Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Hải Dưong - Pdf 90

Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
1
LỜI NÓI ĐẦU
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư phát triển quan trọng nhằm
tạo ra hạ tầng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh
tế, là tiền đề để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản được thể hiện trên mọi lĩnh
vực của nền kinh tế xã hội. Đầu tư cho xây dựng kết cấu hạ tầng nhằm phục
vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế luôn là một nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra
của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hải Dương.
Nhận thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ này, trong những năm
qua tỉnh Hải Dương đã nỗ lực tập trung mọi nguồn lực cho lĩnh vực đầu tư
xây dựng cơ bản. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh đã đạt được một
số thành tựu quan trọng, tạo ra hạ tầng cơ sở, kỹ thuật vững chắc, tạo ra động
lực cho phát triển kinh tế-xã hội.
Tuy nhiên, trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập như đầu tư dàn trải, tình tráng thất thoát lãng phí vốn còn xảy ra
nhiều, quy hoạch xây dựng chưa đồng bộ và phù hợp. Xuất phát từ thực tế đó,
em quyết định chọn đề tài: “Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Hải
Dưong” nhằm đánh giá những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại và đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư XDCB
trong thời gian tới.
Kết cấu đề tài gồm hai phần:
Chương I: Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Hải Dương thời gian
qua.
Chương II: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư
xây dựng cơ bản trong thời gian tới.
Em xin chân thành cám ơn Thạc sĩ Nguyễn Thị Ái Liên và các cán bộ
Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Dương đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương

Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa nóng và mưa từ
tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh và khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,3
o
C. Độ ẩm tương đối trung bình năm dao
động từ 84 - 88% tổng số giờ nắng trong năm là 1500 - 1600 giờ, lượng mưa
trung bình năm từ 1400 - 1700 mm.
1.3. Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất:
Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662 km
2
, được chia làm 2 vùng:
vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm
11% diện tích tự nhiên, gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã huyện Kinh
Môn, là vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và
cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự
nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ thích hợp với nhiều loại
cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.
Tài nguyên rừng:
Hải Dương có hơn 9000 ha rừng, tập trung ở vùng đông bắc tỉnh, thuộc
2 huyện Chí Linh và Kinh Môn. Tuy diện tích rừng không lớn nhưng thành
phần loài khá phong phú và đa dạng, nhất là rừng Chí Linh, bao gồm 117 họ;
304 chi và 400 loài thực vật; có gỗ lát hoa, lim xanh, tán một, cây dược liệu,
cây cảnh. Rừng Chí Linh còn có một số loài động vật quý hiếm như: gà tiền
mặt vàng, sáo mỏ gà, cu li lớn, ếch xanh, tắc kè, kỳ đà hoa, trăn mốc…
Tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản của Hải Dương tuy không nhiều chủng loại
nhưng một số có trữ lượng lớn, chất lượng tốt đáp ứng cho nhu cầu phát triển
công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất VLXD của tỉnh, đồng thời cung
cấp nguyên liệu cho TW và một số tỉnh khá. Đá vôi xi măng ở huyện Kinh

Mạc Đĩnh Chi, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Tuệ Tĩnh… Vùng đất này còn có
nhiều ngôi chùa nổi tiếng với những lễ hội đặc sắc: đền Côn Sơn và lễ hội
Côn Sơn, đền Kiếp Bạc và lễ hội Kiếp Bạc, đền Yết Kiêu và lễ hội Yết Kiêu
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
5
và những danh thắng: Kính Chủ An Phụ, Phượng Hoàng, Bến Bình Than, Bàn
Cờ Tiên… Hải Dương cũng chính là mảnh đất đã tạo nên những làng nghề
truyền thống với những sản phẩm tinh xảo đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ như
chạm khắc đá ở Kính Chủ, làm bánh đậu xanh ở thành phố Hải Dương, sản
xuất gốm sứ ở làng Cậy, thêu ở Xuân Ngô, chạm khắc gỗ ở Đông Giao, kim
hoàn Châu Khê.
Dân số và nguồn lao động: nguồn nhân lực được coi là một lợi thế phát
triển quan trọng. Quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực phụ thuộc vào
quy mô và tốc độ tăng dân số. Theo số liệu gần đây nhất, dân số Hải Dương
năm 2006 là 1697 ngàn người, trong đó dân số ở độ tuổi lao động là 937 ngàn
người, chiếm khoảng 55,21% dân só toàn tỉnh. Số lao động ở khu vực nông
thôn là 756 ngàn người chiếm gần 81% và ở thành thị chiếm 19%. Là một tỉnh
nông nghiệp với nguồn lao động như trên đang gây sức ép về việc làm và cải
thiện đời sống, đồng thời đây cũng là nguồn lao động dồi dào và rẻ để hấp dẫn
các nhà đầu tư vào sản xuát kinh doanh. Mặt khác, lao động nông nghiệp
chiếm đến 70%, lao động công nghiệp và dịch vụ chiếm 30%, trong số đó đã
được đào tạo ngành nghề là 14% khoảng 129 ngàn người. ở nông thôn thời
gian nông nhàn còn nhiều mà cơ hội gia tăng việc làm ở khu vực nông nghiệp
là không đáng kể, có chăng chỉ là rải rác ở nhưng nơi có ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp với tay nghề gia truyền là chính, không qua đào tạo cơ bản. Thực
tế Hải Dương có nguồn lao động dồi dào nhưng lao động phổ thông chưa
được đào tạo còn khá nhiều và thiếu lao động kỹ thuật đã qua đào tạo, nhất là
lao động có kỹ thuật cao.
2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

