Đề án môn học - Lê Hoài Nam
Lời mở đầu
Sau đại hội đảng VI, đất nớc ta đã bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới. Hơn 10
năm đã qua, về mặt kinh tế một cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã chuyển dần sang cơ
chế thị trờng. Chúng ta đã thu đợc những thành tựu kinh tế nhất định, nổi bật trong số
đó là tỷ lệ xuất khẩu đã tăng gấp 3 lần nhịp độ tăng trởng GDP, vợt qua ngỡng cửa
của một quốc gia kém phát triển về ngoại thơng. Thật đáng tự hào khi chúng ta là
một trong số những nớc đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, hồ tiêu...; song
song nhng ngợc chiều với luồng nông phẩm và những hàng hoá chúng ta xuất khẩu
đợc là một luồng ngoại tệ lợi nhuận từ xuất đem lại.
Bên cạnh đó cơ chế mở cửa cũng dẫn đến tỷ lệ vốn đầu t nớc ngoài vào Việt
Nam ra tăng rõ rệt, biểu hiện là nhiều công ty liên doanh, các tổ chức hoặc doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã đợc thành lập và dữ một vai trò quan trọng trong
nền kinh tế.
Thành công trong mặt ngoại thơng đặt ra một vấn đề lớn "Kế toán và xử lý
chênh lệch tỷ giá hối đoái" và đây cũng là nội dung chính của đề tài em chọn. Từ
việc tiếp thu những kiến thức đã học cùng với sự giúp đỡ trực tiếp của thầy giáo Trần
Quý Liên và một số sự tìm tòi tài liệu bổ sung, em xin nêu lên trong nội dung bài đề
án nững vấn đề xung quanh tỷ giá hối đoái, đặc biệt là vấn đề kế toán và xử lý chênh
lệch tỷ giá hối đoái trong điều kiện nớc ta hiện nay.
Đề tài gồm 2 phần:
- Phần I: Những vấn đề xung quanh tỷ giá hối đoái
- Phần II: Kế toán và xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái
Do hạn chế về thời gian cũng nh trình độ hiểu biết nên bài viết của em không
thể tránh khỏi những sai sót, em rất mong có đợc sự chỉ bảo, sửa chữa góp ý tận tình
của thầy giáo hớng dẫn và các bạn.
Em xin trân thành cảm ơn!
Đề án môn học - Lê Hoài Nam
Phần I: Những vấn đề xung quanh tỷ giá hối đoái
Chơng I: Tỷ giá hối đoái
I. Tỷ giá hối đoái là gì?
Đề án môn học - Lê Hoài Nam
+ Dự trữ và đầu cơ ngoại tệ: tất cả đều có thể làm dịch chuyển các đờng cung và cầu
tiền tệ. Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin
hiện đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể trao đổi hàng tỷ đôla giá trị tiền tệ mỗi ngày.
II. Phân tích cơ chế tỷ giá hối đoái
1. Tỷ giá hối đoái - thả nổi hay cố định?
Thả nổi? Trong một thế giới mà đồng tiền ngày càng cơ động hơn, các quốc gia
không thể nào vừa cố định tỷ giá hối đoái vừa giữ vững một chính sách tiền tệ độc lập các
quốc gia phải lựa chọn giữa một bên là niềm tin và sự ổn định mà tỷ giá có định đem lại với
một bên là sự kiểm soát độc lập với chính sách tiền tệ của mình do tỷ giá thả nổi mang lại.
