1. Khái niệm cấu trúc của tri thức:
a, Khái niệm:
Tri thức đã có từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con người bắt đầu tư duy
thì lúc đó có tri thức. Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, cho đến
những thập kỷ gần đây tri thức và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã
hội mới được đề cập nhiều. Vậy tri thức là gì?
- Khái niệm của triết học về tri thức:
Theo quan điểm của triết học thì tri thức là kết qủa quá trình nhận thức của
con người về thế giới hiện thực, làm tái hiện trong tư tuởng những thuộc tính,
những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức ngôn ngữhoặc
các hệ thống ngôn ngữ khác
- Một số khái niệm khác về tri thức:
Có rất nhiều cách hiểu về tri thức chúng ta có thể tham khảo một số khái niệm
khác như
Tri thức được hiểu là kết quả của nhận thức, là phản ánh trung thực của
thực tiễn vào tư duy của con người, tính đúng đắn của nó thể hiện bằng sự kiểm
nghiệm của thực tế, đồng thời phù hợp với các nguyên lý của lý luận về nhận
thức trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng.
Có thể coi tri thức là sự hiểu biết, sáng tạo và những khả năng, kỹ năng để
ứng dụng nó ( hiểu biết sáng tạo) vào việc tạo ra cái mới nhằm mục đích phát
triển kinh tế- xã hội.
b, Cấu trúc của tri thức:
Tri thức là lĩnh vực rất rộng, có thể xem xét ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác
nhau. Tri thức có thể là tri thức đời thường (còn gọi là tri thức tiền khoa học, tri
thức kinh nghiệm đời thường hoặc có sách viết là tri thức thường nghiệm), tri
thức nghệ thuật và tri thức khoa học (kình nghiệm và lý luận)
1
Hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận tri thức khoa học bao gồm tri thức
kinh nghiệm và tri thức lý luận. Trong đó tri thức kinh nghiệm là trình độ thấp,
còn tri thức lý luận là trình độ cao của tri thức khoa học. Giữa hai trình độ này
các tri thức khoa học có mối quan hệ mật thiết với nhau, làm tiền đề, cơ sở cho
đời, đã có rất nhiều lý thuyết khác nhau về việc hình thành và phát triển của các
sinh vật sống. Cho đến nay, có hai học thuyết chính chưa bị chứng minh là sai
hoàn toàn : Đó là Thuyết Tiến hóa và Thuyết về các biến thể.
Thuyết Tiến hóa chỉ giới hạn trong việc quan sát và nghiên cứu các sinh vật
trong phạm vi Trái đất. Thuyết Tiến hóa không nêu ra và chứng minh được quá
trình hình thành các sinh vật từ các vật thể vô sinh, ngoài các giả thuyết mơ hồ
và vô căn cứ về việc ngẫu nhiên các chất vô cơ kết hợp trong môi trường nước
tạo thành các chất hữu cơ có chứa đựng sự sống, tức là tạo ra mầm mống của các
vật thể hữu sinh. Nhưng đây chỉ là một giả thuyết hoàn toàn không xuất phát từ
một tiền đề hoặc luận điểm nào cả, vì vậy chúng ta không có cơ sở để khẳng
định (đồng thời cũng không có cơ sở để bác bỏ) về việc Tri thức có vai trò gì
trong việc tạo ra sự sống hay không. Tiếp theo đó, xuất phát từ các sinh vật ở
mức thấp nhất là động vật đơn bào và thủy tức, Thuyết Tiến hóa chỉ ra rằng do
có sự đột biến cấu trúc của chuỗi ADN trong gen của các loài sinh vật
[12]
, chúng
sẽ tiến hóa thành những sinh vật có bậc tiến hóa cao hơn, ví dụ từ lớp cá tiến hóa
thành lớp bò sát, từ lớp bò sát tiến hóa thành lớp chim..., và trong lớp động vật
có vú, có một loài vượn đặc biệt tiến hóa thành loài vượn người, rồi thành người
vượn, và cuối cùng thì thành loài người. Đây là một quá trình liên tục, diễn ra
3
không ngừng. Trong thế giới sinh vật trên Trái đất, cho đến nay tất cả các nhà
khoa học đều thừa nhận loài người là loài duy nhất có Tri thức. Điều này có
nghĩa là trong thế giới sinh vật trên Trái đất, trước khi hình thành loài người thì
không có sinh vật có Tri thức, loài vượn mà từ đó hình thành nên vượn người
cũng không có Tri thức, vì vậy trong phạm vi Thuyết Tiến hóa, chúng ta không
thể khẳng định (cũng không thể hoàn toàn bác bỏ) là Tri thức có vai trò gì trong
việc tạo ra loài người hay không.
b, Vai trò của tri thức trong hoạt động thực tiễn cua con người:
- Tri thức giúp con người xác định đúng đắn mục tiêu
người trong quá trình lịch sử.
a, Vai trò của tri thức với chính trị
Về chính trị xã hội nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn
1996-2000 đã có đóng góp tích cực trong phát triển lí luận và tổng kết thực tiễn
xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Khoa học xã hội còn
đóng góp quan trọng và việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban
hành các văn bản dưới luật, các chính sách và hiệp định quốc tế, trong đó có hiệp
định thương mại Việt-Mỹ, khoa học xã hội còn hướng vào giải quyết nhiều vấn
đề cụ thể bức xúc trong thực tiễn phát triển kinh tế xã hội như: Vấn đề toàn cầu
hoá, quốc tế hoá, công nghiệp hoá-hiện đại hoá...
Tri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiến thức. Những người có
tri thức là những người có khả năng tư duy lý luận, khả năng phân tích tiếp cận
vấn đề một cách sát thực, đúng đắn. điều này rất quan trọng, một đất nước rất
5