ĐỀ ÁN MÔN HỌC
"Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của
khẩu hiệu"Tiết kiệm là quốc sách"
Đề tài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của khẩu hiệu “ Tiết kiệm là quốc sách”
1Lời mở đầu
Sản xuất là hoạt động cơ bản của con người. Mọi xã hội muốn tồn tại và phát
triển phải duy trì sản xuất. Nhưng trong những điều kiện, muốn cho sản xuất có hiệu
quả và phát triển nhanh chóng thì sản xuất phải gắn liền với tiết kiệm. Có thể nói, hiện
Chương 1
Cơ sở lý luận của khẩu hiệu: “ tiết kiệm là quốc sách “ 1.1. Khái niệm về tiết kiệm
Khi nói về tiết kiệm thì mỗi nhà kinh tế lại đưa ra khái niệm khác nhau. Nhà
kinh tế học cổ điển Adam Smith trong tác phẩm “ Của cải của các dân tộc “ cho rằng:
“ Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích
luỹ cho quá trình tăng tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng
không có tiết kiệm thì v
ốn không bao giờ tăng lên “
Sang đến thế kỷ 19, C.Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai
khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng.
Để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô đầu tư, một mặt phải
tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở
khu vực I, đồng thời phải sử dụng tiêt kiệm tư
liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở
khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêu dùng trong sinh hoạt ở cả hai khu vực. Như vậy,
con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để táI sản xuất mở rộng là phát triển sản
xuất và thực hành tiết ki
ệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng.
Đúc kết quan điểm của các nhà kinh tế học khác nhau, Hồ Chí Minh đã vận
dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta và đưa ra khái niệm về tiết kiệm: “ Tiết kiệm là
một quy luật, một phương pháp của một chế độ kinh tế, không phải chỉ tiết kiệm khi
Đề tài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của khẩu hiệu “ Tiết kiệm là quốc sách”
3
trọng, khi nào không nên tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu,
Đề tài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của khẩu hiệu “ Tiết kiệm là quốc sách”
4
nhưng việc đáng làm vì ích nước, đồng bào thì tiêu bao nhiêu, tốn bao nhiêu chúng ta
cũng sẵn sàng thực hiện “.
Trong thời điểm hiện nay, với chủ trương “ kích cầu “ của Nhà nước, tuy nhiên
chúng ta phải xem xét và khẳng định rằng không có sự mâu thuẫn giữa việc khuyến
khích tiêu dùng và thực hành tiết kiệm. Tiết kiệm và kích cầu là hai vấn đề gắn bó với
nhau nhưng hoàn toàn khác nhau. Tiết kiệm không có nghĩa là chi ít mà chi đúng và
chi có hiệu quả. Thự
c hành tiết kiệm đồng thời với việc không chấp nhận việc tiêu
dùng xa hoa, lãng phí, cần tiêu 1 mà tiêu 3, cần tiêu 3 lại tiêu 7. Bản thân từng người
lao động, từng doanh nghiệp được Nhà nước ta khuyến khích tiêu dùng để thúc đẩy
sản xuất bởi tiêu dùng là một khâu trong vòng tròn khép kín: sản xuất - lưu thông -
phân phối - tiêu dùng. Đây chính là bản chất của tiết kiệm. Chúng ta hiểu và biết kết
hợp hai vấn đề “ kích cầu “ và tiết kiệm để phát tri
ển sản xuất. Như vậy mới có thể
phát triển kinh tế được.
1.3. Các nguồn tiết kiệm
1.3.1. Tiết kiệm trong khu vực Nhà nước
- Tiết kiệm trong thu chi ngân sách Nhà nước ( NSNN ) :
Khoản này còn được gọi là vốn ngân sách chi cho phát triển kinh tế xã hội. Tiết
kiệm của ngân sách được xác định bằng thu ngân sách trừ đi chi thường xuyên. Tiết
kiệm của ngân sách phụ thuộc vào 3 yếu t
- Tiết kiệm của các tầng lớp dân cư :
Nguồn vốn trong dân luôn là một nguồn rất lớn, và có nhi
ều khả năng tăng
cường huy động để phát triển kinh tế. Cơ sở chủ yếu để huy động nguồn vốn này
chính là tiết kiệm trong dân cư. Nếu các kênh huy động vốn hoạt động có hiệu quả thì
đại bộ phận nguồn tiết kiệm trong dân đó sẽ sẵn sàng tích trữ nguồn tiết kiệm đó dưới
dạng mua vàng, ngoại tệ hoặc các tài sản có giá trị, thay vì gửi chúng vào ngân hàng
Đề tài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của khẩu hiệu “ Tiết kiệm là quốc sách”
6
hay các kênh huy động tài chính khác. Đó sẽ là một sự lãng phí nguồn lực rất lớn đối
với một đất nước còn đang rất khát vốn đầu tư như chúng ta. Có được vốn huy động
rồi , nếu muốn biến chúng thành vốn đầu tư thực hiện, đòi hỏi ngân hàng và các tổ
choc tín dụng phải có những chính sách cho vay hấp dẫn, môi trường đầu tư thuận lợi
đủ sức khuyến khích các doanh nghiệ
p vay vốn để mở rộng sản xuất. Vì thế, tăng
cường thu hút vốn trong dân mà không có các biện pháp khuyến khích đầu tư thì sẽ
dẫn đến tình trạng ứ đọng trong ngân hàng như tình hình của Việt Nam trong những
năm 1996 - 1997.