Trớc đây, nhân tố quyết định trong sự lựa chọn của một quốc gia chính là sự nhạy cảm của
quốc gia đó đối với các cú sốc từ bên ngoài, chẳng hạn nh sự thay đổi bất ngờ trong giá
hàng hoá. Việc thả nổi đồng tiền sẽ cho phép quốc gia đó điều chỉnh để thích nghi trớc
những cú sốc từ bên ngoài thông qua tỷ giá hối đoái. ở các nớc có đồng tiền cố định thì giá
cả và tiền lơng trong nớc sẽ chịu sức ép nặng nề. Tuy nhiên, cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi
có một nhợc điểm lớn, đó là nó có thể đi chệch hớng đã định trớc và trở lên vô cùng mất ổn
định, nhất là khi có một khối lợng lớn vốn chảy vào hoặc chảy ra khỏi một quốc gia. Sự bất
ổn đó gây ra những cái giá phải trả về kinh tế thực sự. Hơn nữa tỷ giá thả nổi có thể làm suy
giảm niềm tin vào đồng tiền của các nhà đầu t, do đó làm cho việc chống lạm phát trở lên
khó khăn hơn. Xét theo bề ngoài của vấn đề, trong một thế giới có sự lu động của đồng vốn,
một tỷ giá hối đoái linh hoạt dờng nh là một lựa chọn khả thi. Đồng tiền thả nổi sẽ buộc các
công ty và các nhà đầu t phải phòng vệ trớc sự lên xuống giá cả thất thờng, sẽ không ru ngủ
họ với cảm giác ổn định giả tạo, và nó sẽ khiến cho các ngân hàng thận trọng hơn khi cho
vay. Tuy nhiên nếu xem xét kỹ thì việc lựa chọn cơ chế tỉ giá hối đoái không rõ ràng, đơn
giản nh thế sự độc lập về tiền có vẻ là bề ngoài hơn là thật sự, ít ra là đối với các nớc đang
phát triển có hệ thống tài chính qui mô nhỏ, đơng đầu với sự hỗn loạn thị trờng bất ngờ, các
nền kinh tế mới nổi phụ thuộc vào đồng vốn nớc ngoài phải nâng lãi suất cao ngất trời để
giữ cho đồng tiền nớc mình không sụp đổ. Vấn đề lớn nhất đối với đồng tiền thả nổi chính
là những rủi ro do sự mất ổn định. Đối với các nền kinh tế mới nổi, các thị trờng tài chính
nhỏ bé đồng nghĩa với sự không ổn định tỷ giá hối đoái là một vấn đề về cấu trúc chứ
tiên chung. Các quốc gia riêng lẻ có thể góp đồng tiền của mình để tạo thành đồng tiền
chung mới (nh các nớc châu âu đã làm).
Nh vậy rõ ràng ở đây đã phải có sự lựa chọn: lựa chọn giữa hội nhập và quyền tự chủ
quốc gia. Những quốc gia tham gia vào liên minh khu vực sẽ phải từ bỏ quên tự chủ của
mình để đổi lấy hội nhập. Ngợc lại, những quốc gia thả nổi tỷ giá hối đoái sẽ giữ vững
quyền tự chủ nhng thờng phải đánh đổi lại bằng sự hạn chế trong hội nhập toàn cầu.
2. Sẽ có một cơ chế tỷ giá chung?
Nh vậy, thả nổi tỷ giá cho phép quốc gia theo đổi chính sách tiền tệ và một số chính
sách kinh tế vĩ mô khác đã đợc xác định trớc vì họ không phải dùng nó để bảo vệ tỷ giá hối
đoái. Tuy nhiên thị trờng có thể đẩy đồng tiền thấp dới xa giá trị thực sự của nó dẫn đến đổi
lạm phát về chi phí lớn cho dịch vụ nợ hoặc ở mức quá cao, gây tổn thất cho khả năng
quốc gia và gây thâm hụt lớn cho cán cân thơng mại. Cố định tỷ giá hối đoái có thể tránh đ-
ợc những vấn đề này nếu các nhà chức trách có thể thiết lập thành công tỷ giá ở mức bền
vững và làm cho thị trờng tin ở khả năng là họ sẽ giữ đợc cho nó ở mức đó. Hơn nữa cố
định tỷ giá hối đoái có thể làm giảm các chi phí giao dịch trong thơng mại quốc tế và đầu t.
Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cố định có thể cung cấp một mỏ neo hữu dụng cho việc ổn định
giá cả bởi việc nối một quốc gia nhỏp với nền kinh tế thế giới (đặc biệt là với một quốc gia
lớn và giá cả tơng đối ổn định nh Mỹ và Đức).