nghiệp và sự vươn lên của ngành dịch vụ khẳng định giá trị của mình trong
quá trình phát triển kinh tế của tỉnh. Trong đó ngành công nghiệp có sự tăng
trưởng mạnh nhất, giá trị công nghiệp năm 2006 tăng 122% so với năm 2002,
tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ là 107,5%, ngành nông nghiệp có tốc độ
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
7
tăng thấp nhất chỉ là 69%. Nếu so với năm 2005 thì công nghiệp tăng 21%,
dịch vụ tăng 19,32%, còn nông nghiệp chỉ tăng 18,66%. Những kết quả đó đã
chứng minh cho nhận định ban đầu, hoàn toàn phù hợp vói xu thế phát triển
kinh tế xã hội.
Biểu đồ 1 : Cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế
(Giá thực tế) (%)
27%
43%
30%
Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản Công nghiệp, xây dựng
Dịch vụ
Năm 2001 Năm 2006
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương
Qua mô hình trên ta thấy cơ cấu kinh tế của tỉnh Hải Dương phát triển
theo hướng tích cực, tỷ trọng nông lâm thuỷ sản – công nghiệp + xây dựng -
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
33%
38%
29%
Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản Công nghiệp, xây dựng
Dịch vụ
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
8

% mục tiêu. Trong đó:
* Tổng nguồn vốn trong nước là 17.811 tỷ đồng, chiếm 84,3% tổng
vốn đầu tư, đạt 163,2 % so với mục tiêu chương trình, bao gồm
- Vốn đầu tư từ Ngân sách Trung ương 2.597,5 tỷ đồng chiếm 13,1%
tổng vốn đầu tư
- Vốn ngân sách địa phương là 2006, 6 tỷ đồng chiếm 8,8% tổng vốn
đầu tư
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển 8.905 tỷ đồng, chiếm 42,2% tổng vốn
đầu tư
- Vốn dân doanh 3.625 tỷ đồng, chiếm 17,2 % tổng vốn đầu tư
* Vốn nước ngoài (FDI, ODA, NGOs) 3.310,5 tỷ đồng, chiếm 15,7%
tổng vốn đầu tư.
Bảng 1.2: Đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Đ/v: tỷ đồng
Chỉ tiêu Thời kỳ 2001 - 2005 Tổng số
2001 2002 2003 2004 2005 2001-2005 2006
Tổng đầu tư toàn xã hội 3211 3546 4082 4890 5391 21121 5675
1. Vốn đầu tư NSNN 499 585 912 1052 1310 4538 1320
Tỷ lệ % so với tổng VĐT 15.5 16.5 22.3 21.5 24.3 20.6 23.3
2. Vốn tín dụng ĐTPTNN 2177 2059 1310 1433 1926 8905 2010
Tỷ lệ % so với tổng VĐT 67.8 58.1 32.1 29.3 35.7 42.2 35.4
3. Vốn đầu tư DNNN 92 130 190 205 305 922 355
Tỷ lệ % so với tổng VĐT 2.9 3.7 4.7 4.2 5.7 4.4 6.3
4. Dân cư và DN ngoài QD 325 400 800 850 1250 3625 1280
Tỷ lệ % so với tổng VĐT 10.1 11.3 19.6 17.4 23.2 17.2 22.6
5. Đầu tư trực tiếp NN 118.5 372 870 1350 600 3310.5 710
Tỷ lệ % so với tổng VĐT 3.7 10.5 21.3 27.6 11.1 15.7 12.5
Nguồn: “ Số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Dương ”
Tổng đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hải Dương ngày càng tăng
qua các năm, từ 3211 tỷ năm 2001 đến năm 2006 là 5675 tỷ, điều đó thể hiện

Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
11
1,991,6 tỷ đồng ( chiếm 18,2%), vốn tài trợ 375,7 tỷ đồng (chiếm 3,4%), vốn
tín dụng 3.149,3 tỷ đồng (chiếm 28,8%), vốn dân doanh 2.969,2 tỷ đồng
(chiếm 27,1%).
Hầu hết các lĩnh vực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng có vốn đầu tư
vượt so với mục tiêu đề ra. Một số lĩnh vực có vốn đầu tư lớn như: nông-lâm-
thuỷ sản 950,6 tỷ đồng (chiếm 8,7%), giao thông 2584,1 tỷ đồng (chiếm
23,6%), điện 625 tỷ đồng( chiếm 5,7%), cấp thoát nước 1.117,8 tỷ đồng
(chiếm 10,2%), hạ tầng công nghiệp 851,7 tỷ đồng (chiếm 7,8%).
Một số lĩnh vực được quan tâm đầu tư là: chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
cơ giới hoá nông nghiệp, phát triển đô thị và nhà ở, an ninh quốc phòng với
tổng vốn đầu tư 1.933,0 tỷ đồng (chiếm 17,7%) tổng vốn đầu tư.
Tuy nhiên, một số lĩnh vực không đạt mục tiêu về mặt khối lượng như:
tu bổ đê điều, làm đường giao thông (đường tỉnh, đường huyện). Vốn đầu tư
cho một số lĩnh vực đạt thấp như: điện (bằng 87% mục tiêu đề ra), văn hoá-xã
hội, thể dục thể thao (bằng 55% mục tiêu đề ra), khoa học công nghệ và vệ
sinh môi trường (bằng 48% mục tiêu đề ra)…
Bảng 1.3: Vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản trong tổng vốn đầu tư phát
triển và tổng chi ngân sách.
Đơn vị: tỷ đồng
Năm 2002 2003 2004 2005 2006
Chi ngân sách 1.093 1.485 2.256,3 2.237 2.552
Tỷ lệ % 100 100 100 100 100
Chi ĐTPT 224,4 294 584,7 1.047,99 1.267,5
Tỷ lệ % 20,53 19,79 25,9 46,84 49,66
Chi XDCB 198,7 292 532 646 953,6
Tỷ lệ % 18,17 19,66 23,57 28,87 37,37
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương

công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội vùng,lãnh thổ…
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
13
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Nguồn vốn này có tác
dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước.
Vói cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên
tắc hoàn trả vốn vay. Bên cạnh đó vốn tín dụng đầu tư của nhà nước còn phục
vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vì mô.
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước: Là nguồn vốn đầu tư của
các doanh nghiệp nhà nước độc lập với ngân sách nhà nước, ngân sách địa
phương nơi đặt địa bàn của doanh nghiệp đó.
2.2, Vốn ngân sách địa phương
Đây là nguồn vốn của địa phương tích luỹ được từ các khoản thuế, phí..
sau khi đã nộp ngân sách trung ương. Nguồn vốn này cũng chủ yếu được dùng
để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của tỉnh, chi cho công tác lập và
thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, quy
hoạch xây dựng thành thị và nông thôn…
2.3, Nguồn vốn nước ngoài
Gồm:
Tài trợ phát triển chính thức (ODF): Nguồn này bao gồm viện trợ phát
triển chính thức (ODA) và các hình thức tài trợ phát triển khác.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đây là nguồn vốn quan
trọng cho đầu tư và phát triển, có tác dụng to lớn đối với quá trình công
nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh. Hơn nữa,
đóng góp cho ngân sách của khu vực đầu tư nước ngoài cũng rất đáng kể.
Nguồn vốn nước ngoài cũng góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh hệ thống
cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông…
2.4. Nguồn vốn tư nhân