1.4. Kinh nghiệm của một số nước về vấn đề: “ tiết kiệm là quốc sách “
- Thái Lan: Năm 1997, Thái Lan đang đắm chìm trong cuộc khủng
hoảng tài chính, th
ế giới đã được chứng kiến hình ảnh cảm động người dân Thái lũ
lượt đi quyên góp để cứu ngân khố nước nhà. Có lẽ cũng từ kinh nghiệm đó, lúc này
đang có ngày càng nhiều nhà nghiên cứu, phân tích kinh tế Thái Lan lên tiếng kêu gọi
Chính phủ thực hiện chủ trương tiết kiệm để giải quyết những khó khăn kinh tế - xã
t. Tiền NSNN
không bị biển thủ dẫn tới chi tiêu hợp lý vào các dự án đúng đắn. Nói tóm lại là phải
có tầm nhìn tài chính trong khu vực Nhà nước để tạo ra được số dư tiết kiệm.
Do vậy, cách hiểu coi tiền gửi tiết kiệm chỉ là vấn đề kinh tế có thể giải quyết
đơn thuần bằng biện pháp kinh tế như tỷ lệ lãi suất là cách hiểu sai. Phải huy động tấ
t
cả các lĩnh vực tâm lý, xã hội, hành chính . . . thông qua khu vực Nhà nước, khu vực
tư nhân và nhân dân thì mới có thể giải quyết được vấn đề tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn
cũng như dài hạn. Một ví dụ khác về việc không chỉ dùng biện pháp kinh tế mà phải
kết hợp nhiều lĩnh vực để giải quyết khó khăn là sự ủng hộ của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ
. Tờ báo viết: nhìn chung, người ta quan niệm rằng biện pháp tiền tệ là sự ủng
hộ quan trọng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng thực ra tiền tệ mới chỉ là biện
pháp cần chứ chưa đủ. Tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thái
Lan tuy đã được đáp ứng trong giai đoạn xảy ra khủng hoảng kinh tế nhưng còn có
những
điều khác biến doanh nghiệp nhỏ trở thành mạch máu kinh tế. Đó là kinh
nghiệm và trình độ kinh doanh, bao gồm từ vạch kế hoạch, đánh giá tình hình và triển
vọng lưu thông tiền mặt, tính khả thi của kế hoạch, cho tới vấn đề tài chính, kế toán.
Đề tài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của khẩu hiệu “ Tiết kiệm là quốc sách”
8
- Chilê và Singapore: Hai quốc gia rất thành công trong vấn đề tiền gửi
tiết kiệm. Chilê sử dụng hệ thống tiết kiệm bắt buộc, đòi hỏi trích tiền thu nhập của
mọi cá nhân lao động để thành lập ngân quỹ. Biện pháp này đã trở thành kiểu mẫu
được áp dụng ở khắp thế giới. Singapore cũng áp dụng hình thức tương tự để tạo ngân
quỹ và đem đi đầ
u tư khắp thế giới. Điều này tạo ra ngân quỹ ổn định cho đời sống
Chương 2
Thực trạng về vấn đề thực hành tiết kiệm ở Việt Nam trong
thời gian qua 2.1. Tiết kiệm trong khu vực Nhà nước
2.1.1. Tiết kiệm của NSNN
Như đã nói ở trên, vốn NSNN được huy động nhờ tiết kiệm chênh lệch giữa thu
và chi của ngân sách quốc gia. Tình hình hoạt động ngân sách có thể thấy rõ qua bảng
sau:
Tóm tắt hoạt động ngân sách, giai đoạn 1996 - 2003
Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Thực tính ( tỷ đồng )
Tổng nguồn thu và viện trợ 21 30.7 42.1 53.4 62.4 66.3 68.6 69.5
Đề tài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của khẩu hiệu “ Tiết kiệm là quốc sách”
10
Thu từ thuế 5.5 11.4 16.8 23.4 28.1 28.1 32.1 33.9
Đóng góp của DNNN 11.9 15.3 20.6 21.9 25.9 27.6 27.3 27.3
đầu tư vẫn được
duy trì ở khoảng trên dưới 5.5% ngân sách hàng năm, trong đó tập trung chủ yếu vào
chi cho hạ tầng cơ sở trong nông nghiệp. Mức thâm hụt ngân sách vẫn dừng ở mức
tương đối ổn định, khoảng dưới 1.5% GDP.
