LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế việt nam trong những năm gần đây có sự phát triển mạnh mẽ về
cả chiều rộng và chiều sâu mở ra nhiều ngành nghề, đa dạng hoá nhiều ngành sản
xuất. trên con đường tham dự WTO các doanh nghiệp cần phải nỗ lực hết mình để
tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao nhằm giới thiệu sang các nước bạn đồng
thời cũng để cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại.
Trong quá trình tổ chức sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp, kế toán được
xem là một công cụ quản lý cần thiết, nó cung cấp thông tin cho giám đốc doanh
nghiệp. Nhờ đó doanh nghiệp có thể xây dựng các kế hoạch hoạt động, lựa chọn
các phương án kinh doanh có hiệu quả. Trong doanh nghiệp thương mại, bán hàng
là một khâu hết sức quan trọng bởi vì bán hàng nhằm mục đích thực hiện giá trị của
hàng hoá và thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Nói cách khác, có bán được hàng
thì doanh nghiệp mới được thị trường chấp nhận, mới có vị trí của mình trên thị
trường. thực hiện tốt quá trình này doanh nghiệp sẽ có điều kiện thu hồi vốn, bù
đắp chi phí, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước, đầu tư phát triển và nâng cao
đời sống cho người lao động.
Trong quá trình thực tập tại văn phòng Hà Nội thuộc công ty TNHH Perfetti
Van Melle (Việt Nam), em đã được tiếp xúc với nhiều phần hành kế toán và hiểu
được tầm quan trọng của vấn đề này nên em lựa chọn đề tài: “Tổ chức công tác kế
toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại văn phòng Hà Nội thuộc công
ty TNHH Perfetti Van Melle (Việt Nam)” để trình bày trong bài luận văn này.
luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
trong doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại văn
phòng Hà Nội
chương III: Một số giải pháp đề xuất về công tác kế toán bán hàng và xác định kết
quả bán hàng tại văn phòng Hà Nội
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP
Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền doanh nghiệp thưởng cho khách hàng
do ngân hàng thanh toán trước hạn, được hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính.
Thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt: Là số thuế tính cho hàng xuất khẩu
hoặc những sản phẩm, hàng hoá chịu thuế TTĐB để ghi giảm dt của những sản
phẩm hàng hoá đó.
Giá vốn hàng bán: Phản ánh toàn bộ chi phí cần thiết để mua số hàng bán
hoặc để sản xuất hàng bán đó. Đối với hoạt động thương mại giá vốn hàng bán là
giá thanh toán hàng mua và toàn bộ chi phí có liên quan đến việc mua hàng.
1.4. Khái niệm kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần và trị giá bán hàng (gồm cả sản phẩm, hàng hoá, bất động sản đầu tư và dịch
vụ, giá thành sản phẩm xây lắp, chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
doanh bất động sản đầu tư), chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả
hoạt động sản xuất, kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động
khác.
1.5. Các khoản thuế phải nộp liên quan đến bán hàng:
Thuế giá trị gia tăng (GTGT): Là thuế gián thu tính trên phần giá trị tăng
thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng và do người tiêu dùng cuối kỳ chịu.
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB): Là loại thuế gián thu tính trên doanh thu của
một số mặt hàng do Nhà nước quy định nhằm thực hiện điều chỉnh của Nhà nước
đối với người tiêu dùng.
Thuế xuất khẩu: là loại thuế tính trên doanh thu của hàng hoá bán ra ngoài
lãnh thổ Việt Nam.