Tuy nhiên, nếu chính phủ không có khả năng giữ tỷ giá hối đoái ở mức bền vững thì
các luồng vốn t nhân có thể đổ vào nh rút ra rất nhanh gây ra áp lực phá giá lớn. Một cuộc
bảo vệ thành công tỷ giá hối đoái có thể phải trả giá rất đắt, đòi hỏi quốc gia phải nâng cao
lãi suất và nh vậy làm chậm lại tốc độ tăng trởng kinh tế. Trong nền kinh tế thế giới hiện đại
với những luồng vốn t nhân khổng lồ, các nhà kinh tế ngày càng đi đến quan điểm thống
nhất là các quốc gia chỉ có thể đợc hởng lợi từ chế độ tỷ giá cố định bằng hai cách: Kiểm
Đề án môn học - Lê Hoài Nam
soát hối đoái ngặt nghèo để trực tiếp giới hạn tác hại của đầu t t nhân, hoặc đa ra những
cam kết đáng tin cậy để làm thị trờng tin rằng nó vẫn sẽ đứng vững dù có các cuộc tiến
công đầu cơ dai dẳng và mạnh mẽ.
Cho đến nay, những gì đã xảy ra với nền kinh tế các nớc cho thấy rằng hệ thống tài
chính quốc tế lại đang nằm trong môi trờng của một thế giới với cơ chế tỷ giá thả nổi lai có
quan tâm. Chính sách tỷ giá đã đợc nhà nớc ta sử dụng nh một công cụ quản lý kinh tế vĩ
mô. Trong thực tế cho thấy tại những thời điểm khác nhau, nếu không có quyết sách về tỷ
giá kịp thời, phù hợp sẽ gây ảnh hởng tiêu cực, kìm hãm quá trình đầu t trong nớc, làm
thâm hụt cán cân thơng mại và khó có thể thực hiện thành công những mục tiêu và nhiệm
vụ cuả sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công những mục tiêu và nhiệm vụ
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Và khi đã đặt mình vào hoàn cảnh
"Sự đã rồi" thì mọi giải pháp đa ra chỉ còn mang tính chất tình thế hay buông trôi để rồi
hứng chịu tất cả.
Đề án môn học - Lê Hoài Nam
Chơng II. Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái.
Thật ra, việc xem xét tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với chính sách tiền tệ là cần
thiết đối với tất cả mọi quốc gia, dù lớn hay nhỏ, nhằm bảo vệ và đảm bảo lợi ích cho riêng
mình. Việt Nam quan tâm đến mối quan hệ trên cũng không nằm ngoài hai mục đích này.
Vấn đề chúng ta cần tìm hiểu ở đây là đối với một nền kinh tế nhỏ bé và non yếu nh của
Việt Nam trong xu hớng hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, những đe doạ tiềm ẩn có thể
đến từ đâu cũng nh những mục tiêu, quên lợi gì Việt Nam cần phải đảm bảo trong chiến lợc
phát triển kinh tế của mình? Một cách tốt nhất để xem xét vấn đề này là xuất phát từ chính
thực tiễn những gì đã xảy ra đối với nền kinh tế các nớc trong khu vực - những nớc có
những nét tơng đồng Việt Nam trong định hớng phát triển kinh tế ổn định, bền vững hớng
vào xuất khẩu.