Đề tài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của khẩu hiệu “ Tiết kiệm là quốc sách”
11
Tỷ trọng thu ngân sách giảm gần một phần tư so với năm 2000, theo đánh giá
của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, chủ yếu bắt nguồn từ sự giảm sút nguồn thu
từ thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế nhập khẩu. Thu thuế doanh nghiệp giảm là do
hoạt động kém hiệu quả của các DNNN, trong khi các DNTN tiếp tục gặp nhiều khó
khăn trong những năm kể từ năm 2001 trở lạ
i đây. Còn doanh thu thuế nhập khẩu
giảm là do sự chuyển hướng cơ cấu nhập khẩu theo hướng hạn chế nhập hàng tiêu
dùng, đồng thời tỷ trọng nhập khẩu trong GDP cũng giảm dần trong những năm qua.
Điều này cho thấy, để giữ vững nguồn thu cho ngân sách thì việc cải cách hệ thống
thuế, nhất là thành công của thuế VAT sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trọng.
Trong khi nguồn thu ngân sách gi
ảm mạnh từ 23% GDP năm 2000 xuống dưới
mức 18% năm 2003, chính phủ đã theo đuổi một chính sách thận trọng, không cho
phép sự giảm sút nguồn thu ngân sách gây ra sự bất ổn định về ngân sách quốc gia,
mà đã có sự cắt giảm chi tiêu một cách tương ứng. Tuy nhiên, phần lớn sự cắt giảm là
các khoản chi cho dịch vụ kinh tế và chi hành chính. Còn chi đầu tư xây dựng cơ bản
vẫn được duy trì và có sự gia t
ăng chút ít.
Năm 2002 - 2003 cũng là giai đoạn chính phủ mở rộng hình thức đầu tư tín
dụng Nhà nước - một loại ưu đãi tài chính của chính phủ đối với các dự án đầu tư.
thất thoát lãng phí.
2.1.2. Tích luỹ của các DNNN
Như đã nói ở trên, ngu
ồn vốn đầu tư của các DNNN chủ yếu dựa vào phần lợi
nhuận để lại, bổ sung thêm vào nguồn vốn kinh doanh ( tái đầu tư ) của các doanh
nghiệp. Hiện nay, thành phần kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế. Số lượng các doanh nghiệp quốc doanh còn nhiều, tài sản của thành phần kinh tế
này vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản quốc gia. Hoạ
t động kinh doanh của
chúng vẫn nhận được nhiều sự ưu đãi của chính phủ về cấp phát vốn, cho vay ưu đãi,
ưu đãi về thuế . . . Đáng tiếc, hoạt động của các doanh nghiệp này lại rất kém hiệu
quả, do đó tiết kiệm của các doanh nghiệp này để bổ sung vào nguồn vốn đầu tư toàn
xã hội chưa tương xứng với tầm vóc của chúng.
Đề tài: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của khẩu hiệu “ Tiết kiệm là quốc sách”
13
Tình hình tài chính của các DNNN yếu kém
Loại doanh nghiệp Yếu kém Không hiệu quả
Số lượng DNNN 711 1989
Số lao động ( nghìn người ) 183 583
Tổng nợ ( nghìn tỷ đồng ) 19.5 42.5
Nợ ngân hàng ( nghìn tỷ đồng ) 14 29
Vốn Nhà nước ( nghìn tỷ đồng ) 10.2 52.5
Lợi nhuận trước thuế ( nghìn tỷ đồng ) -0.25 5
Nguồn: Bộ Tài chính và Ban Đổi mới Quản lý Doanh nghiệp Trung ương
những doanh nghiệp làm ăn kém
hiệu quả là hướng đi cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng, giảm gánh
nặng tài chính cho ngân sách quốc gia, đồng thời từng bước tạo điều kiện để các
doanh nghiệp có được tích luỹ thực sự từ lợi nhuận do kết quả sản xuất kinh doanh
hiệu quả của chính họ.
2.2. Tiết kiệm trong khu vực t
ư nhân
2.2.1. Tích luỹ của các DNTN
Tỷ trọng đóng góp của khu vực tư nhân trong GDP năm 2000 vào khoảng 51%,
trong đó riêng khu vực tư nhân trong nước ( không kể khu vực tư nhân nước ngoài ) là
41% ( xem bảng dưới ). Trong giai đoạn 1999 - 2002, tuy gặp nhiều trở ngại nhưng
khu vực tư nhân Việt Nam vẫn tăng trưởng 9% một năm, chỉ kém khu vực Nhà nước
có 1%.
Tỷ trọng của khu vực tư nhân trong GDP nă
m 2000 ( % ) Tổng GDP GDP của ngành chế tạo
Khu vực Nhà nước
Các doanh nghiệp Nhà nước 49 54
Khu vực tư nhân
Khu vực đầu tư nước ngoài 10 18
Khu vực đầu tư trong nước 41 28