1.6. Chi phí bán hàng (CPBH), chi phí quản lý doanh nghiệp (CPQLDN):
CPBH: Là toàn bộ chi phí liên quan đến phần phục vụ quá trình tiêu thu sản
phẩm, hàng hoá như: (chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân
viên bán hàng, chi phí vật liệu bao bì, chi phí dụng cụ đồ dùng, chi phí khấu hao
TSCĐ, chi phí bảo hành, đóng gói, vận chuyển, chi phí chào hàng, hoa hồng đại lý,
mặt hàng ô tô, xe máy…
Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, giá trị của từng
loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu
kỳ và giá trị của từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trung
bình cũng có thể được tính theo thời kỳ hoặc mỗi khi nhập một lô hàng về phụ
thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Phương pháp nhập trước - xuất trước (FiFo): Theo phương pháp này đặt
trên giả định là hàng tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất
trước và hàng tồn khi còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất cuối
kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất khi được tính theo giá của lô hàng
nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính
theo giá của của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
Phương pháp nhập sau - xuất trước (LiFo): Áp dụng được dựa trên giả định
là hàng mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước và hàng tồn kho còn lại cuối
kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì giá
trị hàng xuất kho được tinh theo giá lô hàng nhập sau hoặc gần sau cuối cùng, giá
trị của lô hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu
kỳ còn tồn kho.
1.8. Phương pháp kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại:
Để quản lý và hạch toán tình hình hàng hoá doanh nghiệp được sử dụng một
trong hai phương pháp:
Phương pháp kê khai thường xuyên (KKTX): Theo phương pháp này mọi
nghiệp vụ nhập, xuất hàng hoá đều được kế toán tổ chức theo dõi, ghi chép nên
phản ánh sự biến động thường xuyên của hàng hoá trong quá trình kinh doanh. Đây
là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp thương mại.
Phương pháp kiểm kê định kỳ (KKĐK): Theo phương pháp này trong kỳ kế
toán chỉ tổ chức theo dõi, ghi chép hàng hoá nhập vào cuối tháng tiến hành kiểm kê
để xác định hàng hoá hiện còn, tính giá rồi từ đó mới xác định giá trị hàng hoá đã
bán trong kỳ theo công thức:
Trị giá hàng hoá
Chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm khi thoả mãn đồng thời 5 điều
kiện:
- Doanh thu đã trao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản
phẩm hoặc hàng hoá cho người mua.
- Doanh nghiệp không còn nắm quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu
hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch BH.
- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch.
2.Mục đích, ý nghĩa của bán hàng:
2.1.Mục đích của bán hàng:
BH nhằm mục đích thực hiện giá trị của hàng hoá thông qua trao đổi, làm
cho quá trình tái sản xuất được thực hiện, giúp cho nền sản xuất và tái sản xuất phát
triển. quá trình này diễn ra thoả mãn mục đích của nền kinh tế xã hội và phục vụ
tiêu dùng, phục vụ nhu cầu thị trường.
Trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá, một mặt doanh nghiệp chuyển
nhượng cho người mua sản phẩm hàng hoá, mặt khác doanh nghiệp thu được ở
người mua lượng giá trị hàng hoá đó. Qua quá trình mua bán, trao đổi nay doanh
nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra, bù đắp được chi phí và có nguồn tích luỹ để mở
rộng kinh doanh.
2.2. Ý nghĩa của bán hàng:
Xét về mặt kinh tế học, BH là một trong bốn khâu của quá trình tái sản xuất
xã hội. Đó là một quá trình lao động kỹ thuật nghiệp vụ phức tạp của doanh nghiệp
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cho xã hội. Chỉ có thông qua BH thì hữu ích của
hàng hoá mới được thực hiện, tạo điều kiện để tái sản xuất xã hội. Việc thúc đẩy
quá trình BH ở doanh nghiệp là cơ sở để thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ ở doanh
nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân.
Xét về mặt xã hội, BH có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng. Thông qua BH các đơn vị kinh doanh có thể dự đoán nhu cầu tiêu
dùng của xã hội đối với từng loại hàng hoá, từ đó các doanh nghiệp sẽ xây dựng
bán cho các đơn vị sản xuất tiếp tục sản xuất
Đặc điểm của phương thức bán buôn: hàng hoá chưa đến tay người tiêu
dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá chưa được thực hiện đầy đủ (hàng hoá
vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông)
Các phương thức bán buôn:
Bán buôn qua kho: Hàng hoá nhập vào kho của doanh nghiệp rồi mới xuất
bán. Bán buôn qua kho có hai hình thức: bán trực tiếp và gửi bán hàng hoá.