I. Trong điều kiện khủng hoảng tài chính - tiền tệ.
Đầu tiên chúng ta sẽ xem xét đến việc bảo vệ một đồng tiền đang phải chịu sức ép
nặng nề. Trong trờng hợp này việc thắt chặt chính sách tiền tệ nói chung là cần thiết. Đối
với các nhà đầu t, mức lãi suất cao hơn sẽ làm tăng lợi nhuận danh nghĩa từ các tài sản đợc
tính bằng giá trị đồng tiền này, và làm cho việc đầu t trở lên tốn kém hơn do việc tăng chi
phí khi đi vay tiền. Một chính sách tiền tệ chặt chẽ hơn có thể sẽ hỗ trợ cho tỷ giá hối đoái
bằng cách giảm bớt những dự báo về lạm phát trong tơng lai, và nhờ thế cũng giảm bớt
những dự báo về sự mất giá của đồng tiền. Một sự đối phó mạnh mẽ đối với sức ép tiền tệ
cũng làm giảm bớt rủi ro vỡ nợ cho dân chúng trong nớc khi đi vay bằng ngoại tệ. Nhng
nh thế không có nghĩa là việc thắt chặt chính sách tiền tệ đợc coi nh sự đối phó với sức ep
nội địa lớn, xác lập nguyên tắc khách quan để nguồn vốn đợc phân phối chủ yếu cho các dự
án đầu t hiệu quả cao - tiết kiệm vốn và tận dụng thế mạnh lao động, tạo vòng tuyến vững
chắc ngăn chặn gia tăng lạm phát. Trong khi vốn duy trì đợc mức đầu t cao. Thực ra theo
nguyên lý thông thờng của kinh tế học, hai mục tiêu này của chính sách tỷ giá là đối nghịch
nhau. Song trên thực tế không phải là có cách để xử lý thành công tính đối nghịch này. Cụ
thể, Đối với các nền kinh tế Đông á trong giai đoạn 1960 - 1990 đều theo đuổi chính sách
tỷ giá không đánh giá cao đồng tiền tệ. Định hớng chính sách đó nhằm đảm bảo cho tỷ giá
giữ đợc vai trò thúc đẩy xuất khẩu. Nhng để không gây ra tình trạng bất ổn định trong hệ
thống tiền tệ, việc điều chỉnh tỷ giá theo hớng "mềm hoá" không diễn ra thờng xuyên,
không thuần tuý do thị trờng quyết định. Nhà nớc chủ động can thiệp vào quá trình chính
sách này là đặc điểm nổi bật của cách điều hành và sử dụng công cụ tỷ giá nhằm mục tiêu
phát triển. Một số nớc chủ trơng tiến hành phá giá sau từng quãng thời gian dù dài (Đài
Loan) một số nớc lại lựa chọn hớng ổn định tỷ giá lâu dài trên cơ sở thiết lập mức tỷ giá
"xuất phát" đủ mềm, tức là có khả năng thúc đẩy xuất khẩu trong nhiều năm (Thái Lan).
Dù là khác nhau song hớng tiếp cập ở đây là thống nhất: tỷ giá phải thoả mãn một số yêu
cầu nh tính thị trờng, duy trì sức cạnh tranh xuất khẩu của tỷ giá, đảm bảo cân bằng giữa
sức mua đối nội (đo qua lãi suất) và sức mua đối ngoại (đo trực tiếp qua tỷ giá) của đồng
nội tệ.
Nh vậy vấn đề cốt lõi ở đây là làm sao cân bằng đợc xu hớng tác động ngợc chiều
giữa chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá hối đoái một cách tích cực. Việc kết hợp chính
sách lãi suất và chính sách tỷ giá - hai thành tố chủ yếu nhất của chính sách tiền tệ - theo h-
ớng tao nên trục cốt lõi đảm bảo phối hợp các chính sách vĩ mô để cùng hớng đến mục tiêu
chung: Phát triển bền vững hớng mạnh đến xuất khẩu.
Trên đây, chúng ta đã xem xét tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với các chính sách
kinh tế vĩ mô khác. Rõ ràng, xem xét mối quan hệ này là cực kỳ quan trọng. Nó sẽ hớng
cho chúng ta một cách tiếp cận logic và có khoa học trong việc thực hiện những mục tiêu
kinh tế của đất nớc. Tuy nhiên, thế vốn cha đủ để có thể đạt đợc thành công. Việc nhận
thức này lại phải xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế của Việt Nam. Với một nền kinh tế dễ bị
tổn thơng với một đồng tiền cha có khả năng chuyển đổi, hệ thống ngân hàng yếu kém và
các doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ, một cơ cấu sản xuất và một cơ cấu hàng xuất
những giải pháp trên đã góp phần cải thiện phần nào tình hình trên thị trờng ngoại hối, xoá
bỏ tình trạng bất hợp lý trong mua bán, thanh toán, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu. Tuy nhiên tỷ giá trên thị trờng vẫn biến động mạnh, mà điển hình là cơn sốc tỷ giá
vào cuối năm 1991. (1USD = 13.000đ) nguyên nhân chính làm cho USD tăng giá là do ảnh
hởng của tình hình CCTT quốc tế, sự thâm hụt tài chính của chính phủ và mức độ lạm phát
nặng nề ở Việt Nam.
