BÁO CÁO THỰC TẬP
Một số giải pháp nhằm hoàn
thiện nghiệp vụ kế toán cho vay
tại chi nhánh Ngân hàng Công
thương Đống Đa - Hà Nội
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Văn Thị Phúc
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
LỜI MỞ ĐẦU.
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại có tác động sâu sắc đối
với đời sống kinh tế- xã hội. Trong các nước phát triển hầu như không có công
dân nào không có quan hệ với ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hoạt
động và dịch vụ của ngân hàng càng đi sâu vào tận cùng ngỏ ngách của nền
kinh tế và đời sống của con người. Mọi công dân đều chịu tác động của ngân
hàng dù họ là khách hàng gửi tiền, một người vay tiền hay
chủ yếu cho ngân hàng, nó là cơ sở, là nền tảng và quyết định đến sự tồn t
ại và
phát triển của từng ngân hàng, đồng thời vừa là công cụ để thúc đẩy nền kinh
tế phát triển.
Nhận thức được vị trí và vai trò vô cùng quan trọng của công tác kế toán
cho vay, trong những năm gần đây các ngân hàng đã chú trọng đến việc cải
tiến và hoàn thiện chế độ hạch toán kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của
khách hàng và thuận tiện cho việc quản lý của ngân hàng. Tuy nhiên, kế toán
cho vay là m
ột khâu rất phức tạp cho nên vẫn còn một số vướng mắc, tồn tại
chưa được hoàn thiện. Sau thời gian học tập và nghiên cứu thực tế tại chi
nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa- Hà Nội, em đã mạnh dạn lựa chọn
và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện
nghiệp vụ kế toán cho vay tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa
- Hà Nội".
Do tính chất ph
ức tạp của nghiệp vụ, thời gian nghiên cứu có hạn, tài liệu
thu thập chưa thực sự đầy đủ, sự hiểu biết còn hạn chế nên bài viết không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất định, vì vậy em rất mong nhận được sự giúp
đỡ quan tâm, góp ý của các thầy cô giáo, cán bộ ngân hàng và các bạn để bài
viết được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Học viện Ngân hàng và
các cán b
ộ ngân hàng Công thương Đống Đa- Hà Nội đã cung cấp những tài
liệu cần thiết và giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Hà Nội, ngày 15/04/2004.
Sinh viên thực hiện:
Văn Thị Phúc.
Chuyên đề tốt nghiệp
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
-Thứ hai: sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Người đi vay
sau khi nhận được vốn tín dụng, họ được chuyển sử dụng giá trị đó để thoã
mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình. Tuy nhiên người đi vay chỉ
được sử dụng trong một thời gian nhất định mà không được quyền sở hữu giá
trị đó.
-Thứ ba: đây là giai đoạn kết thúc một vòng tu
ần hoàn của tín dụng. Sau
khi vốn tín dụng đã hoàn thanh một chu kỳ sản xuất để trở về hình thái tiền tệ
thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay.
Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn
cần đầu tư với người cần vốn để sử dụng.Nhưng thực tế hai người này khó có
th
ể phù hợp với nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng
vốn; hoặc cũng có thể phù hợp được thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, nên để
thoã được nhu cầu của hai người thì cần thiết phải có một người thứ ba đứng ra
tập trung được tất cả số vốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm
lãi.Trên cơ sở
số vốn tập trung được phân phối cho những người cần vốn để sử
dụng dưới hình thức cho vay. Người đó không ai khác chính là tổ chức tín
dụng, trong đó chủ yếu là các Ngân hàng thương mại- người môi giới tài chính
trên thị trường tài chính. Việc các Ngân hàng thương mại tập trung vốn dưới
hình thức huy động và phân phối vốn dưới hình thức cho vay gọi là tín dụng ngân
hàng. Thực hiện chức năng làm trung gian tín dụng trong nề
n kinh tế, các Ngân
hàng thương mại đã góp phần không nhỏ để giải quyết thoả đáng những băn
khoăn của người có vốn và đáp ứng tốt mọi nhu cầu của người cần vốn.
2) Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế
Trong những năm vừa qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền
đảm bảo cân đối thu chi
cho nền kinh tế.