Bán buôn vận chuyển thẳng: Là trường hợp hàng hoá bán cho bên mua được
giao thẳng từ kho của bên cung cấp hoặc giao thẳng từ bến cảng nhà ga chứ không
qua kho của công ty. Bên mua sẽ ký hợp đồng với doanh nghiệp, doanh nghiệp căn
cứ vào hợp đồng sẽ chuyển hàng đến giao cho người mua theo địa điểm đã quy
định trước trong hợp đồng. Hàng hoá gửi đi vẫn còn thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp. Khi nào bên mua nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì doanh
nghiệp mới ghi nhận doanh thu.
Bán buôn vận chuyển thẳng có hai hình thức: vận chuyển thẳng có tham gia
thanh toán và vận chuyển thảng không tham gia thanh toán.
3.2.2. Phương thức bán lẻ:
Bán lẻ là giai đoạn cuối cùng của vận động hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi
tiêu dùng. Phương thức bán hàng này có đặc điểm là hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực
lưu thông và bắt đầu đi vào tiêu dùng.
Phương thức bán lẻ chủ yếu là bán hàng thu bằng tiền mặt, và thường thì
hàng hoá xuất giao cho khách hàng và thu tiền trong cùng một thời điểm. Vì vậy
thời điểm tiêu thụ đối với khâu bán lẻ được xác định ngay khi hàng hoá giao cho
khách hàng.
Hiện nay việc bán lẻ thường được tiến hành chủ yếu theo 2 phương thức sau:
Phương thức BH thu tiền trực tiếp: Nhân viên BH trực tiếp thu tiền và giao
hàng cho khách hàng. Cuối ca hoặc cuối ngày nhân viên BH kiểm hàng, kiểm tiền
và lập các báo cáo BH, báo cáo thu ngân và nộp cho kế toán bán lẻ để ghi sổ kế
toán.
Xác định số lượng hàng bán ra trong ca, ngày của từng mặt hàng bằng công thức:
BH trả góp là phương thức BH thu tiền nhiều lần. Người mua sẽ thanh toán
lần đầu tại thời điểm mua. Số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ
tiếp theo và chịu một tỷ lệ lãi xuất nhất định. Thông thường số tiền trả ở các kỳ
bằng nhau, trong đó bao gồm một phần doanh thu gộp và một phần lãi suất trả
chậm.
Theo phương thức trả góp, về mặt hạch toán khi giao hàng cho người mua
thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ.
3.2.5. BH theo phương thức đặt hàng:
Phương thức BH này ngày càng được áp dụng phổ biến do nhu cầu tiêu dùng
ngày càng phong phú của khách hàng. Theo phương thức này thì doanh nghiệp cử
người mang hàng đến tận nhà khách hàng và chi phí đó do khách hàng tự chi trả.
3.2.6. BH theo phương thức đổi hàng:
Theo phương thức này, người mua không trả tiền mà trả bằng vật tư, hàng
hoá. Căn cứ vào hợp đồng hoặc thoả thuận giữa hai bên, số hàng mang đi trao đổi
trên cơ sở ngang giá. Và trong trường hợp này gửi đi coi như đã bán và hàng nhận
về coi như mua.
II. KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG:
1. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:
- Phản ánh đầy đủ và kịp thời chi tiết sự biến động của hàng bán ở tất cả các
trạng thái, hàng đi đường, hàng trong kho, hàng gửi đại lý…nhằm đảm bảo quản lý
hàng hoá ở cả hai chi tiêu hiện vật và giá trị.
- Phản ánh và giám sát tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch BH và kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Quan trọng nhất là chỉ tiêu lợi nhuận thuần về
hoạt động kinh doanh thương mại, kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí.
