Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty Cơ khí - Điện thuỷ lợi - Pdf 90

Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
MỤC LỤC
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là không thể tránh khỏi. Các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển được đều phải tìm mọi cách tăng lợi nhuận và mở
rộng thị trường. Không nằm ngoài xu thế chung đó, công ty Cơ khí - Điện thuỷ lợi
cũng đang không ngừng tìm mọi giải pháp để nâng cao lợi nhuận của công ty mình.
Một trong những giải pháp chủ yếu mà công ty đưa ra là phải tìm cách giảm chi phí và
giảm giá thành sản phẩm xây lắp. Để làm được điều đó, đơn vị cần phải quản lý tốt
toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ. Công tác kế toán chi phí sản xuất tính giá thành
chính là một trong những công cụ hữu hiệu, quan trọng nhất để doanh nghiệp có thể
quản lý tốt chi phí, giá thành của toàn bộ các sản phẩm xây lắp trong kỳ. Việc hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không chỉ dừng lại ở việc tính đúng,
tính đủ mà còn phải tính đến việc cung cấp thông tin cho quản lý doanh nghiệp. Đây
chính là đòi hỏi khách quan của công tác quản lý. Vì vậy công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm phải không ngừng được cải tiến và hoàn thiện hơn
nữa.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất, tính giá
thành trong doanh nghiệp, qua thời gian học tập tại nhà trường và thực tập tại công ty
Cơ khí - Điện thuỷ lợi cùng với sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS.Nguyễn Thị Đông em
đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại công ty Cơ khí - Điện thuỷ lợi” để làm để tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
Trong bài viết này, em xin trình bày theo 3 phần chính như sau:
Phần I: Lý luận chung về công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành trong các doanh nghiệp xây lắp

đang tồn tại các tổ chức xây lắp như: Tổng công ty, công ty, xí nghiệp, đội xây
dựng… thuộc các thành phần kinh tế. Tuy các đơn vị này khác nhau về quy mô sản
xuất, hình thức quản lý nhưng các đơn vị này đều là những tổ chức nhận thầu xây lắp.
Sản phẩm xây lắp có đặc điểm riêng biệt với các ngành sản xuất khác và có ảnh hưởng
đến tổ chức kế toán.
+ Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc… có quy mô
lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu
dài… Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp nhất
thiết phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công) quá trình sản xuất xây lắp
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải
mua bảo hiểm cho công trình xây lắp.
+ Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận
với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không
thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán sản phẩm xây lắp cso trước
khi xây dựng thông qua hợp đồng giao thầu…)
+ Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy,
thiết bị thi công, người lao động…) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc
điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do
ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát hư hởng…
+ Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn
giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về kỹ
thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi
giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra
ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt…
Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ sao cho đảm bảo chất
lượng công trình đúng như thiết kế, dự toán, các nhà thầu phải có trách nhiệm bảo
hành công trình (chủ đầu tư giữ lại một tỷ lệ nhất định trên giá trị công trình, khi hết

ngành sản xuất, XDCB mang những nét đặc thù riêng biệt như đã nêu trên.Chính vì
vậy, trong quá trình đầu tư, công tác quản lý đầu tư XDCB phải đảm bảo được một số
yêu cầu cơ bản như sau:
+ Công tác quản lý đầu tư XDCB phải đảm bảo tạo ra những sản phẩm dịch vụ
được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả, chất lượng, đáp ứng mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội trong từng tời kỳ
+ Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong và
ngoài nước
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
+ Xây dựng phải theo quy hoạch được duyệt, thiết kế hợp lý, tiên tiến, thẩm
mỹ, công nghệ hiện đại, xây dựng đúng tiến độ đạt chất lượng cao với chi phí hợp lý
và thực hiện bảo hành công trình
Ở nước ta trong nhiều năm qua, do việc quản lý vốn đầu tư trong lĩnh vực
XDCB chưa thật chặt chẽ đã để xảy ra tình trạng thất thoát vốn đầu tư và kéo theo đó
là hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng khác… Từ thực trạng đó, Nhà nước đã thực
hiện quản lý xây dựng thông qua việc ban hành các chế độ, chính sách về giá, các
nguyên tắc, các phương pháp lập dự toán, các căn cứ định mức kinh tế - kỹ thuật… Từ
đó xác định tổng mức Vốn đầu tư, tổng dự toán công trình… nhằm hạn chế sự thất
thoát vốn đầu tư của Nhà nước, nâng cao hiệu quả cho quá trình đầu tư.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, cạnh tranh diễn ra gay gắt đòi hỏi tất cả các
doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để nâng cao chất lượng và giảm giá thành
sản phẩm. Trước yêu cầu đó, mục tiêu hàng đầu mà các doanh nghiệp đề ra là phải
tăng cường quản lý kinh tế mà trước hết là quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm.
1.1.2.2. Nhiệm vụ của công tác quản lý hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp
Để đáp ứng được yêu cầu trong việc quản lý đối với công tác hạch toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp, kế toán ngành phải