Như vậy, ta thẩy trong xã hội luôn có một số người thừa vốn cần đầu tư
và một số người thiếu vốn muốn đi vay. Song những người này khó có thể trực
tiếp gặp nhau, hoặc có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và không kịp thời. Hoạt
động tín dụng của các ngân hàng thương mại đã thoả mãn những lo lắng của
những ng
ười có vốn và đáp ứng nhu cầu của người cần vốn, có nghĩa là các
ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian nhận tiền gửi từ tất cả các thành
phần kinh tế và cho vay lại các đơn vị, cá nhân trong nền kinh tế. Hay nói cách
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
khác: "tín dụng ngân hàng là chiếc cầu nối để những người có vốn và những
người cần vốn gặp nhau"
2.2)Tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy quá trình tập
trung và điều hoà vốn trong nền kinh tế.
Như trên đã trình bày, thông qua hoạt động "đi vay để cho vay" tín dụng
ngân hàng đã làm nhiệm vụ đưa vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu. Điều này
được thể
hiện ở việc tín dụng thu hút các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi
của các tổ chức, cá nhân để cho vay đầu tư phát triển kinh tế.
Bằng các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và phong phú cúng
với việc thoả mãn thích đáng nhu cầu lợi ích, nhu cầu tiền đột xuất của người
gửi tiên fma các Ngân hàng thương mại đã thu hút được hầu hết các nguồn tiền
nhàn rỗi dù là rấ
t nhỏ từ trong dân chúng tập trung về tay mình và từ đó đáp
ứng được nhu cầu về vốn ngày càng tăng của nền kinh tế, hay nói cách khác
hoạt động tín dụng đã làm nhiệm vụ thông đòng để vốn chảy từ nơi thừa đến
nơi thiếu thông qua việc thực hiện hoạt động đi vay và cho vay. Nhờ đó đã góp
phần cung ứng và điều hoà vốn trong từng doanh nghiệp và toàn bộ
ạch toán kế toán nhằm giám sát mọi hoạt động tài chính
tiền tệ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như vậy thông qua
hoạt động tín dụng mà cụ thể là cho vay, ngân hàng có thể kiểm soát hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho người vay càng có ý thức hơn trong
cơ chế quản lý tài chính, quản lý đồng vốn, qua đó tăng cường củng cố chế độ
hạch toán kế toán thêm vững chắc.
2.4)Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng
hoá, luân chuyển tiền tệ, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông và kiểm soát
lạm phát.
Thông qua hoạt động tín dụng, khối lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng lên
khi thực hiện hoạt động cho vay và ngược lại sẽ giảm xuống khi thực hiện hoạt
động thu nợ, do đó sẽ góp phần điều tiết khối lượng tiền trong toàn b
ộ nền
kinh tế. Ngân hàng sử dụng công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng để làm thay đổi
khối lượng tiền vay, từ đó điều tiết được khối lượng tiền trong nền kinh tế và
kiểm soát được lạm phát, bởi vì tín dụng ngân hàng khi điều tiết được khối
lượng tiền tức là khống chế được khối lượng tiền cần thiết cho nhu cầu trao đổ
i
và lưu thông hàng hoá, nhờ kiểm soát được giá cả. Hay nói cách khác ,việc
đưa tiền vào lưu thông qua tín dụng ngân hàng là con đường hữu hiệu nhất bởi
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
vì khối lượng tiền này đã được đảm bảo bằng một lượng giá trị vật tư hàng hoá
và tránh được lạm phát tiền tệ.
Mặt khác, chúng ta cũng biết rằng Ngân hàng trung ương là cơ quan quản
lý vĩ mô đối với các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, có
nhiệm vụ kiểm tra, khảo sát mọi hoạt động của các tổ chức này nhằm đảm bảo
cho nền kinh tế hoạ
t động an toàn và có hiệu quả. Thông qua hoạt động tín
dụng các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng trung ương có thể biết được
ra sự giao lưu giữa nước ta với các nước khác trên thế giới. Ngoài ra với việc
tín dụng ngân hàng nhận các nguồn tài trợ như ODA, ESAF...từ các nước cấp
tín dụng cũng như các tổ chức tín dụng quốc t
ế với mục đích tài trợ cho nền
kinh tế đã mang lại những kết quả to lớn về kinh tế xã hội đồng thời tăng
cường mối quan hệ tốt đẹp giữa nước ta với các nước trên thế giới.