- Phản ánh chính xác và kịp thời doanh thu BH để xác định kết quả, đôn đốc,
kiểm tra việc thu tiền BH đủ và kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn bất hợp lý.
- Phản ánh và giám sát tình hình thực hiện kết quả hoạt động kinh doanh,
cung cấp số liệu lập quyết toán đầy đủ, kịp thời để đánh giá đúng hiệu quả kinh
doanh cũng như tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước…
2. Kế toán tổng hợp nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả bán hàng:
• TK 642 “Chi phí quản lý doanh nghiệp”: Dung để phản ánh tập hợp và kết
chuyển các chi phí quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí khác liên
quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp.
• TK 3331 “Thuế GTGT phải nộp”: Tài khoản này phản ánh số thuế GTGT đầu
ra, số thuế GTGT đã nộp và số thuế GTGT còn phải nộp.
• TK 911 “Xác định kết quả kinh doanh”: Dùng để xác định toàn bộ kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh và hoạt động khác của doanh nghiệp.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI VĂN PHÒNG HÀ NỘI
I. TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG HÀ NỘI
THUỘC CÔNG TY TNHH PERFETTI VAN MELLE (VIỆT NAM)
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH Perfetti Van Melle
(Việt Nam):
Quá trình hình thành và phát triển của công ty Perfetti Van Melle (Việt
Nam) nói chung cũng như văn phòng Hà Nội nói riêng được xuất phát từ lịch sử
của tập đoàn Perfetti Van Melle
Perfetti do 2 anh em ông Ambrogio Perfetti thành lập tại Ý năm 1946 và Van
Melle do ông Isaak Van Melle thành lập năm 1900 tại Hà Lan. Perfetti và Van
Melle sát nhập thành tập đoàn Perfetti Van Melle từ ngày 15/03/2001.
Perfetti Van Melle là tập đoàn sản xuất kẹo và chewing-gum đứng thứ 3 trên
thế giới và đứng đầu châu Á với:
• 11.400 nhân viên làm việc tại hơn 30 văn phòng và nhà máy sản xuất trên
toàn thế giới
• Sản phẩm có mặt tại hơn 130 quốc gia
• Trụ sở chính tại Lainate (Ý) và Breda (Hà Lan)
Công ty TNHH Perfetti Van Melle (Việt Nam) tên ban đầu là Perfetti Việt
Nam, liên doanh với công ty thực phẩm Sài Gòn (Safoodsco) được phép đầu tư
ngày 22/08/1995. Nhà máy khởi công xây dựng vào tháng 03/1996.Sản phẩm đầu
tiên sản xuất và bán tại Việt Nam là Big Babol (1997).
doanh của văn phòng công ty tại Hà Nội:
Văn phòng Hà Nội có đội ngũ nhân sự gồm 24 người, trong đó 80% có trình
độ đại học cao đẳng, 20% có trình độ trung cấp và hết phổ thông trung học. Do là
công ty kinh doanh trong lĩnh vực thương mại nên bộ máy tổ chức của văn phòng
Hà Nội hết sức tinh gọn.
* Sơ đồ bộ máy tổ chức của văn phòng Hà Nội (sơ đồ 1)
* Về quản lý:
Giám đốc công ty: Chỉ đạo chung mọi hoạt động của công ty, quản lý toàn bộ
công ty và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của công ty
Trưởng phòng kinh doanh: Là người vạch ra mục tiêu định hướng dài hạn của
công ty, xây dựng kế hoạch kinh doanh, tìm kiếm các mối quan hệ kinh tế, hỗ trợ
giám đốc đưa ra quyết định về kinh doanh, chỉ đạo các bộ phận thực hiện tất cả các
nghiệp vụ kinh doanh của công ty, quản lý các bộ phận, các khâu có liên quan đến
hoạt động kinh doanh cụ thể là hoạt động bán hàng.
