại Việt Nam
- 4 -
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH KHOẢN, RỦI RO THANH
KHOẢN, LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG VÀ CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ TÁC ĐỘNG CỦA THANH KHOẢN ĐẾN LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG
1.1. Lý luận chung về thanh khoản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng
1.1.1. Lý luận chung về thanh khoản của ngân hàng
1.1.1.1. Khái niệm thanh khoản của ngân hàng
Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để
chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh. Một nguồn vốn được gọi là
có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một
tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hoá thành tiền thấp và
có khả năng chuyển hoá ra tiền nhanh
3
.
Trong thực tế những tài sản có tính thanh khoản cao gồm các giấy tờ có giá như:
Trái phiếu kho bạc, thương phiếu, hối phiếu…những tài sản có tính thanh khoản thấp
như bất động sản, dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị…
Trong trường hợp nguồn cung thanh khoản không đủ để đáp ứng nhu cầu về thanh
khoản, ngân hàng sẽ rơi vào trạng thái thiếu hụt thanh khoản và phải tìm cách huy động
để bổ sung vốn thanh khoản. Thâm hụt thanh khoản xảy ra làm cho ngân hàng mất
những cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận, mất khách hàng khi họ phải đến
ngân hàng khác vay. Từ việc mất khách hàng vay vốn sẽ dẫn đến mất khách hàng tiền
gửi, vì giảm lòng tin của người gửi tiền, khả năng huy động vốn của ngân hàng kém đi.
Trong trường hợp này, nhà quản trị ngân hàng phải đưa ra quyết định ở đâu và thời
điểm nào cần phải bổ sung thanh khoản để đáp ứng nhu cầu với chi phí thấp nhất và
kịp thời nhất. Ngân hàng thường áp dụng các biện pháp như: Sử dụng dự trữ bắt buộc
dư ra, bán dự trữ thứ cấp, vay qua đêm, tái chiết khấu, vay trên thị trường tiền tệ,…
Ngược lại với trạng thái thiếu hụt thanh khoản là thặng dư thanh khoản, lúc này
cung về thanh khoản lớn hơn cầu về thanh khoản, thường xảy ra khi nền kinh tế hoạt
động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa
chọn được nhiều khách hàng để cho vay; do đó, nhà quản trị cần phải đưa ra quyết định
sử dụng nguồn thanh khoản thừa để đầu tư kiếm lời cho đến khi nguồn thanh khoản
này được sử dụng để đáp ứng thanh khoản trong tương lai. Thông thường, ngân hàng
- 6 -
thường sử dụng thanh khoản thừa này để mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán
ra trước đó, cho vay trên thị trường tiền tệ,…
Để đảm bảo khả năng chi trả tức thời tại mọi thời điểm, các ngân hàng phải giám
sát hàng ngày dự trữ thanh khoản của mình. Dự trữ thanh khoản bao gồm cả dự trữ sơ
cấp bằng tiền (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi NHNN, tiền gửi các TCTD khác) và dự trữ thứ
cấp (giấy tờ có giá có đủ điều kiện để tái cấp vốn hoặc tái chiết khấu, hạn mức tín dụng
được cấp bởi tổ chức tài chính khác,…). Đồng thời, các ngân hàng cần xây dựng chính
sách quản lý tài sản để đảm bảo duy trì nguồn vốn ổn định và có tính thanh khoản cao
trong dài hạn.
Theo bộ chỉ số lành mạnh tài chính của IMF được nhiều nước áp dụng, các chỉ số
khả năng thanh toán
5
.
Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không có đủ lượng tiền mặt để đáp ứng
nhu cầu rút tiền tức thì của khách hàng, hoặc không thể thực hiện các cam kết giải ngân
các khoản tín dụng đến hạn như đã cam kết. Khi đó, ngân hàng phải chuyển đổi các tài
sản khác thành tiền mặt, hoặc huy động các nguồn vốn từ bên ngoài với chi phí cao
như vay trên thị trường liên ngân hàng, vay tái chiết khấu,…
Rủi ro thanh khoản là một trong những dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang rơi vào
tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Hậu quả là ngân hàng mất dần các khoản
tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền
gửi mới vì thái độ dè dặt của công chúng đối với ngân hàng, một số ngân hàng thì ở
trong tình thế cho vay một cách miễn cưỡng vì phải huy động vốn với mức lãi suất cao
hơn lãi suất cho vay, làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận của ngân hàng.