giải những con số này như sau: năm 2003 là năm diễn ra sự kiện SeaGames
22 được tổ chức tại Việt Nam, và tỉnh Hải Dương là nơi diễn ra môn thi đấu
bóng bàn, một môn thể thao dẫn hấp dẫn và là môn thể thao truyền thống của
Hải Dương. Chính vì sự kiện trên mà hoạt động xây dựng cơ bản trên địa bàn
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
15
tỉnh Hải Dương năm 2003 đã có bước chuyển mình mạnh mẽ với sự quan tâm
đầu tư của Trung ương cho việc cải tạo lại hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn
thành phố Hải Dương. Cho nên trong tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước
năm 2003 thì ngân sách trung ương chiếm tỷ trọng lớn, gấp hơn 2 lần so với
ngân sách địa phương. Đây cũng là năm tỉnh Hải Dương đạt mức kỷ lục trong
thu hút đầu tư nước ngoài sau nhiều năm trì trệ trước đó do cơ chế chính sách
chưa thông thoáng, cho nên tổng vốn đầu tư từ nước ngoài là 870 tỷ, chủ yếu
là xây dựng cơ sở hạ tầng các dự án đầu tư và mua sắm, lắp đặt máy móc thiết
bị phục vụ cho sản xuất kinh doanh.
Năm 2004, 2005, 2006 là 3 năm Thành phố Hải Dương thực hiện quy
hoạch mở rộng về phía đông và phía tây, cho nên đầu tư cho xây dựng kết cấu
hạ tầng rất lớn cho nên mọi nguồn vốn đều được huy động tối đa phục vụ cho
hoạt động xây dựng cơ bản. Do đó, mọi nguồn vốn huy động đều tăng chỉ có
vốn từ trung ương và vốn của các doanh nghiệp nhà nước là có tỷ lệ giảm dần
qua các năm. Tỷ trọng vốn trung ương giảm là do tỷ lệ phân bổ của chính phủ
giảm, phù hợp với xu hướng giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.
vốn của các doanh nghiệp nhà nước giảm là do việc xây dựng cơ bản đã hoàn
thành từ các năm trước và nay chỉ có hoạt động sản xuất; hơn nữa muốn đầu
tư xây dựng mới thì phải đựoc sự cho phép của Chính phủ trong khi phần lớn
các Doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện nay hoạt động
thực sự chưa có hiệu quả. Cho nên không thực sự cần thiết phải xây dựng cơ
bản mới mà nên tập trung vào mua sắm, cải tạo máy móc, thiết bị phục vụ cho
sản xuất kinh doanh.

Nhìn chung thì nhu cầu vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản trên điạ bàn
tỉnh Hải Dương là rất lớn. Các nguồn lực huy động mới chỉ đáp ứng được cơ
bản nhu cầu. Vì vậy, trong thời gian tới cần tăng cường các biện pháp thu hút
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
17
vốn cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội.
Bảng 1.6: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB phân theo nguồn vốn
(%)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Ngân sách nhà nước 6,7 13,1 23,8 19,0 17,5 14,1
Trung ương quản lý 2,6 6,3 17,0 2,4 1,9 1,5
Địa phương quản lý 4,1 6,8 6,8 16,6 15,6 12,7
Vốn tín dụng 2,0 9,7 6,4 19,0 17,9 14,5
Vốn đầu tư của các DNNN 0,7 0,9 5,7 0,4 0,3 0,1
Vốn dân doanh 15,3 32,3 23,7 41,5 46,4 42,8
Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài 1,3 14,6 26,7 9,1 17,9 14,3
Vốn khác 74,0 29,4 13,7 11,0 - -
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương
Ta thấy nguồn vốn ngân sách nhà nước tuy có xu hướng giảm nhưng
vẫn chiếm một tỷ trong tương đối lớn trong cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ
bản, cao nhất là 23,8% năm 2003 sau đó giảm dần còn 19% năm 2004, 14,1%
năm 2006, thấp nhất là năm 2001 chỉ chiếm 6,7% tổng vốn đầu tư. Trong cơ
cấu vốn ngân sách thì lại có một xu hướng ngược lại, mặc dù vốn ngân sách
có xu hướng giảm qua các năm nhưng nguồn vốn ngân sách địa phương lại có
xu hướng tăng dần qua các năm song song đó đương nhiên là sự sụt giảm của
vốn trung ương trong cơ cấu. Điều này chứng tỏ được nội lực kinh tế của tỉnh
Hải Dương, thể hiện qua sự tích lũy hàng năm tăng lên cho nên số vốn đầu tư

