TRƯỜNG.........................................
KHOA............................................. ĐỀ ÁN
“Kế toán tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp”
LỜI MỞ ĐẦU
1.
Ý
nghĩa và tính cấp thiết của đề tài cần nghiên cứu.
Kể từ năm 1986 cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã bước sang một hướng
mới, đó là chuyển từ nền kinh tế với cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị
trường. Trong bối cảnh như vậy các doanh nghiệp sản xuất đang đứng trước những
thử thách gay gắt của quy luậ
t cạnh tranh. Do vậy trong điều kiện hiện nay, muốn
tồn tại và phát triển được trong sự khắc nghiệt của nền kinh tế thì doanh nghiệp
phải nắm bắt được thị trường, tạo chỗ đứng cho sản phẩm của mình trên thị trường.
tổ chức công tác kế toán tính giá thành sản phẩm. Trên cơ sở đó góp phần hoàn
thiện tổ chức công tác kế toán tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường.
3. Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đề tài nghiên cứu có nội dung chủ yếu sau:
Khái quát cơ sở lý luận về hạch toán tính giá thành sản phẩm nhằm xem xét
đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành, phương pháp tính giá thành.
Nghiên cứu thực tế về tổ chức tính giá thành ở các doanh nghiệp sản xuất
trong nền kinh tế thị trường.
Đề xuất mô hình tính giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý hiện hành.
4.Nội dung c
ủa đề tài gồm 2 chương:
Chươ
ng I: Lý luận chung về kế toán tính giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp.
Chương II
: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tính giá
thành sản xuất của sản phẩm sản xuất . Đ
Đ
ề
ềt
t
à
à
n
n
h
hS
S
ả
ả
n
nX
X
u
u
ấ
ấ
t
tC
C
ủ
ủ
a
a
u
u
ấ
ấ
t
t C
C
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
G I
N
N
H
H
Ữ
Ữ
Ậ
Ậ
N
NC
C
Ơ
ƠB
B
Ả
Ả
N
NV
V
Ề
ỀT
T
Í
Í
N
NP
P
H
H
Ẩ
Ẩ
M
MT
T
R
R
O
O
N
N
G
GC
C
Á
Á
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM
.
1.1. Ý nghĩa của việc tổ chức công tác kế toán tính giá thành sản phẩm
.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều cần phải hiểu rõ về
các quy luật kinh tế như quy luật cạnh tranh , quy luật cung cầu, quy luật giá trị.
Nghĩa là doanh nghiệp phải sản xuất sản phẩm ra phải có chất lượng tốt , giá cả
hợp lý và phù hợp với nhu cầu thị trường. Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp phải coi
trọng công tác tính giá thành s
ản phẩm. Vì giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu
kinh tế quan trọng, chúng phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất. Có làm tốt
công tác này, kế toán mới cung cấp được những thông tin chính xác cho nhà quản
trị doanh nghiệp để tìm ra nguyên nhân và từ đó đa ra quyết định quản lý trong
việc thực hiện tiết kiệm chi phí và hạ giá thành hợp lý. Điều này chỉ có kế toán mới
thực hiện được vì đây là m
ột công cụ quan trọng trong quản lý. Như vậy kế toán
tính giá thành sản phẩm là một phần không thể thiếu được khi thực hiện chế độ
hoạch toán kinh tế.
1.2. Vai trò của kế toán tính giá thành sản phẩm
.
Kế toán có vai trò quan trọng trong công tác tính giá thành sản phẩm. Kế toán
với chức năng ghi chép, tính toán, phản ánh đầy đủ trung thực giám sát một cách
thường xuyên liên tục sự biến động vật tư, tài sản và tiền vốn. Kế toán xác định
thước đo giá trị và thước đo hiện vật để quản lý chi phí, từ đó kế toán có thể cung
cấp những tài liệu cần thiết về những chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuấ
t kinh
I
I
I
IG
G
I
I
Á
ÁT
T
H
H
À
À
N
N
H
HS
S
Ả
Ả
lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá
trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá- tiền tệ ,
không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất
giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
2.2. Phân loại giá thành.
Trong nền kinh tế thị trường, giá thành sản xuất là m
ột phạm trù kinh tế, phản
ánh mức hao phí lao động sản xuất ra sản phẩm hoặc hoàn thành sản phẩm dịch vụ.
Hạ thấp chi phí sản xuất là điều kiện quan trọng để hạ giá thành sản phẩm. Xét về
bản chất, giá thành sản xuất là lượng hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm
hoặc dịch vụ hoàn thành được bằng tiền.