một cách khoa học và thống nhất có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác kế toán
chi phí xây lắp và tính giá thành sản phẩm xây lắp và công tác kiểm tra, phân tích chi
phí xây lắp của toàn bộ doanh nghiệp. Tuỳ theo yêu cầu quản lý, đối tượng cung cấp
thông tin, giác độ xem xét mà chi phí xây lắp được phân loại theo các cách sau:
* Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí (phân loại theo
yếu tố chi phí)
Theo cách phân loại này, chúng ta chỉ xét đến nội dung, tính chất kinh tế của
chi phí mà không quan tâm đến việc chi phí đó phát sinh trong lĩnh vực nào, ở đâu,
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
mục đích và tác dụng của chi phí đó như thế nào. Toàn bộ chi phí được chi tiết làm 7
yếu tố như sau:
- Chi phí nguyên, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệu chính, vật
liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… sử dụng vào sản xuất – kinh doanh
(loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồì).
- Chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong
kỳ (trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền lương
và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho công nhân, viên chức.
- Chi phí bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), kinh phí công đoàn
(KPCĐ): Phản ánh phần BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỉ lệ quy định trên tổng số
tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định ( KH TSCĐ): Phản ánh tổng số KH TSCĐ
phải trích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng
vào sản xuất kịnh doanh (SXKD).
- Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản
ánh ỏ các yếu tố trên dùng cho hoạt động SXKD trong kỳ.
* Phân loại chi phí theo khoản mục tính giá thành, chi phí sản xuát ở đơn vị xây

sản phẩm xây lắp đạt hiệu quả cao.
* Một số cách phân loại khác:
Để đáp ứng nhu cầu quản trị trong doanh nghiệp, các khoản mục chi phí có thể
được phân loại theo một số cách sau:
- Phân loại dựa vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm.
công việc hoàn thành thì chi phí sản xuất được phân chia thành: Chi phí cố định, chi
phí biến đổi và chi phí hỗn hợp.
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
+ Chi phí cố định: Là chi phí không thay đổi khi khối lượng công việc hoàn
thành thay đổi. Định phí thường bao gồm: Chi phí KH TSCĐ sử dụng chung, tiền
lương nhân viên, cán bộ quản lý...
+ Chi phí biến đổi: Là những chi phí thay dổi tương quan tỉ lệ thuận với khối
lượng công việc hoàn thành, thường bao gồm: CP NVLTT, CP NCTT... Biến phí trên
một đơn vị sản phẩm luôn là một mức ổn định.
+ Chi phí hỗn hợp: Là chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố định phí và
biến phí. Để phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và điều tiết chi phí hỗn hợp, các
nhà quản trị doanh nghiệp cần phải phân tích chi phí hỗn hợp thành các yếu tố định
phí và biến phí.
- Phân loại dựa trên mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài
chính. Theo cách này chi phí sản xuất được phân chia thành:
+ Chi phí sản phẩm: Là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản
phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán.
+ Chi phí thời kỳ: Là chi phí để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, không tạo
nên giá trị hàng tồn kho mà ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ mà nó phát
sinh.
Ngoài ra, chi phí có thể được phân ra theo nhiều cách khác nhau, với nhiều tiêu
thức cụ thể tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp. Các cách phân loại
khác nhau sẽ phục vụ cho những mục đích quản lý khác nhau, vì vậy trong doanh