1.1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản của ngân hàng
thương mại
Nguyên nhân khách quan:
- Chính sách tiền tệ của NHNN:
Để thực hiện chức năng Ngân hàng trung ương về chính sách tiền tệ, NHNN sử
dụng ba công cụ bao gồm nghiệp vụ thị trường mở, quy định về dự trữ bắt buộc, và áp
dụng lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá của NHTM.
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động của NHNN mua hoặc bán cho NHTM trái
phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc Nhà nước, trái phiếu của chính NHNN. Khi muốn 5
A.Vento (2009)
- 8 - ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động, thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các
tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền phải chi ra để chi trả tiền gửi đến hạn. Do đó, dòng
tiền vào bên tài sản có thường không trùng khít để trang trải dòng tiền ra bên tài sản
nợ. Vậy nên, NHTM luôn phải đối mặt với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh
khoản.
- Biến động lãi suất:
Tiền gửi ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư. Khi lãi suất
trên thị trường tài chính thay đổi, khách hàng gửi tiền có xu hướng rút tiền gửi của họ ở
NHTM có lãi suất thấp và tìm kiếm NHTM khác có lãi suất huy động cao hơn. Trong
khi đó, những khách hàng có nhu cầu tín dụng sẽ tìm cách trì hoãn việc hoàn trả các
khoản nợ đã đáo hạn hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với mức lãi suất đã thỏa
thuận với NHTM có lãi suất thấp, tìm cách trả trước hạn hoặc trì hoãn việc rút vốn vay
với mức lãi suất đã thỏa thuận với NHTM có lãi suất cao. Như vậy, biến động lãi suất
đồng thời ảnh hưởng đến cả tiền gửi và tiền vay tức dòng tiền vào, dòng tiền ra và sau
đó là đến thanh khoản của NHTM.
- Tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi NHTM phải luôn sẵn sàng
đáp ứng cầu thanh khoản:
Đối với lĩnh vực kinh doanh khác (không phải kinh doanh tiền tệ), các doanh
nghiệp có thể trì hoãn nợ với khách hàng, chậm thanh toán với đối tác, thậm chí chủ
động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh,… Nhưng với NHTM kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm, các ngân hàng không thể làm như vậy. Bất kỳ một sự
thiếu hụt nào về thanh khoản đều có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng, và nếu
NHTM không giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng gửi tiền có thể đồng loạt kéo
đến ngân hàng để rút tiền, trạng thái thiếu hụt thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và
NHTM có thể bị phá sản. Mặt khác, trên bảng cân đối kế toán của NHTM, bên tài sản
nợ luôn có một tỷ lệ nhất định các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn
nhưng có thể rút trước hạn. Đây là những tài sản nợ mà NHTM có nghĩa vụ phải trả
- 10 -
- 11 -
các nguồn khác để thanh toán khoản nợ thì chính ngân hàng này cũng phải đối mặt với
rủi ro vỡ nợ. Như vậy, RRTK gắn liền với rủi ro tín dụng.
RRTK là một loại rủi ro quan trọng bậc nhất đối với một tổ chức kinh tế, đặc biệt là
đối với các tổ chức tài chính. Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp, một tổ chức kinh
tế có tài sản rất nhiều, nợ rất ít nhưng hoàn toàn có thể phá sản do yếu tố RRTK này
khi “tính lỏng” của tài sản không bù đắp nổi khả năng thanh toán trong thời điểm đó. Ở
mức nhẹ hơn, rủi ro này có thể gây nên khó khăn hoặc đình trệ hoạt động kinh doanh
của tổ chức đó trong một thời điểm cụ thể.