Giá thành vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách
quan của giá thành sả
n phẩm dịch vụ thể hiện ở chỗ nó là sự dịch chuyển giá trị
của những tư liệu sản xuất và sự hao phí lao động sống trong quá trình thực hiện
sản phẩm dịch vụ. Tính chủ quan của giá thành thể hiện ở chỗ: việc tính toán đo
lường hao phí lao động và việc phân bổ các hao phí lao động được thể hiện bằng
tiền cho các đối tượng. Việc tính toán này có chính xác hay còn phụ thu
ộc còn phụ
thuộc rất nhiều vào người làm công tác kế toán ở doanh nghiệp.
Trên góc độ quản lý doanh nghiệp, giá thành sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp, phản ánh chất lượng công tác của doanh nghiệp. Mức hạ giá thành
phản ánh tình hình tiết kiệm các loại vật tư, tiền vốn và tiết kiệm hao phí lao động
của doanh nghiệp.
Trên góc độ kinh tế, giá thành là thước đo chi phí và khả năng tạo ra lợ
i
nhuận của doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì trong điều kiện giá bán không đổi, hạ
giá thành sẽ tăng lợi nhuận và ngược lại.
Để nghiên cứu giá thành được tốt, trước hết phải nghiên cứu đánh giá được
kết cấu giá thành sản phẩm dịch vụ. Kết cấu giá thành sản phẩm là tỷ trọng các
điều chỉnh kế hoạch hoặc hoạch định mức chi phí cho phù hợp.
2.2.2.Phân theo phạm vi phát sinh chi phí.
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản
xuất và giá thành tiêu thụ.
Giá thành sản xuất
( còn gọi là giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh
tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất , chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xưởng sản xuất .
Giá thành tiêu thụ
(hay còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ ):
là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau:
Giá thành Giá thành Chi phí Chi phí
toàn bộ = sản xuất + quản lý + bán hàng
của SP của SP DN
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh
doanh ( lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
Tuy nhiên, do những hạn chế nh
ất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán
hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại
này chỉ còn mang tính học thuật, nghiên cứu.
I
I
I
I
I
P
P
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
GP
P
H
H
Á
Á
P
PT
T
Í
Í
N
NP
P
H
H
Ẩ
Ẩ
M
M
.
3.1. Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm.
Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi
phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị , việc hạch
toán quá trình sản xuất có thể phân thành 2 giai đoạn là giai đoạn xác định đối tư-
ợng tập hợp chi phí và xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm. Về thực chất
xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định thành phẩm , bán thành
phẩm, công việc lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng
đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuy
ền
sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính
giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào đặc điểm qui trình công
nghệ sản xuất( giản đơn hay phức tạp) , vào loại hình sản xuất( đơn chiếc , hàng
loạt), vào yêu cầu và trình độ quản lý, t
ổ chức kinh doanh( cao hay thấp) v.v…
3.2. Xác định phương pháp tính giá thành sản phẩm.
Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng
tính giá thành sản phẩm. Về cơ bản, phương pháp tính giá thành bao gồm các ph-
: Được áp dụng trong những doanh nghiêp mà trong
cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao
động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập
hơp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trinh sản
xuất. Theo phương pháp này, trước hết, kế toán căn cứ vào hệ số qui đổi các loại
sản phẩm về sản ph
ẩm gốc, rồi từ đó , dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành
các loại sản phẩm đã tập hợp để tính giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại
sản phẩm:
Giá thành đơn vị Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm
sản phẩm gốc Tổng số sản phẩm gốc( kể cả qui đổi)
=
Giá thành đơn vị = Giá thành đơn vị * Hệ số qui đổi
sản phẩm từng loại sản phẩm gốc sản phẩm từng loại
Tổng giá thành Giá trị SP Tổng chi phí Giá trị
sản xuất của các = dở dang + SX phát - sản phẩm DD
loại sản phẩm đầu kỳ sinh trong kì cuối kì
Phương pháp tỷ lệ :
Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm
có quy cách , phẩm chất khác nhau như : may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế
tạo( dụng cụ , phụ tùng…) v.v… để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường
tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ
giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất k
ế hoạch( hoặc định mức), kế
toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm cùng loại.
Giá thành thực tế đơn = Giá thành kế hoạch (hoặc định mức) * tỷ lệ chi
3.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong một số loại hình doanh
nghiệp chủ yếu.
Trên cơ sở các phương pháp chung để tính giá thành sản phẩm, kế toán cần
lựa chọn và áp dụng vào từng loại hình doanh nghiệp cho phù hợp với đặc điểm tổ
chức sản xuất , đặc điểm qui trình công nghệ cũng như đối tợng hạch toán chi phí.