chi phí vào công trình, hạng mục công trình hay khối lượng công việc hoàn thành.
- Chức năng của giá thành sản phẩm trong hoạt động SXKD:
+ Chức năng bù đắp chi phí: Giá thành là cơ sở để xác định mức chi phí mà
doanh nghiệp đã chi ra để tạo ra sản phẩm cần phải bù đắp.
+ Chức năng thước đo chất lượng hoạt động SXKD: Với chức năng này, giá
thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp để kiểm tra tình hình SXKD của doanh nghiệp,
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
đánh giá hiệu quả của các biện pháp tổ chức, kiểm tra, quản lý tác động đến hoạt động
của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
 Căn cứ vào thời điểm và cơ sở số liệu để tính giá thành, giá thành sản phẩm
được phân loại thành:
- Giá thành dự toán: Là tổng chi phí để hoàn thành khối lượng xây lắp công
trình, hạng mục công trình được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế - kỹ thuật và
đơn giá của Nhà nước ban hành. Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán ở khoản
thu nhập chịu thuế tính trước và thuế GTGT đầu ra
Giá thành dự
toán của CT,
HMCT
=
Giá trị dự
toán của CT,
HMCT
-
Thu nhập
chịu thuế
tính trước
-

trong kỳ
-
CP khối lượng
xây lắp dở dang
cuối kỳ
Trong quá trình hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xây lắp, doanh nghiệp
phải thường xuyên tiến hành so sánh các loại giá thành với nhau. Giá thành kế hoạch
là căn cứ để đối chiếu với giá thành thực tế sẽ cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
của doanh nghiệp, trình độ quản lý, giúp doanh nghiệp kiểm tra, kiểm soát các khoản
chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ, tránh thất thoát và chủ động trong hoạt động xây
lắp.
Giữa 3 loại giá thành trên có mối quan hệ với nhau về lượng như sau:
Giá thành thực tế < Giá thành kế hoạch < Giá thành dự toán
 Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này, giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá
thành tiêu thụ.
- Giá thành sản xuất: Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên
quan đến việc xây lắp. Nó bao gồm: CP NVLTT, CP NCTT, CP MTC, CP SXC tính
cho công trình, hạng mục công trình hay khối lượng công việc đã hoàn thành. Nó là
căn cứ để tính giá vốn hàng bán
- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + Chi phí QLDN + Chi phí bán hàng
Ngoài ra, giá thành sản phẩm xây lắp còn được theo dõi trên 2 chỉ tiêu đó là:
+ Giá thành khối lượng xây lắp hoàn chỉnh: Là giá thành những công trình,
hạng mục công trình đã xây lắp xong đến giai đoạn cuối cùng của toàn bộ quy trình
công nghệ và chuẩn bị bàn giao cho đơn vị sử dụng.

tế của khối lượng dở dang cuối kỳ.
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành
=
CPSX dở
dang đầu
kỳ
+
CPSX phát sinh trong kỳ
(trừ các khoản thu hồi ghi
giảm trừ chi phí)
-
CPSX dở
dang cuối
kỳ
Trong trường hợp sản phẩm hoàn thành có giá trị dở dang đầu kỳ và giá trị dở
dang cuối kỳ bằng nhau, hoặc không có sản phẩm dở dang đầu kỳ, cuối kỳ thì tổng giá
thành sản phẩm bằng tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
Tóm lại, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết
với nhau thể hiện qua 3 điểm chính như sau:
- Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, công
việc đã hoàn thành. Sự lãng phí hay tiết kiệm của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có
ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm cao hay thấp.
- Tính giá thành sán phẩm phải dựa vào hạch toán chi phí sản xuất.
- Tổ chức quản lý tốt giá thành chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở tổ chức
quản lý tốt chi phí sản xuất.

phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí. Trường hợp này việc phân bổ
chi phí cũng được áp dụng giống với việc phân bổ chi phí của doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp
1.3.2. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Đối với các doanh nghiệp xây lắp, CP NVLTT là những chi phí về nguyên, vật
liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu của công trình, vật liệu luân
chuyển… tham gia vào cấu thành thực thể của công trình hoặc giúp cho việc thực hiện
và hoàn thành khối lượng xây lắp như: Xi măng, sắt thép, gạch, cát đá… CP NVLTT
không bao gồm chi phí vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và cho việc quản
lý của đội công trình.
CP NVLTT thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí sản xuất của các
doanh nghiệp xây lắp vì vậy khi hạch toán khoản mục chi phí này cần chú ý đến tính
đầy đủ, chính xác và hợp lý của nó.
 Chứng từ sử dụng:
Chứng từ ban đầu được sử dụng để hạch toán CP NVLTT bao gồm: Hoá đơn
GTGT, phiếu nhập kho phiếu xuất kho, bảng tổng hợp phiếu xuất, bảng kê hoá đơn
mua vào…
 Tài khoản sử dụng:
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
Tài khoản 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Dùng để phản ánh chi phí
nguyên, vật liệu phát sinh liên quan trực tiếp đến việc xây lắp hay lắp đặt công trình.
Tài khoản 621 được mở chi tiết theo từng đối tượng hạch toán chi phí tuỳ thuộc vào
yêu cầu quản lý của doanh nghiệp, chẳng hạn CT, HMCT, các giai đoạn thi công,
nhóm hạng mục công trình, nhóm công trình…
 Quy trình hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Sơ đồ 1.1: Trình tự hạch toán CP NVLTT
1.3.3. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Trong xây lắp, CP NCTT bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân

gồm cả công nhân do doanh nghiệp quản lý và cả lao động thuê ngoài. Tài khoản 622
được mở chi tiết theo đối tượng hạch toán chi phí giống như tài khoản 621.
 Quy trình hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
Sơ đồ 1.2: Trình tự hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
1.3.4. Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí về máy thi công bao gồm chi phí về vật tư, chi phí nhân công, chi phí
khác có liên quan đến việc sử dụng máy thi công và được chia thành hai loại: Chi phí
thường xuyên và chi phí tạm thời.
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
Tk 334
Tk 111, 112, 331…
Tk 335
Tk 622
Tiền lương và phụ cấp lương
phải trả cho CNTT SXXL
Chi phí NCTT thuê ngoài
Trích trước tiền lương nghỉ
phép của công nhân XL trong
doanh nghiệp (nếu có)
Tk 632
Kết chuyển CP NCTT
Chi phí NCTT vượt
trên mức bình thường
18
Tk 154
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
Chi phí thường xuyên là những chi phí phát sinh trong quá trình sử dụng máy
thi công, được tính vào giá thành của ca máy như: Tiền lương của công nhân trực tiếp
điều khiển máy thi công, chi phí về nhiên liệu, vật liệu dùng cho máy thi công, khấu
hao máy thi công, sửa chữa thường xuyên máy thi công hay tiền thuê máy thi công.

Tk 621
Tk 622
Tk 627
Tk 154 Tk 623
Tk 632
Kc CP NVLTT đội máy
Kc CP NCTT đội máy
Kc CP SXC đội máy
Kc CP MTC không XĐKQ
Kc giá vốn (Có XĐKQ)
20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Nguyễn Thị Đông
1.3.5. Hạch toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ
và quản lý thi công của đội xây lắp, như chi phí tiền lương của nhân viên quản lý đội
xây dựng, chi phí khấu hao xe, máy thi công, các khoản trích về BHXH, BHYT,
KPCĐ tính trên tiền lương của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng máy
thi công và của nhân viên đội xây lắp thuộc biên chế của doanh nghiệp và chi phí
bằng tiền khác có liên quan đến hoạt động của đội xây lắp.
 Chứng từ sử dụng:
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
Tk 334
Tk 152,153,242
Tk 335
Tk 214
Tk 111,112,331…
Tk 623 Tk 632
Tk 154
CP NC điều khiển máy thi công
CP NVL, CCDC dùng cho MTC

Tài khoản 154 – Chi phí sàn xuất kinh doanh dở dang. Tài khoản này tổng hợp
chi phí sản xuất xây lắp phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các
doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Tài
khoản 154 được mở chi tiết theo đối tượng hạch toán chi phí, chi tiết theo từng CT,
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kế toán 47D
Tk 334,338
Tk 152,153
Tk 142,242,335
Tk 214
Tk 352
Tk 111,112,331…
Tk 627
Tk 154
Tk 632
Tiền lương NVQL và các khoản
trích theo lương
Vật liệu, CCDC dùng cho quản lý
sản xuất
CP trả trước, CP phải trả tính vào
CP SXC của đội xây dựng
KH TSCĐ dùng chung cho đội
XD
Dự phòng về bảo hành CT
CP, DV mua ngoài dùng cho
quản lý SX
Phần CP SXC CĐ
không được tính vào
giá thành sản phẩm XL
Kết chuyển CP SXC
cuối kỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status