Nhằm thúc đẩy thị trờng giao dịch ngoại tệ chính thức, NHNN đã hình thành một sàn
giao dịch ngoại tệ tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối tháng 8/1991 tại Hà Nội vào tháng
11/1991. NHNN đã qui định biên độ giao dịch tối đa so với tỷ giá chính thức và đợc
NHNN công bố là 10,5%. Tuy nhiên do sự không hiệu quả của hai sàn giao dịch này, nên
ngày 14 - 10 - 1994. NHNN đã ra quyết định số 204/QĐ - NHNN hình thành một thị trờng
liên ngân hàng cho các giao dịch ngoại hối thay cho 2 sàn giao dịch cũ. NHNN vẫn tiếp tục
qui định biên độ giao dịch tỷ giá mua và bán là 10,5%, kết quả của những biện pháp cải
Đề án môn học - Lê Hoài Nam
cách này là hết sức khả quan, hầu hết các NHTM lớn đều tham gia vào thị trờng liên ngân
hàng cùng với lợng giao dịch trung bình một ngày khoảng 3 triệu USD.
Năm 1996, mức thâm hụt cán cân thơng mại ở nớc ta lên đến 4 tỷ USD, mức thâm
hụt cán cân thơng mại ở nớc ta đến 4 tỷ USD, tỷ lệ nhập siêu so với GDP lên đến 16%, cao
gần rỡi so với các nớc có mức độ nhập siêu cao nhất thế giới, nhu cầu USD tăng tạo sức ép
giảm giá VND. Do vậy, NHNN đã mở rộng biên độ giao động của tỷ giá từ 0,5% trớc đây
lên 4% và vào tháng 2/1997 biên độ này là 5% bên canh đó tỷ giá chính thức cũng đợc
nâng dần lên. Nhìn chung, từ đầu năm 1997 tỷ giá USD/NVD liên tục tăng lên, không còn
ổn định nh thời gian từ 1993 - 1996. Ngày 2/7/1997, ngòi nổ của cuộc khủng hoảng tiền
Châu á bắt đầu phát ra từ Thái Lan, là một nớc trong cùng khu vực, Việt Nam cũng bị ảnh
hởng đến tình hình buôn bán, thanh toán và kể cả về tâm lý. Ngày 13/10/1997, NHNN
quyết định nới rộng biên độ tỷ giá mua bán ngoại tệ lên 10% so với tỷ giá chính thức. Cầu
ngoại tệ trên thị trờng rất cao nên hầu nh khu vực mua bán ngoại tệ của các NHTM thờng
xuyên bán sát mức trần cho phép. Mặc dù vậy nhng giá trên thị trờng tự do còn cao hơn
nhiều (có lúc lên đến 14000 đ/1USD).
Đứng trớc tình hình này, những tháng đầu năm 1998, NHNN đã đa ra một loạt các
Song nó vẫn có cái gì đó thật mơ hồ, mang nặng tính chủ quan nhiều hơn. Chúng ta có thể
thấy rõ điều này khi nhìn vào những biến động tỷ giá của các NHTM:
Ngày (năm 1998) 21/2 27/2 28/2 2/3 5/3 9/3
Tỷ giá chính thức 11.803 11.804 11.801 11.790 11.798 11.803
Tỷ giá của NHTM 12.983 12.984 12.981 12.979 12.978 12.983
Một loạt các con số trên cho thấy tỷ giá của các NHTM luôn bám sát mứ trần cao
nhất mà NHNN cho phép (giá công bố chính thức x 110%), thậm chí tỷ giá chính thức chỉ
cần thay đổi một đồng thì tỷ giá của các NHTM cũng bám theo. Lý do ở đây là: Vợt thì
không đợc phép, nhng thấp hơn mức trần thì các NHTM cũng không thể chấp nhận đợc.
Điều này chứng tỏ có cái gì đó thật là gò bó, cứng nhắc, khó có thể chấp nhận đối với cơ
chế tỷ giá hiện hữu. Còn một khi tỷ giá công bố chính là tỷ giá hình thành trên thị trờng liên
ngân hàng, thì sẽ thật nhẹ nhàng, các NHTM không còn phải phòng thủ nữa, bởi tỷ giá này
chính là điểm gặp gỡ giữa cung và cầu ngoại tệ của các ngân hàng.