=
Sau đây là phương pháp tính giá thành sản phẩm áp dụng trong một số loại hình
doanh nghiệp chủ yếu:
3.3.1. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn.
Doanh nghiệp sản xuất giản đơn thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất
một hoặc một số ít mặt hàng với khối lượng lớn , chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm
dở dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệ
p khai thác than,
quặng , hải sản…; các doanh nghiệp sản xuất động lực ( điện, nước, hơi nước, khí
nén , khí đốt…) Do số lượng mặt hàng ít nên đối tợng hạch toán chi phí sản xuất đ-
ược tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hành sản xuất được mở một sổ (hoặc thẻ)
hạch toán chi phí sản xuất. Công việc tính giá thành thường được tiến hành vào
cuối tháng theo phương pháp trực tiếp (gi
ản đơn) hoặc phương pháp liên hợp.
PHIẾU TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Tên sản phẩm…. Tháng … năm…Đơn vị :… Khoản mục chi phí
CPSXD
D ĐK
CPSX
PSTK
CPSX
vớ
i những đơn đặt hàng đến kì báo cáo cho hoàn thành thì toàn bộ chi phí đã tập
hợp theo đơn đó đều coi là sản phẩm dở dang cuối kì chuyển kỳ sau. Đối với
những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí tập hợp được theo đơn đó chính
là tổng giá thành sản phẩm của đơn và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng
giá thành sản phẩm của đơn chia cho số lượng sản phẩm trong
đơn.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, theo yêu cầu công tác quản lý
cần xác định khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ thì đối với những đơn đặt
hàng chỉ mới hoàn thành một phần , việc xác định sản phẩm dở dang của đơn vị đó
có thể dựa vào giá thành kế hoạch (hay định mức) hoặc theo mức độ hoàn thành
của đơn.
Tổng giá thànhSX = Tổng chi phí SX Vật liệu trả
lại kho
theo đơn đặt hàng tập hợp theo -và phế liệu thu hồi
hoá đơn được nhập kho
3.3.3. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất- kinh doanh phụ.
Hoạt động SX kinh doanh phụ là hoạt động SX kinh doanh mà D N tiến hành
thêm ngoài nhiệm vụ SX kinh doanh chính được giao hoặc đã đăng ký SX kinh
doanh khi thành lập DN. Hoạt động kinh doanh phụ cũng tạo ra sản phẩm , lao vụ
để tiêu thụ. Hoạt động kinh doanh phụ cũ
ng có quá trình kinh doanh như SX kinh
doanh chính nên kế toán kinh doanh phụ cũng tiến hành trình tự kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành SX của sản phẩm như hoạt động kinh doanh
chính và cũng sử dụng các tài khoản kế toán cấp 1 cùng với hoạt động SX kinh
doanh chính( mở tài khoản chi tiết). Sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh
phụ được sử dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất- kinh doanh chính, phần còn lại có
thể cung c
ấp ra bên ngoài. Phương pháp tính giá thành sản phẩm , lao vụ của sản
mới Sản lượng ban đầu - Sản lượng phục vụ bộ phận sản xuất phụ khác
và sản lượng tiêu dùng nội bộ (nếu có) Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch:
Trình tự tính giá thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác thay giá
thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch để tính giá trị phục vụ giữa
các phân xưởng sản xuất - kinh doanh phụ. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho
các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới.
3.3.4. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức.
Trên c
ơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động , vật tư hiện hành và dự
toán về chi phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng
loại sản phẩm. Đồng thời, hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định
mức phát sinh trong quá trình sản xuât sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực
tế phát sinh trong kỳ thành ba loại: Theo định mức, chênh lệch do thay đổi định
mức và chênh lệch so với
định mức. Từ đó, tiến hành xác định giá thành thực tế
của sản phẩm bằng cách.
Giá thành thực = Giá thành định +(-) Chênh lệch do +(-) Chênh lệch so
tế sản phẩm mức sản phẩm thay đổi định mức với định mức
Việc tính toán giá thành định mức được tiến hành trên cơ sở định mức tiên tiến
hiện hành ngày đầu kì ( thường là đầu tháng) .Tuỳ theo tính chất quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản phẩm mà áp dụng các phương pháp tính
giá thành định mức khác nhau (theo sản phẩm hoàn thành, theo chi tiết , theo bộ
phận sản phẩm rồi tổng hợp lại…) Việc thay đổi định mức được tiến hành vào
ngày đầ
u tháng để thuận lợi cho việc thực hiện định mức cũng như việc kiểm tra