thiện, có sự tăng trưởng cả về kinh tế - xã hội, và nâng cao đời sống nhân dân
cho nên nguồn vốn viện trợ có xu hướng giảm là hợp lý.
Tuy có sự tăng giảm tỷ trọng khác nhau trong các loại nguồn vốn nhưng
có thể khẳng định là vốn huy động cho xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Hải
Dương đã có một mức tăng tương đối cao, và việc huy động vốn tương đối
hiệu quả. Nhu cầu về vốn chắc chắn sẽ còn tăng cao trong các năm tới cùng
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
19
với việc quy hoạch mở rộng thành phố Hải Dương và 11 huyện. Do đó vấn đề
đặt ra là các biện pháp huy động vốn cụ thể, và sử dụng vốn có hiệu quả, tránh
đầu tư dàn trải, hạn chế thất thoát lãng phí trong xây dựng cơ bản để có thể
hoàn thành được khối lượng xây dựng lớn trong những năm tới.
3, Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo lĩnh vực đầu tư.
Bảng 1.7: Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giai
đoạn 2001-2006 trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Đơn vị: triệu đồng
Lĩnh vực đầu tư
Tổng vốn
đầu tư Vốn TW
Vốn NS
địa
phương
Vốn
nước
ngoài
Vốn tín
dụng
Vốn dân
doanh

Cũng từ bảng trên ta thấy nguồn vốn ngân sách của trung ương và địa
phương được giải đều hầu như cho khắp các lĩnh vực đầu tư trong đó tập trung
cho một số lĩnh vực chủ chốt là nông-lâm-thuỷ sản, giao thông, điện, giáo dục,
y tế; nếu như nguồn vốn ngân sách trung ương tập trung cho lĩnh vực giao
thông, điện, là những lĩnh vực tạo ra hạ tầng cho phát triển kinh tế và cho đầu
tư phát triển các ngành dịch vụ thì nguồn vốn ngân sách địa phương lại bị chia
nhỏ hơn cho nông-lâm-thuỷ sản, y tế, giáo dục.. nói chung là nhằm xây dựng
hạ tầng ở hầu khắp các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh. Trong khi đó nguồn vốn vay
tín dụng lại chủ yếu tập trung vào lĩnh vực giao thông, cấp thoát nước, hạ tầng
công nghiệp, đây là những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn và là những lĩnh
vực thiết yếu nhằm xây dựng hạ tầng cơ sở cần thiết cho phát triển kinh tế, xã
hội.
Nguồn vốn của khu vực dân cư thì lại tập trung vào các lĩnh vực giao
thông chủ yếu là xây dựng đường làng, xã, thôn và tập trung đầu tư vào lĩnh
vực dịch vụ phục vụ cho khu vực kinh tế dịch vụ của tư nhân; một phần nữa là
tập trung vào xây dựng nhà ở trong các khu đô thị.
Nguồn vốn nước ngoài thì lại tập trung đầu tư cho cấp thoát nước. Đây
chủ yếu là nguồn vốn ODA tài trợ cho tỉnh Hải Dương nhằm xây dựng một
nhà máy nước sạch mới và cải tạo hệ thống thoát nước của thành phố.
Bảng 1.8: So sánh kết quả huy động vốn đầu tư XDCB với mục tiêu
Đơn vị: Triệu đồng
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
21
Lĩnh vực đầu tư Mục tiêu Kết quả thực hiện
So sánh
(%)
Tổng số 5950000 10943400 1,84
Nông - lâm - thuỷ sản 830000 950600 1,15
Giao thông 1900000 2584100 1,36