Thứ ba, trớc đây, do tỷ giá NHNN công bố cứng nhắc, không thực sự phản ánh, quan
hệ cung cầu nên nếu thấy giá mua ngoại tệ của các ngân hàng thấp thì các doanh nghiệp
mang ngoại tệ ra thị trờng tự do bán - ngợc lại nếu mua ngoại tệ của ngân hàng quá khó
khăn thì mua trên thị trờng tự do. Vì thế, chỉ cần có những biến động nhỏ trong nền kinh tế
cũng đủ tác động để mở ra một khoảng cách giữa tỷ giá của thị trờng tự do và tỷ giá của các
NHTM. Nhng với cơ chế điều hành mới, tỷ giá mà NHNN công bố, bác bỏ nó xuất phát từ
cung cầu ngoại tệ giữa các ngân hàng nên nó sẽ gần gũi hơn với tỷ giá thị trờng tự do và nh
vậy những biến động để có thể tạo ra khoảng cách giữa tỷ giá thị trờng tự do và tỷ giá của
các NHTM sẽ khó có thể xảy ra hơn.
Thứ ba, với cơ chế điều hành tỷ giá trớc đây, vì NHNN muốn giữ ổn định, không thay
đổi, trong khi đó khả năng cung ứng ngoại tệ của NHNN cũng nh các NHTM thấp nên nhu
cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp cũng thờng xuyên không đợc đáp ứng, điều này đã làm
cho nhiều doanh nghiệp phải lao đao khi phải đối mặt với các nhu cầu thanh toán đến hạn
với nớc ngoài. Còn với cơ chế điều hành tỷ giá nh hiện nay thì bản thân tỷ giá tự nmó đã đ-
ợc điều chỉnh theo quan hệ cung cầu, hay nói cách khác chính nhu cầu của các doanh
nghiệp là cơ sở xác định tỷ giá và vị trí đó cung và cầu đều đợc thoả mãn.
Thứ t, khi tỷ giá không xuất phát từ quan hệ cung cầu thì mỗi lần nhà nớc điều chỉnh
thay đổi thì tỷ giá trên thị trờng sẽ thay đổi nếu NHNN muốn giữ tỷ giá ổn định thì buộc
phải can thiệp. Nếu cung lớn hơn cầu, NHNN chỉ việc tung VNĐ ra mua ngoại tệ, làm tăng
nguồn dự trữ ngoại tệ của NHNN. Nhng ngợc lại, nhu cầu ngoại tệ lại cao hơn cung ngoại
tệ, (khả năng này xảy ra nhiều hơn, thì không còn cách nào khác, để giữ tỷ giá, NHNN
buộc phải tung ngoại tệ ra bán. Song không chỉ nh vậy, dự trữ ngoại tệ còn cần phải đủ
mạnh để sẵn sàng đối phó với những âm mu kích động yếu tố đầu cơ trên thị trờng. Bài học
của Thái Lan còn đó, một số ngân hàng và công ty tài chính nớc ngoài đã lợi dụng sự mất
ổn định kinh tế và sự yếu kém của hệ thống ngân hàng Thái Lan để thực hiện các giao dịch
đầu cơ châm ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng và làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm
trọng. Nếu dự trữ ngoại tệ của NHNN không đủ mạnh để can thiệp trong những lúc cần
thiết từ hoặc là lai phải quay lại điểm xuất phát của nó - dùng biện pháp hành chính để giữ
tỷ giá, hoặc là thả nổi cho tỷ giá tự nó trôi nổi trên thị trờng.