Tóm lại, tín dụng ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền
kinh tế đất nước.Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn và người
cần vốn
để giải quyết nhu cầu này thoả đáng trong mối quan hệ này, từ đó thúc
đẩy tái sản xuất mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển bền
vững, thông qua tín dụng ngân hàng có thể kiểm soát được khối lượng tiền
cung ứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ.
Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường ch
ế
độ hạch toán kinh doanh, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm
năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh.
II/ VAI TRÒ VÀ NHIỆM VỤ CỦA KẾ TOÁN TRONG VIỆC CẤP
TÍN DỤNG CHO NỀN KINH TẾ.
1) Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của kế toán ngân hàng.
1.1)Khái niệm.
Kế toán ngân hàng là khoa học và cũng là nghệ thuật ghi chép, phân loại,
tổng hợp và giải thích các nghiệp vụ tác động đến tình hình tài chính của các
ngân hàng bằng thước đo tiền tệ nhằm cung cấ
p thông tin về tình hình và kết
quả hoạt động của ngân hàng, làm cơ sở cho việc ra quyết định kinh tế liên
quan đến mục tiêu quản lý kinh doanh và đánh giá hoạt động của ngân hàng.
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
1.2)Vai trò.
hụt về m
ặt số lượng và nâng cao hiệu quả mọi tài sản trong quá trình sử dụng.
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
+ Đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị ngân hàng: kế toán được
tiến hành trên cơ sở hoạt động của các mặt nghiệp vụ như: nghiệp vụ tiền tệ,
tín dụng, thanh toán...do vậy số liệu của kế toán đã phản ánh được kết quả các
mặt hoạt động nghiệp vụ của từng đơn vị cũng như của toàn ngành ngân hàng.
Qua hệ th
ống số liệu này có thể chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những
tồn tại trong quá trình hoạt động, từ đó các nhà lãnh đạo sử dụng nó như là một
công cụ hữu hiệu để chỉ đạo, điều hành, quản trị ngân hàng có hiệu quả.
Như vậy, vai trò to lớn của kế toán ngân hàng là không thể phủ nhận
được. Thông qua các hoạt động của mình, kế toán ngân hàng giúp cho các giao
dịch trong nền kinh tế được tiến hành một cách nhanh chóng, chính xác, kịp
thời hơn. Những số liệu so kế toán ngân hàng cung cấp là những chỉ tiêu thông
tin kinh tế quan trọng giúp cho việc chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh
của ngân hàng cũng như làm căn cứ cho việc hoạch định, thực thi chính sách
tiền tệ quốc gia và chỉ đạo toàn bộ hạot đọng của nền kinh tế, từ đó góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói riêng và của nền
kinh tế nói chung.
1.3)Nhiệm vụ của kế toán ngân hàng.
Để phát huy đầy đủ vai trò của mình, kế toán ngân hàng phải thực hiện
được các nhiệm vụ chính sau đây:
+Kế toán ngân hàng phải ghi nhận, phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời
mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong ngân hàng về các hoạt động : hoạt động
nguồn vốn, sử dụng vốn và các dịch vụ
ngân hàng khác theo đúng pháp lệnh
kế toán thống kê của Nhà nước và các thể lệ chế độ kế toán ngân hàng quy
định. Trên cơ sở đó để bảo vệ an toàn tài sản của bản thân ngân hàng cũng như
cho chính sách tín dụng của ngân hàng.
Kế toán cho vay giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ nghiệp vụ kế toán của
ngân hàng vì kế toán cho vay tham gia trực tiếp vào quá trình vay vốn, mà đ
ây
là nghiệp vụ cơ bản trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
2.1)Khái niệm.
Kế toán cho vay là công việc ghi chép, phản ánh một cách đầy đủ, chính
xác các khoản cho vay, thu nợ, theo dõi dư nợ thuộc nghiệp vụ tín dụng của
ngân hàng, trên cơ sở đó cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý
tín dụng đạt kết quả cao à bảo vệ an toàn tài sản của ngân hàng.
2.2)Vai trò của kế toán cho vay.
Đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và đối với nghiệp vụ
tín dụng nói riêng thì kế toán cho vay có vai trò rấ
t quan trọng, thể hiện là:
+Kế toán cho vay cung cấp cho ngân hàng và các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế và các cá nhân có quan hệ tín dụng với ngân hàng những thông tin có
liên quan đến quá trình cho vay, thu nợ, thu lãi, thời hạn hoàn trả...một cách
kịp thời, chính xác. Qua đó giúp cho lãnh đạo ngan hàng nắm được tình hình cho
vay, dư nợ, doanh số cho vay, thu nợ, thu lãi, và tình hình nợ quá hạn...từ đó có
biện pháp xử lý, chỉ đạo điều hành cho phù hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề
ra: an toàn, lợi nhu
ận và lành mạnh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
+Kế toán cho vay phản ánh tình hình đầu tư vốn vào các ngành kinh tế
đồng thời tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế có đủ vốn để sản xuất kinh
doanh và mở rộng giao lưu hàng hoá. Thông qua kế toán cho vay ngân hàng
có thể biết được phạm vi hoạt động, phương hướng đầu tư của các nhà đầu tư,
theo dõi được hiệu quả sử dụng vốn vay của nhữ
ng nhà đầu tư...để từ đó có
p vụ không thể
thiếu được của nghiệp vụ kế toán Ngân hàng thương mại.
2.3)Nhiệm vụ của kế toán cho vay.
Để phát huy đầy đủ vai trò của mình, kế toán cho vay cần phải thực hiện
tốt các nhiệm vụ sau đây:
+Kế toán cho vay phải xác lập các hồ sơ, chứng từ cho vay một cách hợp
pháp hợp lệ. Kiểm soát để đảm bảo tính hợp lệ của chứng từ kế
toán cho vay,
để đảm bảo các khoản cho vay ra có khả năng thu hồi ngay từ khâu phát tiền
vay. Giám sát tình hình cho vay và thu nợ chặt chẽ, từ đó phản ánh vào sổ sách
thích hợp tình hình cho vay và thu nợ, qua đó giúp cho lãnh đạo ngân hàng có
kế hoạch và phương hướng đầu tư tín dụng ngày càng có hiệu quả.
+Tổ chức ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác các số liệu cho
vay để đảm bảo vốn sản xuất kinh doanh cho các đơn vị, tổ ch
ức kinh tế và cá
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
nhân, tạo điều kiện tăng nhanh vòng quay của vốn tín dụng. Mặt khác, cần
theo dõi chặt chẽ kỳ hạn nợ để hạch toán thu nợ, thu lãi hoặc chuyển nợ quá
hạn kịp thời đảm bảo an toàn tài sản và nâng cao hiệu quả tín dụng, từ đó đảm
bảo quyền lợi cho khách hàng và quyền lợi chính đáng của ngân hàng.
+)Quản lý hồ sơ, chứng từ cho vay chặt chẽ, khoa học
để đảm bảo thu hồi
nợ kịp thời nhằm bảo vệ an toàn tài sản cho ngân hàng. Bởi vì, ngân hàng đầu
tư một khối lượng vốn tín dụng lớn vào các ngành kinh tế, do đó để theo dõi
chặt chẽ kế toán cho vay phải kiểm soát chặt chẽ, kỹ lưỡng các chứng từ có
liên quan đến cho vay, thu nợ nhằm hạch toán kịp thời, đầy đủ tránh thất thoát
vốn của ngân hàng. Đồng thời cũng nh
ờ vậy mà tạo được hình ảnh cho ngân
hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
các tổ chức tín dụng như sau:
- Cho vay từng lần
- Cho vay theo hạn mức tín dụng
- Cho vay theo dự án đầu tư
.
- Cho vay trả góp
- Cho vay hợp vốn.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Các phương thức cho vay khác.
1.1) Phương thức cho vay từng lần:
Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay mà ngân hàng căn
cứ vào từng kế hoạch, phương án kinh doanh, từng khâu hoặc từng loại vật tư
cụ thể để cho vay.
Phương thức cho vay từng lần được áp d
ụng khi cho vay để bổ sung nhu
cầu vốn lưu động thiếu hụt trong sản xuất, đối với những khách hàng sản xuất
kinh doanh không ổn định, nhu cầu vay trả không thường xuyên, có nhu cầu đề
nghị vay vốn từng lần hoặc những khách hàng không có tín nhiệm cao đối với
ngân hàng trong quan hệ tín dụng mà ngân hàng nhận thấy cần phải áp dụng
cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn vay ch
ặt chẽ,
an toàn.