Kế toán trưởng: Quản lý các hoạt động tài chính - kế toán của công ty, tham
mưu cho giám đốc các kế hoạch về tài chính.
* Về hoạt động kinh doanh:
Phòng kinh doanh: Gồm 4 bộ phận
- Bộ phận Marketing: gồm 2 người thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu thị trường,
khách hàng; xây dựng kế hoạch kinh doanh, kế hoạch quảng bá về công ty.
Từ đó thiết lập các mối quan hệ kinh tế giữa các nhà cung cấp với khách
hàng.
- Bộ phận bán hàng: gồm 3 tổ
+ Tổ bán hàng: gồm 3 người thực hiện các nghiệp vụ bán hàng và
phản hồi thông tin về nhu cầu, ý kiến của khách hàng đối với từng mặt hàng
của công ty, sau đó chuyển thông tin về ý kiến khách hàng về bộ phận
Marketing.
+ Tổ giao hàng: gồm 2 người thực hiện nhiệm vụ giao hàng đến khách
hàng tuỳ số lượng hàng hoá mà thực hiện giao hàng bằng phương tiện tự có
hoặc thuê ngoài.
tài chính kế toán của công ty.
Hình thức kế toán sử dụng: Chứng từ ghi sổ (sơ đồ 2)
Hệ thống sổ kế toán sử dụng :
- Sổ tổng hợp: sổ cái
- Sổ chi tiết (chi tiết các tài khoản có liên quan)
+ Sổ chi tiết thanh toán
+ Sổ chi tiết hàng hoá
+ Sổ chi tiết tiền mặt
+ Sổ chi tiết tiền gửi ngân hàng
+ Sổ quỹ tiền mặt
…
- Bảng kê chứng từ ghi sổ
- Bảng cân đối phát sinh
Hệ thống báo cáo tài chính:
- Bảng cân đối kế toán
- Kết quả hoạt động kinh doanh
- Thuyết minh báo cáo tài chính
- Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
- Quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp
4.2. Bộ máy kế toán:
* Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán (Sơ đồ 3)
Bộ máy kế toán của công ty gồm 4 người.Chức năng và nhiệm vụ từng người:
Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp:
+ Chịu trách nhiệm chung về toàn bộ công tác hạch toán của công ty cụ thể
là chịu trách nhiệm trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh
tế trước Giám đốc và Pháp luật
+ Chỉ đạo, quản lý sử dụng vốn của công ty
+ Chỉ đạo trực tiếp bộ máy kế toán với phân công nhiệm vụ trong phòng kế
toán, kiểm tra đôn đốc công tác hạch toán của từng nhân viên kế toán.
+ Xây dựng kế hoạch tài chính của công ty để tham mưu cho Giám đốc đưa
5. Kết quả hoạt động kinh doanh của văn phòng Hà Nội thuộc công ty TNHH
Perfetti Van Melle (Việt Nam) trong 2 năm 2006 – 2007:
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Đơn vị tính: VNĐ
TT Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008
Chênh lệch
Giá trị %
1 Tổng doanh thu 15.771.982.823 16.938.407.923 1.166.425.100 7,395
2 Các khoản giảm trừ doanh thu 0 2.461 2.461 0
3 Doanh thu thuần 15.771.982.823 19.938.405.462 4.166.422.639 26,416
4 Giá vốn hàng bán 14.843.721.687 15.869.374.233 1.025.652.546 6,906
5 Lợi nhuận gộp 937.261.136 1.069.021.229 131.760.093 14,057
6 Doanh thu hoạt động tài chính 6.442.318 7.329.206 886.888 13,766
7 Chi phí hoạt động tài chính 77.307.816 60.801.096 -16.506.720 -21,350
8 Chi phí bán hàng 154.275.841 158.432.911 4.157.070 2,694
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp 89.297.076 100.938.430 11.641.354 13,036
10 Lợi nhuận thuần từ HĐKD 693.688.219 809.649.888 115.961.669 16,716
11 Kết quả các hoạt động khác 17.297.076 48.928.084 31.631.008 182,869
12 Thu nhập khác 36.740.821 70.324.488 33.583.667 91,406
13 Chi phí khác 19.443.745 21.396.040 1.952.295 10,040
14 Lợi nhuận trước thuế 781.850.792 912.049.862 130.199.070 16,652
15 Thuế thu nhập DN - hiện hành 36.388.422 38.490.512 2.102.090 5,776
16 Thuế thu nhập DN - hoàn lãi 0 0 0 0
17 Lợi nhuận thuần sau thuế 745.462.370 873.559.350 128.096.980 17,183
* Nhận xét về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty:
- Năm 2007 doanh thu tăng 1.166.425.100 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng
7,395% so với năm 2006, cho thấy công ty đã có nhiều cố gắng trong việc tạo uy
tín đối với khách hàng và tìm kiếm khách hàng tiềm năng trong quá trình hoạt động
kinh doanh.