2. Xử lý tốt mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá.
Giữa lãi suất và tỷ giá có mối quan hệ ràng buộc khá chặt chẽ, nếu tỷ giá có xu hớng
giảm thì ngời ta bắt đầu quan tâm đến lãi suất, nếu lãi suất có xu hớng giảm thì ngợc lại,
ngời ta lại quan tâm đến tỷ giá. Các hành vi bán - mua - gửi - rút ngoại tệ hơn quan hệ xoắn
xuýt với nhau và nó sẽ tạo ra dòng chuyển giữa VND và ngoại tệ. Dù vậy quan hệ đến tỷ
giá thì không thể không quan tâm đến lãi suất và ngợc lại. Thực tế cũng đã cho chúng ta
Đề án môn học - Lê Hoài Nam
thấy rõ điều này: Những tháng đầu năm 1997 diễn biến của tỷ giá, của lãi suất hoàn toàn
có lợi cho sự chuyển dịch của VND thành USD. hay trong năm 1998, việc điều chỉnh tỷ giá
lên 16% làm cho lợi tức dự tính của việc giữ ngoại tệ tăng hơn so với lợi tức dự tính của việc
giữ VNĐ đã dẫn đến việc chuyển đổi từ VND sang ngoại tệ làm ảnh hởng tới nguồn vốn
khá dụng VND của các tổ chức tín dụng. Nhu cầu gần gũi ngoại tệ đã tạo ra sức mua giá trị
trên thị trờng, cầu ngoại tệ tăng lên và vì vậy tỷ giá có xu hớng bị đẩy lên. Nh vậy tình trạng
đó không những làm giảm khả năng mua ngoại tệ của các ngân hàng mà thậm chí còn làm
cho NHNN phải tung dự trữ ngoại tệ ra để giữ tỷ giá. Chính vì lẽ đó nên phải quan tâm đến
mối quan hệ giữa lãi suât và tỷ giá. Chúng ta đã có một bớc tiến trong việc xác định tỷ giá
trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng làm cơ sở xác định giá mua, bán ngoại tệ của NHTM
đồng thời xác định lãi suất trên thị trờng lên ngân hàng làm cơ sở để NHTM xác định lãi
Đề án môn học - Lê Hoài Nam
làm và sự bùng nổ trong sản lợng. Giai đoạn lạm phát cao là một vấn đề đợc lu tâm hàng
đầu (1989 - 1994 trong quản lý vĩ mô thì chế độ tỷ giá cố định thực sự là một công cụ điều
hành kinh tế vĩ mô đáng tin cậy. Bởi vì chế độ tỷ giá cố định đòi hỏi phải thiết lập những
qui tắc không đợc phép vi phạm giữa khu vực tài chính công (chi tiêu ngân sách) , và khu
vực tiền tệ (hoạt động ngân hàng trung ơng). Nguyên tắc này nêu rõ không đợc phép in tiền
để bù đắp cho thâm hụt ngân sách, chỉ khi nào nguyên tắc này đợc giữ vững thì khi đấy chế
độ điều hành tỷ giá cố định mới phát huy đợc vai trò của nó. Bởi vì dới chế độ tỷ giá cố
định thì bất kỳ việc u tiên nào để tài trợ cho thâm hụt ngân sách đều có thể làm suy yếu dự
trữ ngoại tệ quốc gia, trong trờng hợp thâm hụt ngân sách mà dai dẳng nh hiện nay thì khả
năng không có dự trữ ngoại tệ là điều không thể tránh khỏi, nếu Việt Nam cứ tiếp tục duy
trì chế độ tỷ giá cố định. Trong môi trờng vĩ mô vẫn còn bấp bênh nh trong giai đoạn hiện
nay, thì chế độ tỷ giá cố định hay chế độ tỷ giá cao (dựa trên sự biến động của tỷ giá liên
ngân hàng) mà Việt Nam đang theo đuổi và sẽ rất có khả năng bị sụp đổ sau một cú sốc do
tâm lý lo sợ phá giá và sự quay trở lại của lạm phát cao của c dân và các tổ chức kinh tế,
nên buộc họ phải chuyển tiền của mình vào đầu cơ ngoại tệ. Trong tơng lai, từ nay đến năm
2010, khi Việt Nam có thể thực hiện việc chuyển đổi tiền tệ tự do trên tài khoản vãng lai và
tiến tới cả trên tài khoản vốn (tức là cho phép các luồng vốn luân chuyển tự do trong nền
kinh tế) thì việc quản lý tỷ giá không còn là một nhiệm vụ đơn gianả với các nhà quản lý vĩ
mô. Bởi vì trong những trờng hợp tỷ giá không đạt đến mức cân bằng thì các nhà đầu t rất
có thể nhằm vào các hoạt động đầu cơ ồ ạt nhằm bảo vệ tài sản của họ khỏi bị mất giá.