1.1.3. Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng thương mại
Hệ thống NHTM đóng vai trò cơ bản như là người tạo thanh khoản cho nền kinh tế
thông qua các hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi, cho vay và nhiều hoạt động tài chính
khác. Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán,
tức là phải đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu
cầu thanh toán đột xuất. Rủi ro này có thể dẫn đến phá sản một ngân hàng ngay cả khi
ngân hàng đó vẫn đảm bảo hoạt động có lợi nhuận. RRTK của một ngân hàng không
chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và uy tín của bản thân ngân hàng đó, mà nó
còn có tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, tiềm ẩn khả năng đổ vỡ hệ
thống. Thật vậy, khi một ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, với vai trò
điều tiết vĩ mô, ổn định nền kinh tế, ngân hàng trung ương sẽ hỗ trợ thanh khoản cho
ngân hàng này thông qua các nghiệp vụ của mình, làm gia tăng rủi ro cho cả hệ thống
và gia tăng chi phí cứu trợ. Mặt khác, RRTK có hiệu ứng lan truyền do các ngân hàng
thường vay mượn lẫn nhau. Khi một ngân hàng không đủ khả năng chi trả các khoản
vay nợ sẽ làm ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và từ đó kéo theo sự sụp đỗ của toàn
bộ hệ thống.
Như vậy, đối với bản thân ngân hàng, khi xảy ra RRTK, tùy theo mức độ nghiêm
các hoạt động khác.
Lợi nhuận gộp = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
- 13 -
Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận gộp – Thuế thu nhập
(Thuế thu nhập được Nhà nước quy định theo từng thời kỳ)
Trong đó:
Thu nhập của ngân hàng bao gồm:
- Thu về hoạt động tín dụng (thu lãi cho vay, thu lãi chiết khấu, phí cho thuê tài
chính, phí bão lãnh,…)
- Thu về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ (thu lãi tiền gửi, dịch vụ thanh toán, dịch
vụ ngân quỹ,…)
- Thu từ các hoạt động khác như: thu lãi góp vốn, mua cổ phần; thu về mua bán
chứng khoán; thu về kinh doanh ngoại tệ; …
- Các khoản thu khác bất thường.
Chi phí của ngân hàng bao gồm:
- Chi về hoạt động huy động vốn (trả lãi tiền gửi, trả lãi tiền tiết kiệm, trả lãi tiền
vay, trả lãi kỳ phiếu trái phiếu,…).
- Chi về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
- Chi về các hoạt động khác
- Chi nộp thuế, các khoản phí, lệ phí,…
- Chi về tài sản (khấu hao tài sản cố định, chi sửa chữa tài sản, chi về công cụ dụng
cụ,…)
- Chi dự phòng
- Chi cho nhân viên
- Chi khác
1.2.2. Các chỉ số đo lường lợi nhuận của ngân hàng
Để đánh giá hiệu qủa hoạt động của ngân hàng, người ta thường dùng các chỉ tiêu
ổàả
ốủởữ
ROA = ROE x
ổàả
ốủởữ
Trong đó:
Tỷ số đòn bẩy tài chính =
ổốủởữ
ổàả
Mối quan hệ trên cho thấy, thu nhập của một ngân hàng rất nhạy cảm với phương
thức tài trợ tài sản (sử dụng nhiều nợ hơn hay nhiều vốn chủ sở hữu hơn). Một ngân
hàng có ROA thấp vẫn có thể đạt ROE ở mức cao nếu như sử dụng nhiều nợ (gồm cả
tiền gửi của khách hàng) và sử dụng tối thiểu vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ tài
sản.
- 15 -
1.3. Mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng
Trong quản trị thanh khoản, các ngân hàng hướng đến ba mục tiêu chính: Mục tiêu
thanh khoản, mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu vì sự an toàn của hệ thống.
Thứ nhất, với mục tiêu thanh khoản, nhà quản trị phải biết làm thế nào để đảm bảo
được các yêu cầu, trách nhiệm, nghĩa vụ tài chính sẽ đến hạn trong tương lai và khả
năng đáp ứng nghĩa vụ đó một cách tốt nhất.
Thứ hai, ngành ngân hàng là ngành kinh doanh tiền tệ có tính đặc thù, nhạy cảm,
giữa các ngân hàng có sợi dây liên kết đặc biệt, chỉ một biến động hay bất ổn của ngân
hàng này có thể ảnh hưởng đến các ngân hàng khác, từ đó ảnh hưởng đến sự an toàn