triển hạ tầng công nghiệp của tỉnh nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn nữa các
dự án đầu tư vào tỉnh. Đứng thứ hai là Cấp thoát nước với kết quả thực hiện
đạt 2,6 lần so với mục tiêu. Đây cũng là một chương trình mục tiêu của tỉnh
phấn đấu đến năm 2010 sẽ có 90% dân số được sử dụng nước sạch với việc
đầu tư xây dựng nhà máy nước mới do Nhật tài trợ, bên cạnh đó là việc nâng
cấp hệ thống thoát nước và xử lý nước cũ trong thành phố và xây mới hệ
thống thoát nước trong khu đô thị mới ở phía Đông và phía Tây thành phố.
Cũng cần phải nhắc tới lĩnh vực phát triển đô thị và nhà ở, tuy không
đặt ra mục tiêu cụ thể về huy động vốn nhưng kết quả đạt được là rất khả quan
với lượng vốn huy động đạt được chỉ đứng sau ngành giao thông. Điều này
chứng tỏ tốc độ phát triển đô thị mới của Hải Dương là rất cao với hai khu đô
thị mới mở rộng ở phía Đông và phía Tây thành phố Hải Dưong đã được quy
hoạch và tiến hành triển khai xây dựng. Phát triển đô thị cũng là một chương
trình mục tiêu nhằm nâng cấp thành phố Hải Dưong lên thành thành phố loại
II. Vốn huy động được bao gồm một phần là vốn ngân sách, phần lớn là vốn
vay tín dụng và phần còn lại là vốn của khu vực dân doanh.
Một số ngành còn lại cũng có kết quả đạt được tương đối cao so với
mục tiêu là vốn huy động cho các ngành dịch vụ, giáo dục đào tạo và y tế.
4, Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo cấu thành.
Quy mô vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo cấu thành nhìn chung tăng
nhanh qua các năm, đặc biệt trong các năm gần đây, chủ yếu tập trung ở xây
lắp và thiết bị. Vốn cho xây dựng cơ bản khác nói chung không ổn định,
nhưng thường có quy mô nhỏ so với 2 loại hình kia
Bảng 1.9: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo cấu thành
Đơn vị: triệu đồng
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Xây lắp 1,602,292 1,441,330 2,450,608 3,005,995 2,396,608 3,233,764
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
23

Thiết bị 53,34 27,25 20,7 24,53 43,58 42,23
Xây dựng cơ bản khác 9,34 11,4 3,98 3,17 4,62 4,17
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dưong
Nhìn vào cơ cấu vốn ta có thể thấy tỷ trọng của lĩnh vự xây lắp chiếm
tỷ trọng lớn như thế nào trong tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, thấp nhất là
37,32% năm 2001, cao nhất là 75,32% năm 2003 là một trong những năm đầu
tư trọng điểm của tỉnh Hải Dương sau đó có giảm đi và đạt 53,6% năm 2006.
Tỷ trọng vốn cho thiết bị đạt cao nhất là 53,34% năm 2001, giảm mạnh
trong các năm 2002-2004 sau đó tăng lên 43,58% năm 2005, 42,23% năm
2006 gần bằng tỷ trọng của xây lắp. Lý giải cho điều này đó là do cứ sau mỗi
một cao điểm của chu kỳ đầu tư với sự gia tăng ồ ạt của các công trình xây
dựng và sau khi các hạng mục cơ bản đã hoàn thành, các công trình (sản xuất)
chuẩn bị bước vào giai đoạn vận hành, sản xuất ( nhất là các dự án đầu tư
trong khu công nghiệp) thì cần phải lắp đặt máy móc thiết bị cho nên khối
lượng vốn đầu tư cho hạng mục này sẽ gia tăng.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản khác là chi phí cho gíai đoạn chuẩn bị đầu
tư, chi phí cho ban quản lý dự án và chi phí đào tạo công nhân kỹ thuật, phần
chi phi này thường chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ so với 2 hạng mục kia, đạt
cao nhất là 11,34% năm 2002, thấp nhất là 3,17% năm 2004. Nói chung
nguồn vốn này cao hay thấp hàng năm dẫn đến tỷ trọng cao hay thấp tưong
ứng trong cơ cấu vốn là tuỳ thuộc vào nhu cầu thực tế của từng năm và một số
điều kiện khách quan khác.
5, Vốn đầu tư xây dựng cơ bản phân theo khu vực
Theo tiêu đề này vốn đầu tư xây dựng cơ bản sẽ dược phân theo 3 khu
vực là nông-lâm nghiệp- thuỷ sản, công nghiệp-xây dựng và dịch vụ.
Bảng 1.11: Vốn đầu tư XDCB phân theo khu vực
Nguyễn Trung Kiên - Lớp KTĐT 45B
Chuyên đề tốt nghiệp: Tình hình đầu tư XDCB tỉnh Hải Dương
25
Đơn vị: triệu đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status