- Giá vốn hàng bán tăng lên là 1.025.652.546 đồng tương ứng với tốc độ
Phương thức bán lẻ: Bán lẻ thu tiền trực tiếp và bán lẻ qua điện thoại (bán
cho siêu thị, cửa hàng, các đại lý)
1.2. Các phương thức thanh toán:
Thanh toán bằng tiền mặt: Đối với ngoại tệ, kế toán phải quy đổi ngoại tệ
thành tiền Việt Nam theo tỷ giá hối đoái hợp lý để ghi sổ kế toán. Khi có nghiệp vụ
phát sinh thì kế toán phải quy đổi thành tiền Việt Nam theo nguyên tắc: tỷ giá hối
đoái nhập vào là tỷ giá bình quân do ngân hàng công bố vào thời điểm thu tiền.
Thanh toán không dùng tiền mặt: Thanh toán qua tài khoản tiền gửi thanh
toán, séc, thư tín dụng…
1.3. Giá vốn hàng bán (giá gốc bán hàng):
Trị giá vốn của hàng xuất kho được tính theo phương pháp giá thực tế đích
danh.Theo phương thức này doanh nghiệp phải biết được các đơn vị hàng hoá tồn
kho và các đơn vị hàng hoá xuất bán thuộc những lần mua vào và dùng đơn giá của
những lần mua đó để xác định trị giá hàng tồn kho cuối kỳ. Việc tính toán được tiến
hàng thường xuyên do đó không gây ảnh hưởng tới công tác quyết toán nói chung
vào cuối tháng.
2. Kế toán chi tiết bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại văn phòng Hà
Nội:
2.1. Chứng từ kế toán và trình tự luân chuyển chứng từ:
Chứng từ kế toán: Chứng từ dùng trong kế toán tiêu thụ hàng hoá gồm có:
Mẫu số 01 GTKL - 3LL Hoá đơn GTGT
Mẫu số 02 GTTT - 3LL Hoá đơn bán hàng thông thường
Mẫu số 06 TML - 3L Hoá đơn thu mua hàng
Mẫu số 07 MTT Hoá đơn bán lẻ
Mẫu số 03 PXK - 3L Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ
Mẫu số 04 HDL - 3LL Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý
Mẫu số 14 BH Bảng thanh toán hàng đại lý ký gửi
Mẫu số 15 BH Thẻ quầy hàng
Trình tự luân chuyển chứng từ: Mọi chứng từ kế toán của công ty (chứng từ
do công ty lập hay chứng từ bên ngoài chuyển đến) đều được kiểm tra cẩn thận và
Doanh thu bán hàng phát sinh trong quý được theo dõi trên sổ chi tiết TK 511
(Biểu số 2). Cuối quý trên cơ sở các sổ chi tiết bán hàng của từng cửa hàng, kế toán
tổng hợp được doanh thu bán hàng toàn Công ty và phản ánh trên NKCT số 8 (Biểu
số 13) - ghi có TK 511. Sổ cái TK 511 (Biểu số 3)
Việc kế toán doanh thu bán hàng ở Công ty không chia thành doanh thu thu
tiền ngay và doanh thu thu tiền sau mà việc kế toán doanh thu đều phải phản ánh
thông qua TK 131 - Phải thu của khách hàng.