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
Phương thức cho vay từng lần được áp dụng phổ biến trong cho vay ngắn
hạn cũng như cho vay trung dài hạn. Việc cho vay đối với từng khoản vay
riêng biệt không có sự liên hệ, phụ thuộc giữa các món vay của một khách
hàng. Đặc trưng của hình thức cho vay này là mỗi lần vay khách hàng phải ký
kết một hợp đồng tín dụng riêng trong đó có các nội dung như số tiền vay, lãi
Văn Thị Phúc
hợp sẽ dẫn tới vòng quay vốn lưu động của khách hàng lớn hơn vòng quay vốn
tín dụng của ngân hàng ,dẫn tới tình trạng ngân hàng bị khách hàng chiếm
dụng vốn hoặc nếu khách hàng không trả nợ đúng hạn sẽ gây khó khăn cho
ngân hàng trong kế hoạch về nguồn vốn ,do đó ngân hàng phải kiểm soát chạt
chẽ những khách hàng của mình trong việc sử dụng vốn vay của ngân hàng .
1.2) Phương thức cho vay theo hạ
n mức tín dụng.
Phưong thức cho vay theo hạn mức tín dụng là phương thức cho vay ma
việc cho vay và thu nợ căn cứ vào quá trình nhập, xuất vật tư hàng hoá, ngân
hàng cho vay khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn phát sinh để nhập vật tư hàng
hóa và ngân hàng thu nợ khi doanh nghiệp có thu nhập từ việc tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá. Theo phương thức cho vay này khách hàng được ngân hàng
xác định cho một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định để làm căn c
ứ cho việc phát tiền vay.
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thường áp dụng cho các
doanh nghiệp mà trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh họ thường
xuyên có nhu cầu vay trả, tốc độ luân chuyển vốn tín dụng nhanh, có tín nhiệm
với ngân hàng trong quan hệ tín dụng, tức là vay vốn và trả nợ sòng phẳng.
Với phương thức cho vay này, khách hàng và ngân hàng thoả thuận với nhau
căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vố
n giá trị tài
sản thế chấp, nguồn vốn ngân hàng có thể đáp ứng...để xác định một hạn mức
tín dụng trong một thời kỳ nhất định, đồng thời xác định các tài khoản vay, trả
và mức lãi suất từng lần nhận tiền vay. Việc thoả thuận nay phải được ký kết
trong hợp đồng tín dụng.
Khi có nhu cầu, khách hàng chỉ cần lập uỷ nhiệm chi, séc rút tiền mặ
t để
rút tiền nhưng không được rút vượt quá hạn mức tín dụng. Căn cứ vào các
+Nhược đ
iểm: theo phương thức cho vay này, ngân hàng và khách hàng
ký kết một hợp đồng tín dụng trong đó ngân hàng xác định một hạn mức tín
dụng cho khách hàng và được duy trì trong một thời hạn nhất định , tức là
ngân hàng phải luôn duy trì một lượng vốn nhất định để sẵn sàng đáp ứng cho
nhu cầu vay vốn của khách hàng, điều này dễ làm cho ngân hàng mất thế chủ
động về nguồn vốn kinh doanh, gây nên tình trạng ứ đọng vố
n nếu khách hàng
không sử dụng hết hạn mức tín dụng. Hơn nữa, việc tính toán thu nợ, thu lãi
rất phức tạp, phải thực hiện trên nhiều giấy tờ và có thể mỗi loại lại có mức lãi
suất khác nhau. Về phía khách hàng thì không phải lúc nao họ cũng thích sự
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
giám sát rất chặt chẽ của ngân hàng đối với các khoản thu nhập của họ, nhất là
trong những trường hợp họ cần dùng nó vào những mục đích tạm thời nào đó.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay còn gặp nhiều khó khăn về
tư liệu sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý, nguồn tài nguyên, môi trường
pháp lý chưa đồng bộ, các donh nghiệp sản xuất kinh doanh chưa
ổn định...Do
đó, các doanh nghiệp phần lớn không đủ khả năng để thoả mãn các điều kiện
mà phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng đưa ra. Vì vậy, hiện nay các
ngân hàng thương mại chủ yếu áp dụng phương thức chi vay từng lần mà
không áp dụng nhiều theo phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng.