Một khía cạnh khác, mặc dù các nhà quản lý tiền tệ Việt nam cho rằng chế độ tỷ giá
của Việt Nam là chế độ tỷ giá của Việt Nam là chế độ không bản vị bất cứ một đồng ngoại
tệ nào, nhng trong thực tế của nền kinh tế thì thực chất chế độ tỷ giá của đồng Việt Nam là
một chế độ bản vị đồng đôla Mỹ. Bởi vì 96,9% trong thanh toán cán cân thanh toán của
Việt Nam là bằng đồng đôla Mỹ. Do đó đòi hỏi dự trữ ngoại tệ của NHNN, thanh toán
trong thơng mại quốc tế, các chính sách quản lý nợ nớc ngoài cũng nh việc huy động đầu t
trực tiếp nớc ngoài... tại Việt Nam đều phải đợc xác định trên cơ sở đồng đôla Mỹ.
Cùng với tỷ lệ lạm phát trong nớc cao và việc tăng giá đồng Việt Nam vào giữa năm
1995 so với các đồng tiền mạnh khác, đặc biệt là đồng Yên Nhật, đồng DM, tuy nhiên vẫn
ngoại tệ... thì nền kinh tế Việt Nam mới duy trì đợc sự ổn định bền vững.
Rõ ràng nếu xét theo định hớng lâu dài thì một chế độ điều hành tỷ giá nh hiện nay
của NHNN là bất hợp lý, không có tác dụng hỗ trợ đối với cán cân thanh toán tại Việt Nam.
Để có thể sửa đổi những vấn đề này thì một số mặt sau cần phải đợc giải quyết.
- Cần tôn trọng qui luật thị trờng hơn bằng cách từng bớc để thị trờng cân đối cung
cầu ngoại tệ và giá của ngoại tệ (tỷ giá). NHNN chỉ can thiệp vào thị trờng ngoại hối khi thị
trờng có những biến động tiêu cực do các hành vi đầu cơ tạo ra.
- Từng bớc tạo lộ trình cần thiết để tiến đến tự do hoá tài khoản vãng lai và tài khoản
vốn, và song song với quá trình này là việc chuyển đổi chế độ tỷ giá neo sang chế độ tỷ giá
thả nổi. Để thực hiện đợc các điều kiện trên thì phải có đợc một nền kinh tế đủ "mở" với thế
giới. Nói cách khác việc điều hành chế độ tỷ giá phải phù hợp với trình độ phát triển và khả
năng cạnh tranh của nền kinh tế.
- Tỷ giá ở Việt Nam thực sự là một chế độ bén vị đôla Mỹ, trong khi đó cơ cấu thanh
toán và đầu t nớc ngoài và nợ thì tỷ trọng đôla Mỹ không phải có một quyền số thống trị.
Nh vậy tỷ giá mà NHNN đặt ra cho nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay không phải là tỷ
giá thực. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng một rổ tiền tệ hợp lý trên cơ sở mối quan hệ thơng
mại, đầu t và vay nợ.
- Việc phá giá tại Việt Nam cho đến nay vẫn cha tạo ra đợc những tác động hoá, các
cú sốc đối với cán cân thanh toán, bởi vì giữa tỷ giá và cán cân thanh toán có mối quan hệ
không chặt chẽ, nên những động thái trong việc thay đổi chính sách tỷ giá cha có đủ tiềm
lực và lực để tạo lên những vụ nổ lớn đối với cán cân thanh toán, và những tác động chỉ có
ý nghĩa trong một thời gian tơng đối ngắn.
- Bên cạnh việc thực thi chính sách tỷ giá linh hoạt, thì cũng cần phải có những chính
sách đồng bộ nh: thực hiện tự do hoá thơng mại, từng bớc hạ và xoá hàng rào thuế quan,
khuyến khích các ngành sản xuấta hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu và hớng đến xuất
khẩu, lành mạnh hoá hoạt động ngân hàng, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến thanh
toán quốc tế và kiểm soát các giao dịch ngoại tệ.