VD: Ngày 20/09/2007 Công ty bán 50 thùng kẹo Alpenliebe cho đại lý bánh
kẹo Hoàng Minh, phiếu xuất kho số 355, đại lý Hoàng Minh đã thanh toán bằng
tiền mặt số tiền 32.550.000đ (đã bao gồm thuế GTGT). Kế toán ghi sổ theo định
khoản:
Bút toán ghi ngày 20/09/2004.
Nợ TK 131: 32.550.000đ
Có TK 511: 31.000.000đ
Có TK 333: 1.550.000đ
Bút toán ghi ngày 31/09/2007
Nợ TK 111: 32.550.000đ
Có TK 131: 32.550.000đ
Định khoản này được kế toán theo dõi trên sổ chi tiết TK 511, sổ này làm căn
cứ ghi NKCT số 8. Cuối kỳ kế toán bán hàng cộng sổ NKCT số 8 và xác định tổng
số phát sinh Có TK 511 và đối ứng Nợ các TK liên quan, lấy tổng cộng NKCT số 8
để ghi và sổ cái TK 511 (Biểu số 3)
Kết chuyển cuối quý III/2007
Nợ TK 911: 4.826.110.000đ
Có TK 511: 4.826.110.000đ
Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu:
Các trường hợp ghi giảm doanh thu:
Giảm giá hàng bán: Khi lô hàng xuất bán kém chất lượng, các dịp lễ tết,
khuyến mại, tặng quà
Hàng bán bị trả lại: Ít khi xảy ra do hàng không đúng quy cách phẩm chất
Có TK 521: 3.251.280đ
BT 2: Nợ TK 911: 3.251.280đ
Có TK 511: 3.251.280đ
2.2.2. Kế toán giá vốn hàng bán:
Để phản ánh giá vốn hàng bán, kế toán sử dụng TK 632 - Giá vốn hàng bán và
một số TK khác có liên quan.
Công ty thực hiện theo dõi, phản ánh tình hình nhập xuất kho hàng hoá trên
TK 156 - Hàng hoá.
VD: Ngày 22/09/2004 Công ty xuất bán 30 thùng Happydent white cho đại lý
Dũng Liên với tổng giá vốn là 31.000.000đ
Căn cứ và phiếu xuất kho (Biểu số 4 ), kế toán ghi.
Nợ TK 632: 31.000.000đ
Có TK 156: 31.000.000đ
Định khoản này được kế toán theo dõi trên sổ chi tiết TK 632 (Biểu số 5), sổ
này làm căn cứ ghi NKCT số 8. Cuối kỳ kế toán khoá sổ NKCT số 8 và xác định
tổng số phát sinh nợ trên sổ cái TK 632 (Biểu số 6) và đối ứng có các TK liên quan.
Giá vốn hàng bán được kết chuyển vào cuối quý III/2007 là:
Nợ TK 911: 4.493.600.000đ
Có TK 532: 4.493.600.000đ
2.2.3. Kế toán chi phí bán hàng:
* Tài khoản sử dụng:
- Để kế toán chi phí bán hàng nhằm xác định chính xác chi phí phục vụ cho
việc xác định kết quả kinh doanh trong kỳ, kế toán sử dụng TK 641 - Chi phí bán
hàng để phản ánh.
* Trình tự kế toán:
- Chi phí bán hàng là những chi phí phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm
của Công ty.
VD: Trong tháng 09/2007 kế toán trích lương cho nhân viên bán hàng (trích
theo lương thực tế) số tiền là 25.000.000đ, kế toán ghi như sau:
Nợ TK 641: 25.000.000đ