2/ Chứng từ và tài khoản sử dụng trong kế toán cho vay.
2.1) Chứng từ trong kế toán cho vay.
Chứ
ng từ dùng trong ké toán cho vay là những loại giấy tờ có giá trị về
mặt páhp lý để xác định số tiền ngân hàng cho vay và người vay nhận nợ với
ngân hàng, nên từ khâu lập đến khâu kiểm soát, tổ chức bảo quản phải đảm
bảo đúng chế độ. Khi thực hiện kế toán máy thì không thuần tuý dùng chứng
quyền chủ thể cho vay của ngân hàng, chỉ rõ người chịu trách nhiệm nhận nợ
và người cam kết trả nợ gốc và lãi theo đúng hạn cho ngân hàng.
Cán bộ kế toán cho vay là người chịu trách nhiệm thực hiện các công
việc: kiểm tra hồ sơ cho vay theo danh mục quy định và pháp lý của hồ sơ,
hướng dẫn khách hàng làm thủ tục mở tài kho
ản tiền vay, thủ tục phát tiền vay
theo lệnh của giám đốc hoặc người được uỷ quyền, hạch toán các khoản cho
vay, thu nợ, thu lãi, chuyển nợ quá hạn theo chế độ quy định cho từng loại vay
đồng thời lưu giữ hồ sơ, chứng từ theo quy định.
2.2) Tài khoản sử dụng trong kế toán cho vay.
Tài khoản sử dụng trong kế toán cho vay là những tài khoản phản ánh toàn
bộ số tài sản của ngân hàng cho các
đơn vị, tổ chức kinh tế cá nhân vay.Số tài sản
này chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản có của ngân hàng nên bộ phận tài khoản
này có vị trí quan trọng trong bảng cân đối kế toán ngân hàng.
Cụ thể với tài khoản nội bảng.
- Tài khoản 20: "Tín dụng đối với các tổ chức tín dụng trong nước"
- Tài khoản 21: "Cho vay các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước"
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
- Tài khoản 22: "Chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn"
- Tài khoản 23: "Cho thuê tài chính"
- Tài khoản 24: "Bảo lãnh"
- Tài khoản 25: "Cho vay bằng vốn tài trợ, uỷ thác đầu tư.
- Tài khoản 26: "Cầm đồ"
- Tài khoản 27: "Tín dụng khác đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân trong
nước"
- Tài khoản 28: "Nợ khoanh"
Ngoài ra, kế toán cho vay còn sử dụng những tài khoản khác có liên quan
Dư nợ cho vay x Lãi suất cho vay x Số ngày vay
Số lãi phải thu =
30
+ Nếu áp dụng phương pháp dự thu thì hạch toán:
Nợ:Tài khoản lãi cộng dồn dự thu đối với khoản vay đó
Có:Thu lãi nợ cho vay
Khi khách hàng trả lãi thì hạch toán:
Nợ: Tài khoản thích hợp
Có:Tài khoản lãi cộng dồn dự thu.
Nếu đến thời hạn theo quy định mà khách hàng không trả nợ được thì
phải thoái thu lãi cộng dồn và hạch toán ngoại bảng.
Nợ
: Tài khoản thu lãi cho vay
Có: Tài khoản lãi cộng dồn dự thu.
Khi khách hàng trả nợ thì ghi xuất tài khoản lãi chưa thu được.
+ Nếu áp dụng phương pháp thực thu.
Căn cứ số lãi thu được nếu khách hàng trả đúng hạn thì ghi.
Nợ: Tài khoản thích hợp
Có:Tài khoản thu lãi cho vay.
Nếu khách hàng không trả đúng hạn thì ghi nhập tài khoản lãi chưa thu được.
Chuyên đề tốt nghiệp
Văn Thị Phúc
Khi thu được thì ghi xuất tài khoản 941 và hạch toán:
Nợ: Tài khoản thích hợp
Có: Tài khoản lãi cho vay.
- Kế toán giai đoạn thu nợ.
Nếu khách hàng trả nợ đúng hạn thì hạch toán:
Nợ: Tài khoản thích hợp
Có: Tài khoản cho vay của khách hàng.